PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm trở lại đây, cùng với sự phát triển của cây cà phê,
tiêu, điều thì cây cao su cũng phát triển một cách nhanh chóng và lên đến đỉnh
cao. Nhà nhà, địa phương nơi nơi đều rộ lên phong trào trồng cây cao su. Nhờ
giá mủ tăng cao nhiều người dân đã xóa được đói giảm được nghèo và giàu
lên nhờ "vàng trắng" này. Đặc biệt cây cao su được xem là nhân tố chính cải
thiện bộ mặt nông thôn ở vùng sâu vùng xa nơi có nhiều đồng bào dân tộc
thiểu số sinh sống. Cùng với cao su quốc doanh, CSTĐ đã góp phần quan
trọng đưa nước ta xếp thứ 6 về sản lượng và thứ 4 về xuất khẩu cao su trên
thế giới, mỗi năm mang về cho đất nước hàng tỉ USD kim ngạch xuất khẩu
[10]. Ngoài hiệu quả kinh tế cao thì cây cao su cũng có vai trò rất lớn trong
quốc phòng an ninh, giữ gìn môi sinh môi trường, tạo nguồn nguyên liệu dồi
dào để làm bệ phóng phát triển ngành công nghiệp cao su…
Nhận thấy tầm quan trọng của cây cao su như vậy Chính phủ đã có chủ
trương tăng diện tích cây cao su ở nước ta để đến năm 2010 đạt 700.000 ha và
năm 2015 đạt 1 triệu ha, mà diện tích tăng nhanh tập trung vào khối CSTĐ,
trong đó tỉnh Quảng Trị cũng đã và đang triển khai trồng mới với lượng diện
tích tương đối lớn [9]. Tuy nhiên, do người dân chỉ say sưa phát triển trồng
cao su mà quên đi đằng sau đó nếu phát triển thiếu quy hoạch và định hướng
thì "vàng trắng" nay sẽ là một mối nguy cơ luẩn quẩn với điệp khúc như
những bài học cũ như tình trạng của cây cà phê “trồng-chặt-theo-bỏ” và “nhà
nhà chặt bỏ cây cao su” những năm 1998-2000 vẫn còn nóng hổi.
Thực tế đã cho thấy rằng nhiều địa phương trong cả nước nói chung và
xã Cam Nghĩa huyện Cam Lộ nói riêng sự đầu tư phát triển CSTĐ được
người dân hưởng ứng rất nhiệt tình và đem lại thu nhập rất lớn cho địa
phương. Nhưng bên cạnh đó nó còn tồn tại những hạn chế rất lớn đó là hiệu
quả kinh tế của CSTĐ còn thấp, chưa tương xứng với diện tích hiện có; người
nông dân chưa được hưởng lợi thỏa đáng từ thành quả lao động. Đặc biệt là
việc phát triển cao su chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của vùng, do đó
kiếm một cây công nghiệp lâu năm có khả năng giúp địa phương đa dạng hóa
nền nông nghiệp và mang lại hiệu quả kinh tế cho các hộ nông dân. Trên thế
giới có nhiều quốc gia trồng cao su với nhiều hình thức: Đại điền, trung điền và
tiểu điền nhưng nhìn chung cao su tiểu điền thường chiếm tỷ lệ lớn từ 80 –
90%. So với các mô hình cao su khác thì cao su tiểu điền có ưu thế hơn, đó là
cao su tiểu điền cần vốn đầu tư nhỏ, cơ sở hạ tầng không tốn kém nhiều. [5]
2.1.1 Một số chính sánh của Đảng và Nhà nước ta về phát triển cao su
tiểu điền
Cao su tiểu điền là vườn cao su thuộc sở hữu của nông dân, do nông dân
bỏ vốn ra đầu tư hoặc do các tổ chức cho nông dân vay vốn phát triển cao su
nhân dân. [4]
Quyết định 327CT ngày 15 – 02 - 1992 của chủ tịch hội đồng bộ trưởng
(nay là thủ tướng chính phủ) quyết định đề ra phương hướng, chiến lược phát
triển kinh tế xã hội đến năm 2000 và đặt ra nhiệm vụ cho các ngành các cấp
phải động viên cao độ sức lực trí tuệ tiền của của mọi thành phần kinh tế dưới
3
nhiều hình thức và mức độ khác nhau tham gia dự án phủ xanh đất trống đồi
núi trọc, rừng bồi ven biển và mặt nước.
