Sau một quá trình học tập và rèn luyện tại trường
Đại học Nông Lâm, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ học tập
của mình và tiếp thu được một lượng kiến thức nhất
định. Để có được kết quả đó, ngoài sự nổ lực phấn đấu
của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các tổ
chức, cá nhân. Tôi xin chân thành cảm ơn:
Quý thầy cô khoa Khuyến Nông và Phát Triển Nông
Thôn đã giảng dạy, cung cấp cho tôi những kiến thức
trong suốt 4 năm học vừa qua, tạo điều kiện cho tôi
học tập và nghiên cứu. Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm
ơn sâu sắc đến cô giáo - TS. Lê Thị Hoa Sen đã định
hướng và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận
tốt nghiệp này.
UBND xã Quảng Lợi và UBND xã Phú Đa và các HTXNN
trên địa bàn 2 xã đã tạo điều kiện cho tôi thu thập
các thông tin thứ cấp và sơ cấp phục vụ cho khóa luận
tốt nghiệp.
Gia đình bà Nguyễn Thị Phương thôn Thủy Lập -
Quảng Lợi - Quảng Điền – Thừa Thiên Huế và gia đình
bà Phan Thị Thủy thôn Lương Viện - Phú Đa - Phú Vang
- Thừa Thiên Huế đã tạo điều kiện cho tôi ăn, ở,
nghiên cứu và học tập trong suốt thời gian thực tập
tại địa phương.
Gia đình và bạn bè đã động viên tôi trong suốt
quá trình nghiên cứu, học tập để hoàn thành khóa luận
này.
Tuy bản thân tôi đã hết sức cố gắng trong suốt
quá trình thực tập nhưng do thời gian, kiến thức,
kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế nên đề tài không
tránh được những sai sót. Kính mong nhận được sự giúp
đỡ, đóng góp ý kiến và chỉ dẫn thêm của các thầy cô
2.1.1.1 Biến đổi khí hậu và thích ứng với biến đổi khí hậu 8
2.1.1.2 Biến đổi khí hậu - diễn biến và xu thế ở Việt Nam 11
2.1.2 Một số vai trò của khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp 12
2.1.2.1 Tác động của các yếu tố khí hậu đối với cây trồng, vật nuôi 12
2.1.2.2 Tác động của các yếu tố khí hậu đối với các đối tượng thủy sản 13
2.2 Cơ sở thực tiễn 15
2.2.1 Tác động của BĐKH đến ngành nông nghiệp Thừa Thiên Huế 15
2.2.1.1 Khí hậu và BĐKH tại Thừa Thiên Huế 15
2.2.1.2 Kịch bản BĐKH Thừa Thiên Huế 16
2.2.1.3 Tác động của BĐKH đến ngành nông nghiêp và phát triển nông thôn 17
2.2.2 Tác động của BĐKH đối với vùng cát ven biển 19
2.2.3 Thích ứng với BĐKH ở các nước trên thế giới 20
2.2.4 Thích ứng với BĐKH trong sản xuất nông nghiêp 21
PHẦN 3: NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 23
3.2 Nội dung nghiên cứu 23
3.3 Phương pháp nghiên cứu 24
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 24
3.3.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp 24
3.3.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp 24
3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 25
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu 27
4.1.1. Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu 27
4.1.1.1. Vị trí địa lý 27
4.1.1.2 Đặc điểm địa hình 29
4.1.1.3 Điều kiện khí hậu vùng nghiên cứu 30
nghiên cứu 71
4.5 Giải pháp nâng cao khả năng thích ứng với hán hán và rét cho người dân trong sản xuất
nông nghiệp 75
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
5.1 Kết luận 78
5.2. Kiến nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
4
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Tình hình khí hậu của hai xã nghiên cứu năm 2010 30
Bảng 4.2: Tình hình sử dụng đất của hai xã nghiên cứu năm 2010 31
Bảng 4.3: Một số chỉ tiêu xã hội chính của hai xã nghiên cứu năm 2010 32
Bảng 4.4: Tỷ trọng các nguồn thu của hai xã nghiên cứu năm 2010 33
Bảng 4.5: Một số chỉ tiêu về nguồn nhân lực của các hộ khảo sát 34
Bảng 4.6: Cơ cấu cây trồng của các hộ khảo sát năm 2011 34
Bảng 4.7: Cơ cấu vật nuôi của các hộ khảo sát năm 2011 35
Bảng 4.8: Cơ cấu nuôi trồng thủy sản của các hộ khảo sát năm 2011 36
Bảng 4.9: Quan điểm của người dân về xu thế của biến đổi khí hậu tại
