nghiên cứu đặc điểm ngành hàng đối với sản phẩm sắn ở vùng núi thừa thiên huế ( nghiên cứu trường hợp tại xã hương phú, huyện nam đông) - Pdf 13

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Vùng duyên hải miền Trung có diện tích đất tự nhiên là 9,6 triệu ha, đất
nông nghiệp là 1,24 triệu ha, đất có khả năng mở rộng vùng nông nghiệp là
1,35 triệu ha, chủ yếu là đất cát biển và đất gò đồi nghèo dinh dưỡng. Trong
lĩnh vục trồng trọt, định hướng phát triển của vùng này là đảm bảo sản xuất
lương thực tại chỗ, chú trọng thâm canh và chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, phòng
chống thiên tai, phát triển một số loại cây công nghiệp có lợi thế cạnh tranh
cao [14].
Thừa Thiên Huế là một tỉnh miền Trung Việt Nam, chịu ảnh hưởng sâu
sắc của khí hậu nhiệt đới nông ẩm gió mùa, có chế độ bức xạ phong phú và
nền nhiệt độ cao. Khí hậu đa dạng nhờ giao thoa giữa hai miền Nam – Bắc.
Về thổ nhưỡng có đến 14 loại đất cùng với địa hình núi, đồi, đồng bằng, cát
nội đồng, cát biển. Diện tích đất tự nhiên 505.398,7 ha, đất trồng cây hàng
năm 76.168 ha, trong đó diện tích trồng cây lương thực là 64.052 ha [2].
Nam Đông là huyện miền núi phía Tây Nam của tỉnh Thừa Thiên Huế.
Các tỉnh miền Trung nói chung trong đó có Thừa Thiên Huế và huyện Nam
Đông nói riêng đang chú trọng phát triển cây sắn vì trồng sắn gắn với chế
biến công nghiệp có lợi nhuận khá, sắn hợp với chất đất nghèo, dễ trồng và ít
đầu tư, nước ta hiện có nhiều giống sắn mới năng suất cao, sản phẩm sắn có
nhu cầu thị trường rộng để xuất khẩu và tiêu thụ trong nước. Trồng sắn là một
trong những hướng sử dụng đất gò đồi, đất cát nội đồng có hiệu quả và thích
hợp. Một số người cho rằng cây sắn là cây mang lại nhiều lợi ích và đang có
tương lai đầy hứa hẹn. Sắn không chỉ là một loại cây lương thực, cây thực
phẩm mà còn là loại cây công nghiệp để tạo ra các sản phẩm như: cồn, đường,
bột ngọt, tinh bột…Trên phương diện cây lương thực và thực phẩm cùng với
những tiến bộ trong khoa học dinh dưỡng và những quan niệm mới trong văn
hóa ẩm thực, sắn cũng đang là đối tượng được nhiều người quan tâm. Tuy
nhiên một vài người cũng đang nhấn mạnh vào nhược điểm của cây sắn và
1

quản lý đồng bộ, sự phối hợp và phân phối lợi nhuận công bằng giữa các tác
nhân. Vì vậy nghiên cứu đặc điểm ngành hàng sắn là một công việc quan
trọng và cần thiết.
2
Việc nghiên cứu đặc điểm ngành hàng sắn tại xã Hương Phú, huyện
Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế có ý nghĩa rất quan trọng. Nó sẽ giúp cho
các nhà quản lý kinh tế, các nhà chỉ đạo sản xuất hiểu rõ hơn hoạt động sản
xuất, kinh doanh sản phẩm sắn, những mối quan hệ, sự phân phối lợi ích của
từng tác nhân trong chuỗi, từ đó góp phần thúc đẩy việc mở rộng diện tích và
tăng hiệu quả kinh tế cho từng tác nhân. Xuất phát từ những lý do trên, chúng
tôi tiến hành lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm ngành hàng
đối với sản phẩm sắn ở vùng núi Thừa Thiên Huế ( Nghiên cứu trường
hợp tại xã Hương Phú, huyện Nam Đông)”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu về hiện trạng sản xuất sắn tại xã Hương Phú, huyện Nam
Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Xác định các thành phần tham gia, đặc điểm và vai trò của các tác
nhân trong ngành hàng sắn ở xã Hương Phú, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa
Thiên Huế.
- Qua việc phân tích này, xác định những thuận lợi, khó khăn đồng
thời xác định những thách thức đối với các hoạt động của các tác nhân tham
gia trong ngành hàng sắn tại xã Hương Phú, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa
Thiên Huế.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Các khái niệm liên quan
• Chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị được định nghĩa là “ Tổng thể các hoạt động liên quan đến