Dự án đa dạng hóa nông nghiệp của bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn được thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 25 – 4 - 1998. Nội dung là phát
triển cao su tiểu điền, trong đó trồng mới 60000 ha và phục hồi chăm sóc
17600 ha cao su hiện có của các tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, KonTum, Quảng Bình,
Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Bình Thuận.
Ngoài ra, dự án còn đề cập đến việc tăng cường quản lý, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, thâm canh đa dạng hóa nông nghiệp với tổng số vốn đầu tư
là 84,6 triệu USD
Cao su tiểu điền có đầu tư nhỏ, cơ sở hạ tầng không tốn kém nhiều
nhưng việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật kém, năng suất thấp, chất
lượng kém, không đồng đều, nhưng nó nuôi sống con người quanh năm bằng
kinh tế gia đình. Tổng diện tích cao su thế giới năm 2004 là khoảng 9.400.000
Đất trồng cây cao su phải có độ dốc dưới 30
0
, cao độ dưới 700 m , không
bị ngập úng, không có lớp laterit hoặc tầng sỏi, đá trong độ sâu 80 cm cách mặt
đất. [12]
Độ sâu tầng đất trồng co su được phân loại theo độ thích hợp như sau:
Độ sâu trên 1 m: Rất thích hợp
Độ sâu từ 0,7 – 1 m: Thích hợp trung bình
Độ sâu từ 0,5- 0,7 m: Ít thích hợp
Độ sâu từ dưới 0,5 m: Không thích hợp. [3]
- Khí hậu thời tiết:
Nhiệt độ: Cao su là cây trồng nhiệt đới nên thường sinh trưởng bình
thường trong khoảng nhiệt độ là từ 22 - 30
0
C, khoảng nhiệt độ tối thích là 26 -
28
0
C. Nhiệt độ thấp hơn sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng cảu cây và gây trở
ngại cho quá trình khai thác.Nếu nhiệt độ lớn hơn 30
0
C thì gây các hiện tượng
như chóng đông khi khai thác, năng suất mủ giảm.
Gió: Gió lớn thường gây đỗ ngã đứt rễ, tác nhân đầu tiên cho các bệnh
về thân cành do đó làm giảm mật độ vườn cây và giảm năng suất mủ. Gió khô
như gió lào sẽ giảm mật độ vườn cây đáng kể. Mức độ gió thích hợp cho cây
cao su là 1- 2m/s.
Lượng mưa: Cao su thường được trồng trong vùng có lượng mưa từ
1800 - 2500mm/năm. Số ngày mưa thích hợp nhất trong năm là từ 100 - 150
5
ngày. Ẩm độ không khí bình quân thích hợp cho sinh trưởng cao su là trên
hình thành Liên đoàn hợp tác xã cao su Thái Lan. Các hợp tác xã này đủ
6
mạnh để bán hàng trực tiếp cho nhà xuất khẩu cao su. Để giúp CSTĐ tăng
cường khả năng tiếp cận thị trường nhằm tránh bị chèn ép giá, nhà nước đã
khuyến khích thành lập các tổ chức tiếp thị theo nhóm nhằm tạo ra sản phẩm
cao su đủ lớn cho từng nhóm nông dân, giúp họ tăng khả năng cạnh tranh, bán
được giá cao. Khi số lượng nhóm đủ nhiều sẽ thành lập các Hiệp hội người
trồng cao su ở các tỉnh và liên kết thành Liên đoàn hiệp hội người trồng cao
su Thái Lan hoạt động khắp đất nước dưới sự quản lý của Cục Khuyến nông.