xã Quảng Lợi 38
Bảng 4.10: Quan điểm của người dân về xu thế của biến đổi khí hậu tại xã Phú Đa 39
Bảng 4.11: Diện tích và năng suất các loại cây trồng tại hai xã nghiên cứu năm 2010 40
Bảng 4.12: Cơ cấu vật nuôi ở hai xã nghiên cứu năm 2010 41
Bảng 4.13 Tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn 2 xã năm 2010 42
Bảng 4.14: Tỷ lệ hộ khảo sát bị ảnh hưởng của hạn hán đến đất SXNN 43
Bảng 4.15: Tác động của hạn hán đến các loại cây trồng 44
Bảng 4.16: Quan điểm của người dân về tác động của hạn đến năng suất các loại cây trồng 45
Bảng 4.17: Quan điểm của người dân về tác động của hạn hán đến dịch bệnh của vật nuôi (Tỷ
lệ % số hộ trả lời) 49
Bảng 4.18: Ảnh hưởng của hạn hán đến năng suất vật nuôi của
các hộ nghiên cứu (Tỷ lệ % số hộ trả lời) 50
là cấu trúc đất nghèo dinh dưỡng. Bên cạnh đó, khu vực ven biển của tỉnh Thừa
Thiên Huế là vùng chịu ảnh hưởng nặng nề của xói mòn đất do 2 yếu tố gió và
nước. Trong đó, xói mòn do gió xảy ra chủ yếu vào mùa khô từ tháng ba đến
tháng chín hàng năm còn xói mòn do nước thì thường xảy ra từ tháng chín đến
tháng mười hai hàng năm. Nó gây ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp
của các cộng đồng dân cư sống ở đây và các cộng đồng người dân xung quanh
đó.
Trong những năm gần đây, khí hậu toàn cầu đã thay đổi và các thay đổi
đó do hiện tượng tự nhiên cũng như do các hoạt động của con người gây nên
[20]. Những thay đổi này biểu hiện rất rõ qua các hiện tượng thời tiết cực đoan
như lũ lụt, hạn hán, bão, sóng thần. Đặc biệt, những thay đổi này phần lớn ảnh
hưởng đến hoạt động sản xuất, xã hội và môi trường một cách tiêu cực [21].
Biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng đến các vùng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên
Huế. Biến đổi khí hậu đã làm gia tăng tần suất và cường độ của các cơn bão, lốc
xoáy, lũ lụt, hạn hán, xói mòn đất… gây ảnh hưởng đến sản xuất của người dân,
làm cho việc trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản đặt năng suất thấp và
kém phát triển [13].
Cần phải có các chiến lược trong sản xuất nông nghiệp để đảm bảo an ninh
lương thực. Trước tiên cần có chiến lược thích ứng để có thể ngăn ngừa các tác
động tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp về chi phí, năng
suất, chất lượng và đầu vào. Thứ hai, với sự giúp đỡ của các chiến lược thích ứng,
nông dân có thể duy trì và tăng năng suất cây trồng, vật nuôi cho người dân nông
thôn. Thứ ba, các chiến lược này cũng rất quan trọng bởi vì nó có thể đảm bảo an
ninh lương thực cho người dân nông thôn cũng như người dân đô thị trong bối
cảnh biến đổi khí hậu. Vì thế, cần phải có chiến lược thích ứng với biến đổi khí
6
hậu trong sản xuất nông nghiệp cho người dân ven biển để đảm bảo vấn đề an
ninh lương thực người dân nông thôn và thành thị.
Việt Nam cũng đã có những chiến lược để thích ứng với biến đổi khí hậu
như: Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về biến
đổi của khí hậu theo thời gian do sự thay đổi tự nhiên hoặc kết quả hoạt động
của con người [23]. Với định nghĩa này, nguyên nhân của biến đổi khí hậu là do
chính bản thân của điều kiện tự nhiên, nội tại của nó hoặc là do bên ngoài tác
động vào.
Tuy nhiên, Công ước khung về biến đổi khí hậu (UNFCCC) lại cho rằng
biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu mà nguyên nhân là sự tác động trực
tiếp hoặc gián tiếp của con người dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn
cầu và tạo ra thay đổi của biến thiên khí hậu tự nhiên được quan sát qua thời
gian [27]. Ngoài ra, nghiên cứu của O'Brien và cộng sự: biến đổi khí hậu là hiện
tượng tự nhiên nhưng cũng tăng tốc bởi các hoạt động của con người [25]. Hai
định nghĩa này đều chỉ rõ biến đổi khí hậu là hiện tượng tự nhiên nhưng có sự
góp mặt của con người.