đã đưa ra khái niệm chuỗi giá trị giản đơn và chuỗi giá trị mở rộng. theo đó:
- Chuỗi giá trị giản đơn là chuỗi hoạt động trong các khâu cơ bản từ
điểm khởi đầu đến điểm kết thúc của sản phẩm, ví dụ thiết kế -> sản xuất ->
phân phối -> tiêu dùng.
- Chuỗi giá trị mở rộng chi tiết hoá các hoạt động và các khâu của
chuỗi giá trị giản đơn để thấy rõ nhiều bên tham gia (stakeholder) và liên
quan đến nhiều chuỗi giá trị khác nhau [10].
• Ngành hàng
Vào những năm 1960 phương pháp phân tích ngành hàng (Filiere) sử
dụng nhằm xây dựng các giải pháp thúc đẩy các hệ thống sản xuất nông
nghiệp. Các vấn đề được quan tâm nhiều nhất đó là làm thế nào để các hệ
thống sản xuất tại địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương
mại, xuất khẩu và tiêu dùng nông sản. Bước sang những năm 1980, phân tích
ngành hàng được sử dụng và nhấn mạnh vào giải quyết các vấn đề chính sách
của ngành nông nghiệp, sau đó phương pháp này được phát triển và bổ sung
thêm sự tham gia của các vấn đề thể chế trong ngành hàng [10].
Đến những năm 1990, có một khái niệm được cho là phù hợp hơn trong
nghiên cứu ngành hàng nông sản do J.P Boutonnet đưa ra đó là: "Ngành hàng
là một hệ thống được xây dựng bởi các tác nhân và các hoạt động tham gia
vào sản xuất, chế biến, phân phối một sản phẩm và bởi các mối quan hệ giữa
các yếu tố trên cũng như với bên ngoài" (J.P Boutonnet, INRA.France) [3].
Theo Fabre: “Ngành hàng được coi là tập hợp các tác nhân kinh tế (hay
các phần hợp thành các tác nhân) quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra các sản phẩm
cuối cùng. Như vậy, ngành hàng đã vạch ra sự kế tiếp của các hành động xuất
5
phát từ điểm ban đầu tới điểm cuối cùng của một nguồn lực hay một sản phẩm
trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chế biến để tạo ra
một hay nhiều sản phẩm hoàn tất ở mức độ của người tiêu thụ [10].
Nói một cách khác, có thể hiểu ngành hàng là “Tập hợp những tác nhân
(hay những phần hợp thành tác nhân) kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất

chính sách. Hơn nữa, theo Fabre thì “ngành hàng là sự hình thức hoá dưới
dạng mô hình đơn giản làm hiểu rõ tổ chức của các luồng (vật chất hay tài
chính) và của các tác nhân hoạt động tập trung vào những quan hệ phụ thuộc
lẫn nhau và các phương thức điều tiết” [10].
• Tác nhân
Tác nhân là một tế bào sơ cấp với các hoạt động kinh tế, độc lập và tự
quyết định hành vi của mình. Có thể hiểu rằng, tác nhân là những hộ, những
doanh nghiệp, những cá nhân tham gia trong ngành hàng thông qua hoạt động
kinh tế của họ. Tác nhân được phân ra làm hai loại:
- Tác nhân có thể là người thực (hộ nông dân, hộ kinh doanh, )
- Tác nhân là đơn vị kinh tế (các doanh nghiệp, công ty, nhà máy )
Theo nghĩa rộng người ta phân tác nhân thành từng nhóm để chỉ tập
hợp các chủ thể có cùng một hoạt động. Ví dụ tác nhân “ nông dân” để chỉ tập
hợp tất cả các hộ nông dân; tác nhân “thương nhân” để chỉ tập hợp tất cả các
hộ thương nhân; tác nhân “bên ngoài” chỉ tất cả các chủ thể ngoài phạm vi
không gian phân tích.
Mỗi tác nhân trong ngành hàng có những hoạt động kinh tế riêng, đó
chính là chức năng của nó trong chuỗi hàng. Tên chức năng thường trùng với
tên tác nhân. Ví dụ, hộ sản xuất có chức năng sản xuất, hộ chế biến có chức
năng chế biến, hộ bán buôn có chức năng bán buôn Một tác nhân có thể có
một hay nhiều chức năng. Các chức năng kế tiếp nhau tạo nên sự chuyển dịch
về mặt tính chất của luồng vật chất trong ngành hàng [10].
• Luồng hàng
Luồng hàng là sự giao lưu hàng hóa giữa các khu vực với nhau tạo
thành luồng hàng, luồng hàng là số lượng tấn hàng được vận chuyển theo một
chiều, chiều nào có khối lượng hàng hóa lớn gọi là chiều thuận (chiều đi),
chiều có khối lượng hàng hóa nhỏ hơn gọi là chiều ngược (chiều về) [10].
7
• Sản xuất
Sản xuất: ( Tiếng anh: production) hay sản xuất của cải vật chất là hoạt