Ở Thái Lan còn có 2 chợ trung tâm tại hai vùng trồng cao su chính Hatyai và
Suratthani hoạt động theo cơ chế đấu giá để mua cao su trực tiếp từ các hợp
tác xã hoặc các hiệp hội người trồng cao su. Với cơ chế này, CSTĐ được tiếp
cận trực tiếp với giá bán hợp lý, không bị chèn ép bởi các nhà buôn trung
gian. [11]
Malaysia
Malaysia hiện có khoảng 1,31 triệu ha cao su, trong đó CSTĐ chiếm
89%. Tại Malaysia có Cơ quan phát triển đất liên bang (FELDA) được chính
phủ thành lập từ năm 1956 nhằm phục hồi đất nông nghiệp để tăng thu nhập
cho các nhóm nông dân và tăng diện tích cho các hộ. Các cây trồng được
FELDA hỗ trợ là cao su, cọ dầu, lúa và một số cây khác. Các hộ này được xây
dựng cơ sở hạ tầng, nhà ở, khai hoang trồng mới bởi các công ty chuyên trách
sau đó cấp cho dân tái định cư để chăm sóc khai thác. Chi phí đầu tư được
người dân hoàn trả dần hàng tháng khi thu hoạch trong vòng 15 năm. Tổ chức
thứ hai cũng có chức năng hỗ trợ CSTĐ là Cơ quan phát triển cao su tiểu điền
(RISDA). RISDA có nhiệm vụ hỗ trợ nông dân tái canh cao su và thành lập
một số cơ sở hạ tầng giúp phát triển CSTĐ, như xây dựng xưởng sơ chế cao
su, nhà kho… trên khắp lãnh thổ Malaysia. Theo phương thức này, các tiểu
điền kết hợp với nhau trên từng vùng thành một mini đại điền. RISDA thành
lập một công ty để quản lý và tổ chức thực hiện toàn bộ công việc trồng, khai
thác, chế biến đến tiếp thị sản phẩm theo phương thức đại điền. Tổ chức thứ
giao khoảng 2 ha cao su khai thác, bán mủ cho nhà máy trung tâm quốc
doanh. Đại điền quốc doanh sẽ khấu hao trừ 25% thu nhập của tiểu điền để
hoàn trả chi phí đầu tư.
- Phương thức Ban quản lý dự án (PMU): Theo chương trình này, nông
dân là chủ của vườn cây cao su ngay khi bắt đầu trồng. Họ chịu trách nhiệm
trồng và chăm sóc vườn cây của mình với vốn tín dụng từ nhà nước. Mô hình
8
này có hạn chế là tốn tiền, chỉ thích hợp với cao su đại điền nên không được
phổ biến.
Vào cuối thập niên 1990, Indonesia triển khai Mô hình tái canh cao su có
sự tham gia của nông dân và các thành phần liên quan khác nhằm khắc phục
những hạn chế của mô hình NES và PMU và đến nay vẫn chưa có đánh giá
đầy đủ về hiệu quả của mô hình. [10]
2.3 Tình hình phát triển cao su tiểu điền ở trong nước
Ngày 17/12, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý điều chỉnh danh mục dự
án "Đa dạng hóa nông nghiệp giai đoạn 2" do Cơ quan Phát triển Pháp (AFD)
đồng tài trợ với Ngân hàng Thế giới (WB) thành dự án "Phát triển cao su tiểu
điền" sử dụng vốn vay PS2 của AFD là 14,8 triệu Euro và viện trợ không
hoàn lại là 0,63 triệu Euro.
Được biết, trong kế hoạch từ nay đến năm 2020, Hiệp hội Cao su Việt
Nam sẽ phát triển thêm 180.000 ha cao su tiểu điền, đưa tổng diện tích cao su
tiểu điền của cả nước lên 350.000 ha (chiếm 50% tổng diện tích cao su của cả
nước). [9]
Theo Hiệp hội cao su Việt Nam, đến nay tổng diện tích cây cao su cả
nước đạt gần 500.000ha, tăng gấp 5 lần so với năm 1980; trong đó, diện tích
cao su tiểu điền chiếm trên 37%. Đặc biệt từ đầu năm 2005 đến nay, phần lớn
diện tích trồng mới lại là cao su tiểu điền, tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Bình
Dương, Bình Phước, Tây Ninh.