Còn nghiên cứu của ISDR (2008), đưa ra khái niệm biến đổi khí hậu rõ
ràng hơn đó là: biến đổi khí hậu là sự biến động giữa năm này và năm khác
được ghi nhận qua các số liệu thống kê của các điều kiện bất thường như: bão,
lụt, hạn hán bất thường [24]. Quan điểm ở đây về biến đổi khí hậu chính là sự
ghi nhận lại những hiện tượng bất thường theo thời gian. Mốc đánh dấu thời
gian biến đổi khí hậu từ 30 năm trở lên.
*Khái niệm thích ứng với biến đổi khí hậu
Khí hậu đã và đang biến đổi và có những tác động tiềm tàng, bất lợi đến
phát triển, vì thế sự thích ứng trở nên ngày càng quan trọng. Thích ứng là một
khái niệm rất rộng và khi áp dụng vào lĩnh vực biến đổi khí hậu nó được dùng
trong rất nhiều trường hợp.
Đối với IPCC (1996) cho rằng: Khả năng thích ứng đề cập đến mức độ
điều chỉnh có thể trong hành động, xử lý, cấu trúc của hệ thống đối với những
biến đổi dự kiến có thể xảy ra hay thực sự đã và đang xảy ra của khí hậu. Sự
thích ứng có thể là tự phát hay được chuẩn bị trước [22]. Như vậy, ở đây vấn đề
8
thích ứng được nói đến chính là mức độ điều chỉnh với biến đổi cả về tính tự
phát hay chuẩn bị trước.
sẽ có nhiều triển vọng đạt hiệu quả cao trong việc giảm tổn thất cả trước mắt và
lâu dài, khi tiềm lực hiện nay của nước ta có thể đáp ứng được.
*Các phương thức thích ứng với biến đổi khí hậu
Có rất nhiều phương pháp thích nghi có khả năng được thực hiện trong
việc đối phó với BĐKH. Bản báo cáo đánh giá thứ 2 của nhóm công tác IPCC 2
9
đề cập và miêu tả 228 phương pháp thích nghi khác nhau (IPCC, 1995). Cần
phải phân loại các phương pháp thích nghi với BĐKH để áp dụng. Một cách
phân loại thường dùng, chia các phương pháp thích nghi ra làm 8 nhóm
(Burtonet al.,1993):
Chấp nhận tổn thất: là phương pháp thích nghi với biểu hiện cơ bản là
không làm gì cả ngoại trừ chịu đựng hay chấp nhận tổn thất. Trên lý thuyết,
chấp nhận tổn thất xảy ra khi phải chịu đựng tác động mà không có khả năng
chống chội bằng bất cứ cách nào (ví dụ như ở tầng lớp nghèo) hay là những nơi
mà giá phải trả cho các hoạt động thích nghi là cao so với sự rủi ro hay là những
thiệt hại.
Chia sẽ tổn thất: loại phản ứng này liên quan đến việc chia sẽ những
tổn thất giữa một cộng đồng dân cư lớn. Với một sự phân bố khác, các xã hội
lớn chia sẽ những tổn thất thông qua cứu trợ cộng đồng, phục hồi và tái thiết
thông qua viện trợ của các quỹ cộng đồng. Chia sẽ tổn thất cũng có thể được
thực hiện thông qua bảo hiểm xã hội.
Làm giảm sự nguy hiểm: một hiện tượng tự nhiên như là bão lụt hay
hạn hán, những phương pháp thích hợp là gồm các công tác kiểm soát lũ lụt (đắp
đập, đào mương, đắp đê). Đối với BĐKH, điều chỉnh thích hợp làm chậm tốc độ
BĐKH bằng cách giảm khí phát thải nhà kính và cuối cùng là ổn định nồng độ
của khí nhà kính trong khí quyển.
Ngăn chặn các tác động: thường xuyên sử dụng các phương pháp thích
nghi từng bước một để ngăn chặn tác động của BĐKH và sự cố dao động khác. Ví
dụ trong lĩnh vực nông nghiệp, thay đổi trong thực hiện quản lý mùa vụ như là tăng
cường việc tưới tiêu, chăm bón thêm, kiểm soát côn trùng và sâu bọ gây hại.
Nhiệt độ: theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua (1951 đến
2000) nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam đã tăng lên 0,7
0
C. Nhiệt độ trung bình
năm của 4 thập kỷ gần đây (1961 đến 2000) cao hơn trung bình của 3 thập kỷ
trước đó (1931 đến 1960). Những năm gần đây, số ngày nắng đã tăng lên ở nhiều
nơi rõ rệt nhất là các tỉnh phía Nam, phù hợp với xu thế tăng nhiệt độ [8].