hiểu“là sự thiết lập các mối quan hệ giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh, có
thể giữa các doanh nghiệp thuộc cùng lĩnh vực hoạt động, giữa các đối tác
cạnh tranh hoặc giữa các doanh nghiệp có các hoạt động mang tính chất bổ
sung, nhằm tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả cao hơn trong
sản xuất - kinh doanh, tạo ra sức mạnh cạnh tranh, cùng nhau chia sẻ các khả
năng, mở ra những thị trường mới” [4].
2.1.2. Các nghiên cứu liên quan
Cách tiếp cận chuỗi giá trị là một cách tiếp cận mới, được dùng để
phân tích mô tả hệ thống nông nghiệp, xác định những tác nhân tham gia
trong chuỗi giá trị và xác định những điểm hạn chế trong việc phân phối các
sản phẩm nông nghiệp. Thời gian qua phân tích chuỗi giá trị đã được một số
cơ quan nghiên cứu và các đơn vị tài trợ quan tâm phối hợp nghiên cứu đánh
giá. Nghiên cứu đã tiến hành phân tích một số chuỗi giá trị như ngành hàng
rau, vải thiều, bưởi,…và chuỗi giá trị về ngành hàng thủ công mỹ nghệ. Một
số kết quả nghiên cứu bao gồm:
Đào Thế Anh và NNC ( 2005 ) Metro – GTZ, nghiên cứu chuỗi ngành
hàng rau tại tỉnh Thái Bình đã chỉ ra tình hình sản xuất rau của Thái Bình và
các mô hình trồng rau có hiệu quả, đặc điểm vê chủng loại rau và các tác nhân
tham gia vào chuỗi [5].
Đào Thế Anh và NNC (2005) Metro – GTZ, nghiên cứu chuỗi giá trị về
ngành hàng hàng bưởi Vĩnh Long đã mô tả các hoạt động sản xuất bởi các
nông hộ, xác định được chuỗi của bưởi đối với nhánh kênh tiêu thụ trong
nước và kênh xuất khẩu, đã xác định được qui mô ngành hàng sản xuất và lợi
ích của các tác nhân được hưởng lợi [6].
9
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Cây sắn và lợi ích của việc trồng sắn
• Cây sắn, nguồn gốc và lịch sử
Giới (regnum): Plantae
Bộ (ordo): Malpighiales