Tuy nhiên, do mức đầu tư thấp, trình độ kỹ thuật chưa cao, nên năng
suất mủ của cao su tiểu điền chỉ đạt bằng 1/2 năng suất cao su ở các nông
vẫn chỉ ở mức 1,4 tấn/ha. [10]
Bảng 1: So sánh cao su tiểu điền và cao su quốc doanh
Năm 2004 2007
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
CSTĐ
- Diện tích (ha) 287,291 63,3 296.280 53,9
-Sản lượng (tấn) 340.327 81,2 398.140 66,2
-Năng suất (kg/ha)
1.530 1.716
CSQD
- Diện tích (ha) 166.81 36,7 253.320 46,1
-Sản lượng (tấn) 78.673 18,8 203.560 33,8
-Năng suất (kg/ha) 981 1.440
[Nguồn: http://caosuvietnam.saigonnet.vn]
10
Hiện nay giá cao su tăng mạnh và lượng cầu trên thị trường lớn, lợi
nhuận từ cây cao su khích lệ các nông hộ trồng cao su. Mặc dù trong những
năm qua diện tích cao su có tăng cao nhưng năng suất và sản lượng chưa
tương xứng với tiềm năng của nó. Nguyên nhân là do trước đây, các nông hộ
chưa nắm vững kỹ thuật, thiếu thông tin về việc chọn giống, tỷ lệ trồng không
cao dẫn đến mật độ cây cạo thấp. Phân bón chưa đầy đủ trong thời kỳ kiến
thiết cơ bản. chăm sóc ít, cạo cây còn non chưa đạt đến tiêu chuẩn mở miệng
cạo làm cho cây mất sức, tay nghề cạo kém nên tỷ lệ cây bị phạm nhiều và
hao dăm lớn, chế độ cạo lớn kể cả trời mưa làm cây bị bệnh dẫn đến sản
lượng giảm.
Công tác bảo vệ thực vật chưa được chú trọng. Do thiếu vốn nên đầu tư
thấp, với 1 ha cao su quốc doanh suốt thời kỳ kiến thiết cơ bản được đầu tư
với giá từ 36 - 40 triệu đồng trong khi đó cao su tiểu điền chỉ từ 15 - 20 triệu
đồng, hộ dân nghèo lại càng tiết kiệm hơn.
Do giá tăng, người dân mong muốn mở thêm diện tích trồng cao su và
cao su trong thời kỳ sản xuất - kinh doanh thường phụ thuộc vào trình độ
thâm canh, khả năng kinh tế của các nhà sản xuất và giá cao su hiện hành. Giá
mủ ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất và thu nhập của người lao động,
nhất là đối với cao su tiểu điền làm ảnh hưởng trực tiếp tới sự đầu tư trở lại
của nông hộ. Điển hình như năm 2001, giá cao su mủ xuống thấp, các vườn
cao su không những không được đầu tư chăm sóc mà một số còn bị khai thác
để bán gỗ.
Tuy nhiên, năng suất mủ thấp, nhưng do lợi thế về điều kiện tự nhiên,
nguồn lao động dồi dào, chi phí lao động thấp cộng với việc áp dụng phương
12
pháp canh tác hiệu quả nên giá thành sản xuất cao su của Việt Nam tương đối
thấp so với các nước trong khu vực.
Trong giai đoạn 1994 - 1997, chi phí sản xuất cao su trung bình của Việt
Nam khoảng 650 USD/tấn, chỉ bằng khoảng 60% chi phí sản xuất cao su của
Malaysia và 70% chi phí sản xuất của Indonesia và Thái Lan. Đến nay, giá
thành sản xuất cao su đã giảm xuống đáng kể từ mức trên 600 USD/tấn xuống
mức chỉ còn dưới 500 USD/tấn. Giá thành sản xuất giảm đã cải thiện đáng kể
khả năng cạnh tranh của ngành cao su trong những năm gần đây. [11]
2.4 Tình hình phát triển cao su tiểu điền ở một số tỉnh miền Trung
Cây cao su cũng được người dân miền Trung hưởng ứng rất nhiệt tình.
Phải sống trong vùng mà thiên nhiên không mấy ưu đãi ngưng họ vẫn không
ngừng mở mang diện tích đầu tư phát triển cao su tiểu điền.
Thừa Thiên-Huế: Phát triển diện tích trồng cây cao su lên hơn 11.000 ha
Trong giai đoạn từ nay đến năm 2012, tỉnh Thừa Thiên-Huế có kế hoạch
trồng mới hơn 4.000 ha cây cao su trên vùng gò đồi tại các huyện Nam Đông,
Phú Lộc, Hương Trà, Phong Điền và A Lưới, nâng diện tích cây cao su toàn
tỉnh lên hơn 11.000 ha. Mấy năm qua, từ các dự án đa dạng hoá nông nghiệp,
và chương trình 327 hỗ trợ bà con nông dân các địa phương trong tỉnh Thừa
Thiên-Huế đã trồng được hơn 7.500 ha cao su. Cao su đang được biết đến như
là cây xoá đói giảm nghèo cho đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa tại các
chức này là nguồn vốn vay từ ngân hàng phát triển Nông nghiệp. Lượng vốn
được vay tùy thuộc vào quy mô diện tích. Hiện nay sản phẩm của các tổ chức
này chủ yếu là mủ thô cung cấp cho các Doanh nghiệp Nhà nước hoặc tư
nhân làm công tác chế biến, giá cả không ổn định [1].