Không khí lạnh: trong những năm gần đây do xu thế nhiệt độ nóng lên
toàn cầu và BĐKH, số đợt không khí lạnh tràn về nước ta cũng giảm đi nhưng
cường độ và diễn biến bất lợi hơn so với quy luật thường thấy [5].
Một biểu hiện dị thường gần đây nhất về khí hậu là không khí lạnh có xu
hướng lệch về phía Đông, do đó ảnh hưởng đến phía Nam nước ta nhiều hơn dù
cường độ không lớn [5], [6].
Bão và áp thấp nhiệt đới: bão ở Việt Nam thường bắt đầu từ tháng 5
và kết thúc vào tháng 12. Tuy nhiên, trong những năm gần đây mùa bão
thường kết thúc muộn hơn (tháng 1 đến tháng 2 năm sau). Hơn nữa số cơn
bão có cường độ mạnh hơn, quỹ đạo dịch chuyển dần về vĩ độ phía Nam và
nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường và trái quy luật của bão và áp
thấp nhiệt đới đã xảy ra ở Việt Nam nhiều hơn trong những năm qua [6], [7],
[10].
11
Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung
bình trong 9 thập kỷ vừa qua (1911 đến 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và
trên các vùng khác nhau, có giai đoạn tăng lên nhưng cũng có giai đoạn giảm
xuống [8 ]. Số trận mưa lớn diễn ra ngày một nhiều hơn nhưng thời gian có mưa
ngắn lại. Điều đáng quan tâm là, trong một vài năm gần đây, mưa lớn có thể
xuất hiện ở bất cứ tháng nào trong năm và mưa cực lớn vẫn có thể xảy ra vào
các tháng ít mưa [9 ], [10], [15].
Mực nước biển: theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở các
trạm Cửa Ông và Hòn Dấu, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng 20
vào năm 2100 [12].
2.1.2 Một số vai trò của khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp
2.1.2.1 Tác động của các yếu tố khí hậu đối với cây trồng, vật nuôi
*Vai trò của bức xạ mặt trời
Năng lượng bức xạ mặt trời là nguồn năng lượng đầu tiên trong chuổi
chuyển hóa năng lượng của các sinh vật, quyết định sự sống của các thực vật và
chi phối các yếu tố thời tiết khí hậu của mỗi vùng. Các loại sinh vật sử dụng
năng lượng bức xạ mặt trời để phân ly nước, giải phóng O
2
.[H
2
] sản sinh trong
pha sáng để thành sản phẩm quang hợp. Độ dài chiếu sang có ảnh hưởng rất lớn
12
đến đời sống cây trồng và vật nuôi, đặc biệt là tới phát dục của chúng. Phản ứng
quang chu kỳ của thực vật đã được ứng dụng để điều chỉnh tỷ lệ ra hoa, để tăng
năng suất cây trồng. Đối với động vật, một số loài cũng có phản ứng với quang
chu kỳ thể hiện ở hoạt động sinh dục và tốc độ sinh trưởng [2].
*Vai trò của nhiệt độ
Chế độ nhiệt có vai trò quan trọng trong đời sống sinh vật vì nó là tác
nhân môi trường trực tiếp, ảnh hưởng tới nhịp điệu sống, các quá trình sinh
trưởng và phát triển của sinh vật. Nhiệt độ có vai trò quyết định tốc độ phát dục
của sinh vật, ví dụ nhiệt độ càng cao càng rút ngắn thời gian sinh trưởng, phát
dục của cây trồng. Nhiệt độ đất là yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quá trình sinh
trưởng và hình thành năng suất của sinh vật [2].
*Vai trò của chế độ mưa và ẩm
Độ ẩm có ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống sinh vật. Trước hết, độ ẩm
ảnh hưởng đến quá trình thoát hơi nước ở bề mặt da và bề mặt lá động thực vật.
Vào thời kỳ thụ phấn độ ẩm ảnh hưởng tới sức nảy nầm của hạt phấn. Độ ẩm
còn có ý nghĩa trong bảo quản nông sản. Độ ẩm cao còn ảnh hưởng tới khả năng
thủy sản vì nhiệt độ ảnh hưởng đến đời sống của các loài sinh vật làm thức ăn
cho các đối tượng thủy sản trong thủy vực [2].