với nhiều hộ gia đình nông dân nghèo, thiếu lao động. tận dụng đất để lấy
ngắn nuôi dài. Cây sắn cũng có khả năng cạnh tranh cao vì sử dụng hiệu quả
tiền vốn, đất đai, tận dụng tốt các loại đầt nghèo dinh dưỡng. Sắn đạt năng
suất cao và lợi nhuận khá nếu biết dùng giống tốt và trồng đúng quy trình
canh tác sắn bền vững. Sắn đựơc nông dân ưu trồng vì: có khả năng sử dụng
tốt các đầt đã kiệt: cho năng suất cao và ổn định, chi phí đầu tư thấp và sử
dụng ít nhân công, thời gian thu hoạch kéo dài nên thuận rải vụ. Nghề trồng
sắn thích hợp với những hộ nông dân nghèo, ít vốn [15].
2.2.2. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới và ở Việt Nam
• Tình hình sản xuất sắn trên thế giới
Sắn hiện được trồng trên 100 nước có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới
thuộc ba châu lục: châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Tổ chức Nông lương
thế giới (FAO) xếp sắn là cây lương thực quan trọng ở các nước đang phát triển
sau lúa gạo, ngô và lúa mì. Tinh bột sắn là một thành phần quan trọng trong chế
độ ăn của hơn một tỷ người trên thế giới (www. TTTA. Food market, 2009).
Đồng thời, sắn cũng là cây thức ăn gia súc quan trọng tại nhiều nước trên thế
giới và cũng là cây hàng hóa xuất khẩu có giá trị để chế biến bột ngọt, bánh kẹo,
mì ăn liền, ván ép, bao bì, màng phủ sinh học và phụ gia dược phẩm.
Đặc biệt trong thời gian tới, sắn là nguyên liệu chính cho công nghiệp
chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol). Năm 2008, Trung Quốc đã sản xuất
một triệu tấn ethanol, họ đã thoả thuận với một số quốc gia lân cận để cung
cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất ethanol. Tại Thái Lan, nhiều
nhà máy sản xuất ethanol sử dụng sắn đã được xây dựng năm 2008. Indonesia
đã lên kế hoạch sử dụng sắn sản xuất ethanol để pha vào xăng theo tỷ lệ bắt
buộc 5% bắt đầu từ năm 2010. Các nước như Lào, Papua New Guinea, đảo
quốc Fiji, Nigeria, Colombia và Uganda cũng đang nghiên cứu thử nghiệm
cho sản xuất ethanol (TTTA. Outlook for 2009)
11
Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới có chiều hướng gia
tăng từ năm 1995 đến nay (Bảng dưới đây). Năm 2008, sản lượng sắn thế giới

2003
17,59 10,79 189,99
2004
18,51 10,94 202,64
2005
18,69 10,87 203,34
2006
20,50 10,90 224,00
2007
18,39 12,16 223,75
2008
21,94 12,87 238,45
(Nguồn: Trần Công Khanh tổng hợp từ FAOSTAT qua các năm.)
12
• Tình hình sản xuất sắn tại Việt Nam
Sản xuất lương thực là ngành trọng tâm và có thế mạnh của Việt Nam tầm
nhìn đến năm 2020. Chính phủ Việt Nam chủ trương đẩy mạnh sản xuất lúa, ngô
và coi trọng việc sản xuất sắn, khoai lang ở những vùng, những vụ có điều kiện
phát triển. Thị trường xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn Việt Nam dự báo thuận
lợi và có lợi thế cạnh tranh cao do có nhu cầu cao về chế biến bioethanol, bột
ngọt, thức ăn gia súc và những sản phẩm tinh bột biến tính. Diện tích sắn của
Việt Nam dự kiến ổn định khoảng 450 nghìn ha nhưng sẽ tăng năng suất và sản
lượng sắn bằng cách chọn tạo và phát triển các giống sắn tốt có năng suất củ tươi
và hàm lượng tinh bột cao, xây dựng và hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác
sắn bền vững và thích hợp vùng sinh thái [12].
Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực, thức ăn gia súc quan trọng sau lúa
và ngô. Năm 2005, cây sắn có diện tích thu hoạch 432 nghìn ha, năng suất
15,35 tấn/ha, sản lượng 6,6 triệu tấn, so với cây lúa có diện tích 7.326 ha,
năng suất 4,88 tấn/ha, sản lượng 35,8 triệu tấn, cây ngô có diện tích 995 ha,
năng suất 3,51 tấn/ha, sản lượng gần một triệu tấn (FAO, 2007). Cây sắn là

(Số liệu từ tổng cục thống kê 2009)
• Tình hình sản xuất xắn tại Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế được đánh giá là tỉnh có bước tiến lớn về phát triển
cây sắn trong hơn 10 năm trở lại đây. Nhờ áp dụng nhiều giống mới có năng
suất và hàm lượng tinh bột cao như các giống KM60, KM94, KM98…
Những năm gần đây diện tích và năng suất của cây sắn trên địa bàn tỉnh
luôn luôn tăng, sản lượng sắn của năm 2009 tăng 10.800 tấn so với năm 2008,
chứng tỏ rằng cây sắn đã đem lại hiệu quả kinh tế đáng kể. Việc ứng dụng các
tiến bộ khoa học kĩ thuật vào canh tác đã khai thác tối đa năng suất của loại
cây trồng này [11].
Bảng 3: Tình hình trồng sắn của tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2005-2009
Năm trồng sắn
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(tấn)
2005 6628 15.5 102.600
2006 7100 14.6 103.900
2007 7300 15.6 114.000
2008 7500 15.7 118.000
2009 7000 18.4 128.800
(Niên giám thống kê, Thừa Thiên Huế 2009)
14
Sắn là cây trồng quen thuộc của bà con nông dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
Diện tích sắn huyện Nam Đông chủ yếu trên vùng đất dốc, vì thế
hướng nghiên cứu của đề tài tập trung vào vùng gò đồi huyện Nam Đông
nhằm đặt được những kết quả khả thi góp phần tăng hiệu quả kinh tế của
nông hộ.