* Yếu tố hạn hán và lũ lụt
Nguồn nước là một trong những yếu tố quyết định cho sự thành công
trong phát triển nuôi trồng thủy sản. Hiện tượng nắng nóng kéo dài đã làm cạn
kiệt nguồn nước ngọt, làm tăng mức độ bốc hơi nước trong các ao nuôi. Đối với
các ao nuôi gần nguồn cung cấp nước hoặc nuôi lồng bè trong vực nước lớn
(sông suối, biển) thì ảnh hưởng này không lớn, nhưng đối với ao nuôi cách xa
nguồn nước thì nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng. Miền Trung
là nơi có số ngày nắng, mức độ bốc hơi nước lớn nhất cả nước, cho nên hạn hán
xảy ra nghiêm trọng nhất. Nhiều ao nuôi tôm cá đã bị bỏ hoang vì không có
nước để cung cấp trong quá trình nuôi. Một số ao nuôi chưa đến thời gian thu
hoạch đã bị cạn kiệt nguồn nước trong ao, nên người dân phải thu hoạch sớm
hoặc bỏ nuôi. Tôm cá chưa đến kích thước thương phẩm bán với giá quá rẻ hoặc
làm thức ăn cho gia súc và gia cầm.
Nắng lắm ắt phải mưa nhiều, gây ra hiện tượng lũ lụt ở nhiều nơi. Lũ lụt
đã ảnh hưởng rất nghiêm trọng ở nhiều địa phương trong cả nước. Nhiều nơi có
thể được xem là nơi thuận lợi phát triển nếu hiện tượng khô hạn xảy ra, nhưng
chính nơi đây là nơi dễ bị rủi ro nhất nếu lũ lụt xảy ra. Khô hạn có thể cung cấp
nước, nhưng lũ lụt thì rất khó chống. Nhiều ao nuôi đã được chuẩn bị đê bao
kiên cố, cao để chống nước dâng cao vào mùa mưa, nhưng không thể chống
được lũ lụt. Đối với nghề nuôi thủy sản mặn lợ, độ mặn lại là yếu tố ảnh hưởng
rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của loài nuôi. Khi xảy ra mưa lớn, độ mặn
trong các ao nuôi giảm xuống đột ngột vượt ra khỏi ngưỡng chịu đựng làm cho
tôm cá bị sốc, chết hoặc chậm lớn. Lũ xảy ra còn làm cho độ mặn các vực nước
gần bờ như các cửa sông giảm xuống, nghề nuôi nhuyễn thể, tôm cá, rong đề bị
ảnh hưởng nghiêm trọng [16].
*Hiện tượng giông, bão
14
Do nằm trong vành đai nhiệt đới nên Việt Nam phải chịu ảnh hưởng của
tháng 12 hoặc tháng 1 năm sau. Trong mùa này, có những trận mưa liên tục kéo
dài. Những tháng giữa mùa mưa, đặc biệt là tháng 9 và tháng 10 có mưa rất to
và kéo dài.
Địa hình và vị trí địa lý cũng có vai trò quan trọng trong việc hình thành
và tạo ra đặc thù của những biến đổi khí hậu Thừa Thiên Huế. Các dãy núi phía
Tây và phía Nam có vai trò quan trọng nhất đối với khí hậu Thừa Thiên Huế. Về
mùa đông, các dãy núi làm lệch hướng gió Đông Bắc thành gió Tây Bắc, không
khí lạnh tĩnh lại phía Đông Trường Sơn và Bắc đèo Hải Vân gây ra mưa lớn,
ngập lụt vào cuối mùa thu – đầu mùa đông, làm mùa mưa lệch pha so với tình
hình chung ở Bắc Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ và tạo ra một trong những trung
tâm mưa lớn của cả nước.
Về mùa hè, các dãy núi gây ra hiệu ứng “phơn” dẫn đến thời tiết khô nóng
gay gắt, kèm theo hạn hán.
15
Phân tích số liệu cho thấy, ở Thừa Thiên Huế thay đổi khí hậu còn đậm
nét hơn các nơi khác. Nhiệt độ trung bình năm ở Thừa Thiên Huế đều có xu thế
tăng khá nhanh, vùng núi có chiều hướng tăng nhanh hơn vùng ven biển.
Cường độ mưa tăng rõ rệt. Trong vòng 50 năm trở lại đây, lũ lụt xảy ra
thường xuyên hơn nửa đầu thế kỷ trước. Từ năm 1952 đến 2005 đã có 32 cơn
bão ảnh hưởng trực tiếp đến Thừa Thiên Huế. Không những thế, mực nước biển
và đỉnh lũ lần sau luôn cao hơn lần trước. Năm 1999, trận lụt lịch sử đã có độ
sâu ngập là 5,81 m. Trong năm 2007, các trận lũ lớn khác diễn ra trong vòng 1
tháng gây thiệt hại nặng nề về người và nhà cửa cho những người dân ở miền
Trung. Mưa lớn liên tiếp kéo dài trong nhiều ngày đã gây lũ lớn, lụt lội, ngập
úng tại nhiều nơi, phá huỷ hàng ngàn công trình giao thông, nhấn chìm hàng
nghìn ngôi nhà trong mực nước dâng cao, người dân không còn nơi cư trú, sinh
hoạt, phá huỷ hàng triệu hecta hoa màu và cây ăn quả… thiệt hại ước tính hàng
ngàn tỷ đồng và mất một thời gian dài để người dân cũng như chính quyền địa
phương tại các tỉnh Miền Trung có thể khắc phục những hậu quả sau trận lũ nói
trên [13].
nước, quy hoạch và phát triển hệ thống đê sông, đê bao, hệ thống cấp thoát
nước, tưới tiêu. Trong lĩnh vực thuỷ sản tác động tới diện tích nuôi trồng và
đánh bắt thuỷ sản, năng suất, sản lượng và giải pháp bảo tồn nguồn lợi thuỷ sản.
Trong sản xuất nông nghiệp, diện tích trồng lúa của Thừa Thiên Huế phần
lớn tập trung ở vùng đồng bằng thấp trũng của các huyện Phong Điền, Quảng
Điền, Hương Trà, Phú Vang và Hương Thuỷ, có diện tích khoảng 56 -58 ngàn
ha, trong đó có khoảng 40 ngàn ha đang được sử dụng để trồng lúa và cây hàng
năm như lạc, ngô, rau màu Đây là vùng đất thấp trũng với cao độ từ - 0,5m
đến + 3,0m, hệ thống đê bao thấp (cao độ mặt đê khoảng +0,5m), nằm sát đầm
phá Tam Giang - Cầu Hai và cửa biển Thuận An - Tư Hiền, vùng đồng bằng là
nơi chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai như úng, lụt, hạn, mặn đặc biệt là tác
động dâng cao mức nước biển trong thập kỷ tới. Khi nước biển dâng cao 1m vào
năm 2100, trên 20% số diện tích đất sản xuất nông nghiệp và rừng phòng hộ ven
sông, ven biển sẽ bị mất do ngập và nhiễm mặn. Ngoài ra, một số diện tích đất
nông nghiệp cũng phải chuyển mục đích sử dụng sang làm nhà ở, các công trình
cộng cộng để phục vụ cho việc di dân, tái định cư cho người dân vùng bị ngập,
sạt lở, vùng có nguy cơ cao Khi diện tích canh tác bị thu hẹp, sản lượng nông
nghiệp sản xuất giảm, tác động trực tiếp đến đời sống của cư dân nông thôn, kéo
dài tình trạng nghèo đói. Đối với người dân vùng ven biển, để duy trì cuộc sống,
người dân có thể gia tăng cường độ khai thác thuỷ sản tại Tam Giang - Cầu Hai,
làm phá vỡ hệ sinh thái ven biển và cạn kiệt tài nguyên
Mặt khác, BĐKH sẽ làm gia tăng những hiện tượng cực đoan của thời
tiết. Bão lũ, áp thấp nhiệt đới sẽ xảy ra thường xuyên với tần suất lớn hơn,
nông nghiệp và nông thôn chịu tác động trực tiếp nhất. Thiên tai không chỉ ảnh
hưởng cây trồng trên đồng ruộng, làm giảm năng suất lúa và các cây lương thực
khác hay mất mùa mà còn phá huỷ các kho tàng sau thu hoạch, các công trình
thuỷ lợi Khả năng hạn hán cũng sẽ tăng do thời tiết khô nóng xuất hiện nhiều
hơn làm tăng nguy cơ sa mạc hoá đồng ruộng và tăng nhu cầu nước cho sản xuất
17
nông nghiệp. Đặc biệt, BĐKH sẽ làm thay đổi điều kiện khí hậu nông nghiệp,
BĐKH sẽ làm thay đổi môi trường tự nhiên dẫn đến biến đổi đa dạng sinh
học, tập tính sống của các loài động thực vật thuỷ sinh, biến động nguồn giống
trong tự nhiên. Khi nhiệt độ tăng quá cao, động vật nuôi trong các ao hồ có thể
chết, chậm lớn, ăn kém làm ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng, các trũng vi
khuẩn, nấm phát triển nhanh gây ra dịch bệnh, gây hiện tượng phù dưỡng trong
18
ao nuôi, ngoài đầm phá. Đây là một yếu tố bất lợi cho nuôi trồng thuỷ sản (làm
chất lượng nước kém). Như vậy, nông nghiệp và nông thôn đang và sẽ là lĩnh
vực chịu tác động nặng nề nhất của BĐKH, trong tất cả các lĩnh vực kinh tế của
tỉnh[13].