3.2.5. Kênh tiêu thụ sản phẩm sắn tại xã Hương Phú
• Tình hình tiêu thụ sản phẩm sắn
• Kênh tiêu thụ sản phẩm sắn
• Khối lượng dòng sản phẩm sắn của các tác nhân trong ngành hàng
• Lợi ích của các tác nhân tham gia vào ngành hàng sắn
3.2.6. Mối liên kết của các tác nhân trong ngành hàng sắn
• Liên kết giữa nông dân với nông dân (tác nhân sản xuất)
• Liên kết giữa hộ sản xuất với hộ thu gom
• Mức độ tin tưởng vào các đối tác
3.2.7. Những thuận lợi và khó khăn và những thách thức đối với hoạt
động của các tác nhân tham gia vào ngành hàng.
• Thuận lợi
• Khó khăn
• Thách thức đối với hoạt động của các tác nhân tham gia vào ngành
hàng sắn
3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
3.3.1. Thu thập số liệu thứ cấp
• Thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên: Thời tiết, khí hậu, đất đai.
• Thu thập các số liệu về điều kiện kinh tế xã hội: Tình hình kinh tế
của huyện, các chính sách quy định, cơ sở hạ tầng.
Nguồn số liệu được thu thập thông qua các tài liệu, các báo cáo, niên
giám thống kê ở các cơ quan thống kê, phòng nông nghiệp, trung tân khuyến
nông tỉnh và trạm khuyến nông huyện, các cơ quan chuyển giao.
17
3.3.2. Thu thập số liệu sơ cấp
• Chọn điểm và chọn hộ nghiên cứu
Chọn điểm: Việc chọn điểm dựa trên các tiêu chí sau:
- Điểm nghiên cứu ở mổi vùng sinh thái phải thể hiện được tính đại
diện cho vùng sinh thái đó về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội.
- Điểm nghiên cứu phải có hoạt động trồng sắn.

Nam Đông là huyện miền núi, có 11 dơn vị hành chính cơ sở xã,
thị trấn; trong đó có 6 xã đồng bào dân tộc thiểu số và 5 xã đồng bào từ các
vùng đồng bằng đi xây dựng vùng kinh tế mới.
Toàn huyện có 66 thôn và khu vực dân cư; có 5.178 hộ với
24.186 khẩu, trong đó: Đồng bào dân tộc thiêu số có 2002 hộ với 10.133
khẩu, chiếm 42% dân số toàn huyện. Tỷ lệ hộ nghèo của huyện năm 2010 là
8,7%. Trong đó đồng bào dân tọc thiêu số chiếm 13,5%. Toàn huyện có
99,7% hộ dùng nước hợp vệ sinh và có 99,87% hộ dùng điện lưới quốc gia,
đời sống nhân dân cơ bản ổn định, cơ sở hạ tầng được đầu tư nâng cấp.
4.2. Hiện trạng sản xuất sắn của huyện Nam Đông
4.2.1. Tình hình sản xuất sắn ở huyện Nam Đông
Bảng 4: Tình hình sản xuất sắn của huyện Nam Đông từ năm 2005-2010.
Năm
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(tấn)
2005 475 147,8 7022,8
2006 603 168,9 10186,8
2007 737,3 209,1 15414,1
2008 1002 218,1 21858,3
2009 788 210,5 16588,8
19
2010 747 222,2 16598,3
(Nguồn: Số liệu thống kê qua các năm của Nam
Đông )
Qua bảng trên cho thấy, diện tích sắn của toàn huyện từ năm 2005 đến
năm 2008 tăng mạnh từ 475 ha năm 2005 lên 1002 ha, đến năm 2010 giảm