2.2.2 Tác động của BĐKH đối với vùng cát ven biển
Đã nhiều năm qua, cứ đến mùa mưa bão, người dân sống dọc ven biển
của các địa phương vùng ven biển miền Trung thường rơi vào trạng thái lo lắng
bởi nạn xâm thực của sóng biển. Cứ vào mỗi mùa mưa bão, nhà cửa, đất đai và
nhiều tài sản khác bị sóng cuốn ra biển. Vì vậy bão lũ và nước biển dâng của
vùng duyên hải miền Trung nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng còn nan giải
hơn rất nhiều khi tính đến yếu tố liên quan bởi hiện tượng biến đổi khí hậu. Có
thể nhìn nhận sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến vùng bãi ngang thông qua
các tác động sau:
Tác động đến sản xuất nông nghiệp: Biến đổi khí hậu làm thay đổi điều
kiện sống của các loài sinh vật, phá vỡ cân bằng sinh thái, làm biến mất đi một
số loài và nguy cơ xuất hiện nhiều loại bệnh dịch mới trong sản xuất nông
nghiệp. BĐKH tác động đến thời vụ, làm thay đổi cấu trúc mùa vụ, tác động xấu
đến chăn nuôi, trồng trọt của người dân…
Nhiệt độ và lượng bốc hơi tăng cùng với hạn hán kéo dài sẽ tác động
mạnh đến hệ sinh thái, đặc biệt hiện tượng cháy rừng sẽ xảy ra nhiều hơn và làm
suy giảm đa dạng sinh học.
BĐKH làm mực nước biển dâng và gia tăng vùng ngập mặn, làm mất nơi
sinh sống của các loài thuỷ sản nước ngọt, đặc biệt phá vỡ hệ sinh thái cửa sông,
đây là nơi đa dạng nhất về thành phần, cũng như số lượng loài, làm mất đi nơi
Vương quốc Anh: Hệ thống phòng lũ của nước Anh được thiết kế để
đối phó với các cơn lũ lớn nhất có thể xảy ra trong các chu kỳ 100-200
năm. Cơ quan Môi trường đã kêu gọi ít nhất 8 tỷ đô la Mỹ để cũng cố
đập chắn lũ Thames Barrier – một công trình phòng lũ cơ học để bảo vệ
London [14].
Nhập Bản: Mối quan tâm đối với công tác thích ứng tại Nhật Bản lên đến
đỉnh điểm vào năm 2004 khi nước này chịu tới 10 cơn bão nhiệt đới đổ bộ. Tổng
thiệt hại lên đến 14 tỷ Đô-la Mỹ, trong đó khoảng một nữa là do bảo hiểm chi
trả. Chính phủ Nhật Bản đã lên các kế hoạch xây dựng các hệ thống phòng ngừa
lũ lụt nhằm đối phó với nguy cơ mực nước biển có thể dâng lên 1m trong thế kỷ
21 và có tổng mức đầu tư ước tính 93 tỷ đô la Mỹ [14].
Thích ứng với BĐKH ở các nước đang phát triển
Ở Miền Bắc Kê-ni-a, hạn hán thường xuyên xảy ra khiến cho người phụ
nữ phải đi bộ xa hơn để lấy nước sinh hoạt, thường là 10 -15 km một ngày.
Vùng Tây Bengal, Ấn Độ, những người phụ nữ sống trong các ngôi làng
châu thổ sông Hằng đang phải dựng lên những tháp cao bằng tre gọi là
machan để làm chổ lánh nạn khi lũ lụt kéo đến [14].
20
Ở quốc gia Băng-la-đét láng giềng, các cơ quan tài trợ và các Tổ chức phi
chính phủ đang làm việc với những người sống tại các vùng gọi là chars, tức là
cồn đất có nguy cơ trở nên biệt lập vào mùa lũ, để nâng những căn nhà của họ lên
cao hơn mực nước lũ bằng cánh dời chúng lên các cột đỡ hoặc mặt đê [14].
Những người nông dân ở Ê-cu-a-do đang đào các ao tích nước hình chữ
U, được gọi là albarradas, để giữ nước trong những năm nhiều mưa bổ sung
cho mực nước ngầm trong những năm nhiều mưa bổ sung cho mực nước
ngầm trong những năm khô hạn [14].
2.2.4 Thích ứng với BĐKH trong sản xuất nông nghiêp
Chiến lược thích ứng trong sản xuất nông nghiệp là rất quan trọng và cần
thiết để đảm bảo tiếp tục cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Thích ứng với sản
xuất nông nghiệp có rất nhiều hình thức bao gồm thay đổi mùa vụ sản xuất,
điều kiện thời tiết khí hậu có liên quan tới BĐKH là rất cần thiết để xác định
thời vụ thích hợp cho mỗi loài cây trồng vật nuôi ( Smit and Skinner, 2002) [6]
, [7].