Tổng 747 22,22 16598,34
Hương Phú 318 25,06 7969,08
Thị trấn Khe Tre 4 25,13 100,52
Hương Lộc 7 22,93 160,51
Hương Hòa 60 25,13 1507,8
Thượng Lộ 20 17,99 359,8
Hương Sơn 48 19,65 943,2
Thượng Nhật 89 19,89 1770,21
Hương Giang 12 24,0 288
Hương Hữu 44 17,75 781
Thượng Long 97 18,17 1762,49
Thượng Quảng 48 20,13 966,24
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Nam Đông 2010 )
21
Huyện cần có kế hoạch tập trung đầu tư nhân rộng vùng sản xuất phù
hợp với điều kiện và khả năng canh tác của người dân địa phương huyện Nam
Đông. Đáp ứng nguyên liệu chế biến ổn định cho nhà máy tinh bột.
Việc quy hoạch trồng sắn trên địa bàn huyện còn nhiều bất cập, và hạn
chế ảnh hưởng đến việc tổ chức sản xuất các mặt hàng từ sắn.
Một là: Tổ chức sản xuất còn mang tính nhỏ lẻ, tự phát, một số hộ đầu
tư ít nên năng xuất còn thấp, công tác tập huấn áp dụng các biện pháp khoa
học kỷ thuật chua được chú trọng, việc quan tâm cây sắn thiếu sự đồng bộ,
đầu tư phân bón ít nên đất ngày càng nghèo dinh dưỡng dẩn đến cây phát
triển kém hiệu quả và năng xuất thấp.
Hai là: Nam Đông là huyện có điều kiện thời tiết rất khắc nghiệt, trong
khi cây trồng phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thời tiết, nên năm nào thuận lợi
thì cây trồng cho năng xuất cao và ngược lại.
Ba là: Cơ sở hạ tầng còn bất cập, đường giao thông còn xa, chưa có
những điểm thu mua tập trung nhằm làm giảm bớt chênh lệch về giá. Chưa
chú trọng áp dụng khoa học vào sản xuất, năng lực sản xuất còn hạn chế.

bao bọc bởi các dãy núi có đỉnh cao trên 1000m, nhiều khe suối. Với địa hình
được núi bao bọc 3 phía, thấp dần về phía trung tâm xã, tạo thành một khu
vực bằng phẳng ở trung tâm xã có độ cao trung bình 248m so với mực nước
biển và chia thành 2 bộ phận chính:
- Vùng gò đồi xen trũng thấp trung tâm xã có dạng lòng chảo kéo dài
theo hướng Đông Bắc-Tây Nam.
- Vùng núi thấp trung bình chiếm diện tích lớn, phân bổ ở phía Nam và
một phần ở phía Bắc.
• Đất đai
Diện tích tự nhiên của xã Hương Phú: 7957,0 ha chiếm 12,2% diện tích
tự nhiên toàn huyện. Trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp 1161,74 ha chiếm
14,6% diện tích đất tự nhiên. Đất lâm nghiệp 6077,99 ha chiếm 76,38% diện
tích đất tự nhiên. Đất nuôi trồng thủy sản 7,02 ha chiếm 0,09% diện tích đất
tự nhiên. Đất ở 126,59 ha chiếm 1,59% diện tích đất tự nhiên. Đất chuyên
dùng 82,61 ha chiếm 1,04% diện tích đất tự nhiên. Đất nghĩa trang, nghĩa địa
2 ha chiếm 0,03% diện tích đất tự nhiên. Đất sông suối 124,5 ha chiếm 1,56%
diện tích đất tự nhiên. Đất phi nông nghiệp khác 1,4 ha chiếm 0,02% diện tích
đất tự nhiên. Đất chưa sử dụng 373,15 ha chiếm 4,68% diện tích đất tự nhiên.
Bảng 6: Tình hình sử dụng đất của xã Hương Phú năm 2010
Chỉ tiêu Diện tích (ha) Tỷ lệ (% )
Tổng diện tích đất tự nhiên 7957 100
Đất sản xuất nông nghiệp 1161,74 14,6
Đất lâm nghiệp 6077,99 76,38
Đất nuôi trồng thủy sản 7,02 0,09
Đất ở 126,59 1,59
24
Đất chuyên dùng 82,61 1,04
Đất nghĩa trang 2 0,03
Đất sông suối 124,5 1,56
Đất phi nông nghiệp khác 1,4 0,02


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status