Các vùng ven biển ở Bangladesh, hệ thống thông tin lũ lụt cộng đồng đã
được thiết kế giúp các cộng đồng ở đây thích ứng với rủi ro lũ lụt hay lốc xoáy
cũng như xác định được lịch mùa vụ gieo trồng quan trọng nhất là xác định được
thời điểm thu hoạch sản phẩm nông nghiệp ( UNFCCC, 2006) [6], [7].
Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, xây dựng kế hoạch nuôi tách lũ lụt đã
được người dân Hà Tĩnh và Quảng Bình áp dụng chuyển sang nuôi một vụ để
tránh lũ [6].
Kỹ thuật canh tác
Thích ứng trong lĩnh vực này tập trung vào đặc điểm của hệ thống sản
xuất, đặc tính của người sản xuất để xác định được mức độ ảnh hưởng quyết
định của họ đưa ra các lựa chọn thích ứng ( Smit and Skinner, 2002) [7].
Ở Việt Nam, Ninh Thuận là một trong những tỉnh rất nhạy cảm với tình hình
hạn hán, chính phủ đã hỗ trợ để cải thiện hệ thống cung cấp nước như đào giếng,
mở giếng, sắp xếp và nâng cấp hệ thống tưới tiêu quy mô nhỏ [6], [7].
Ở Thái Lan người dân đã biết thiết lập các trạm bơm để thu gom nước ở
những con sông và kênh có khuynh hướng trào nước vào mùa mưa để phục vụ
nước cho mùa khô (Ngân hàng phát triển châu Á, 2008). Cộng đồng các
nước ở châu Phi và nông dân luôn luôn có biện pháp đối phó với thay đổi
môi trường. Nông dân của nhiều vùng ở châu Phi đã biết cách bảo tồn
Carbon trong đất thông qua sử dụng kỷ thuật zero-tilling trong trồng trọt,
che phủ, các kỷ thuật quản lý đất [7].
22
PHẦN 3: NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nông dân tham gia các hoạt động sản
Nghiên cứu biểu hiện của biến đổi khí hậu tại vùng nghiên cứu như: sự
thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa cũng như cường độ và tần suất của các hiện
tượng thời tiết cực đoan.
(2) Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp.
Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến năng suất cây trồng vật nuôi,
chất lượng, chi phí đầu tư, dịch bệnh
(3) Tìm hiểu các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu của người dân
trong sản xuất nông nghiệp.
Ở đây sẽ phân tích cụ thể các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của
người dân trong sản xuất nông nghiệp.
(4) Xác định giải pháp để tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí
hậu cho cộng đồng người dân trong sản xuất nông nghiệp.
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin
3.3.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập số liệu thứ cấp đã công bố từ cấp tỉnh, huyện và xã thông qua
các báo cáo điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội năm 2006-2010.
- Tài liệu từ các niên giám thống kê, báo cáo thống kê, các báo cáo hàng
năm và báo cáo giai đoạn, các báo cáo nghiên cứu đã được công bố,…cơ quan
cung cấp là các cơ quan thống kê ( tỉnh, huyện và xã ), các đơn vị hành chính
( UBND huyện, phòng Nông nghiệp &PTNT, UBND xã, )
- Các dữ liệu về nhiệt độ, lượng mưa ghi nhận của trạm Khí tượng Thừa
Thiên Huế trong thời gian 1980-2010. Các số liệu về biến đổi khí hậu và tác
động của nó trên lĩnh vực nông nghiệp tại xã.
3.3.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Các số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách sử dụng các công cụ khác
nhau như thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu, phỏng vấn hộ gia đình, và quan sát.
Thảo luận nhóm trong nghiên cứu này đã được tiến hành như sau:
Ở mỗi xã tiến hành một cuộc thảo luận nhóm:
Thời gian: 1 ngày
- Tiêu chí chọn mẫu: các hộ dân đang sinh sống và tiến hành các hoạt
động sản xuất trên địa bàn 2 xã Quảng Lợi và Phú Đa.
- Dung lượng mẫu điều tra: 60 hộ trên 2 xã. Trong đó, số hộ được chọn ở
Quảng Lợi là 30 hộ và Phú Đa là 30 hộ
- Cách thức chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên dựa vào danh sách các hộ có
sản xuất nông nghiệp.
3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu
Các thông tin dữ liệu định lượng sẽ được mã hóa, lưu trữ và xử lí phân
tích định lượng bằng phần mềm Excel.
25