14
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG. PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những hộ có tham gia trồng cao su từ năm 1992
đến 2009 trên địa bàn xã Cam Nghĩa huyện Cam Lộ tỉnh Quảng Trị.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại xã Cam Nghĩa huyện Cam Lộ tỉnh
Quảng Trị.
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội liên quan đến phát triển cao su
tiểu điền
- Điều kiện tự nhiên
- Điều kiện kinh tế xã hội
3.3.2 Thực trạng phát triển cao su tiểu điền hiện nay của xã Cam Nghĩa
- Tình hình phát triển cao su tiểu điền trong những năm trở lại đây ở cấp
cộng đồng.
- Tình hình phát triển cao su tiểu điền trong những năm trở lại đây ở cấp
nông hộ.
3.3.3 Vai trò của cao su tiểu điền trong kinh tế hộ
3.3.4 Những nhân tố cản trở đến việc phát triển cao su tiểu điền
* Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
- Khí hậu thời tiết
- Ảnh hưởng của đất
* Nhóm nhân tố nội lực
- Ảnh hưởng của vốn
Quan sát hiện trường thực tế trong thời gian nghiên cứu đề tài. Phương
pháp này giúp phản ánh một cách thực tế và khách quan hơn các thông tin liên
quan đến đề tài. Nội dung quan sát bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến
việc phát triển cao su tiểu điền của người dân địa phương xã Cam Nghĩa.
b. Phỏng vấn hộ
- Đối với phỏng vấn hộ
+ Tiêu chí chọn hộ: Là những hộ có trồng cao su từ năm 1992 đến
năm 2009
16
+ Dung lượng mẫu: Tất cả là 30 hộ trong đó 10 hộ trồng cao su theo
chương trình 327, 18 hộ trồng theo chương trình Đa dạng hóa, 2 hộ trồng theo
Đề án phát triển cao su tiểu điền của huyện (Đề án huyện)
+ Phương pháp chọn hộ:
Xin danh sách tất cả các hộ có tham gia trồng cao su từ năm 1993 đến nay
tại địa bàn xã Cam nghĩa huyện Cam Lộ, tính phần trăm các hộ trồng cao su theo
CT 327, Đa dạng hóa, Đề án huyện sau đó tính mỗi loại hộ đó đối với 30 hộ. Từ
đó được kết quả mỗi loại hộ như trên. (Các hộ trên không trùng nhau)
- Đối với phỏng vấn cán bộ chính quyền địa phương, người am hiểu
thì thông tin nào còn thiếu mà phỏng vấn hộ còn thiếu hoặc mang tính
chất kiểm cứng, đối chiếu.
c. Thảo luận nhóm người dân:
Nhóm thảo luận gồm 15 người bao gồm là những người có am hiểu sâu
sắc đến tình hình phát triển cây cao su tiểu điền như là khuyến nông viên cơ
sở, những người có tham gia khai thác mủ cao su của công ty cao su Tân Lâm
và có các hộ trồng cao su theo các chương trình.
3.3.3 Xử lý số liệu
Dùng phần mềm excel để nhập và xử lý thông tin đã thu thập được.
Tiến hành mã hóa và thống kê các số liệu thu thập được sau đó phân
tích định tính và định lượng.
Đối với thông tin định tính thì phân tích đánh giá, đối với thông tin
- Tiểu vùng địa hình thoải lượn sóng phân bố ở vùng Đông Bắc của xã
độ cao 50 - 100 m hình thành bởi các dãi đồi liên tiếp nhau thích hợp sử dụng
vào mục đích nông nghiệp nhất là cây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày.
- Tiểu vùng đồng bằng phân bố ở Trung tâm xã, là vùng thuận tiện cho
việc phát triển sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên vùng này không lớn.
c. Đất đai
Với tổng diện tích đất tự nhiên 5.578,05 ha, trong đó sở hữu một diện tích
lớn đất đỏ bazan cho thấy tiềm năng phát triển nông nghiệp, đặc biệt là các cây
dài ngày như hồ tiêu và cao su. Địa hình phân bố thành các tiểu vùng như sau:
18
- Đất nâu đỏ bazan (fk) 30% đất tự nhiên phân bố ở phía Bắc và vùng
Trung tâm xã phần lớn có địa hình lượn sóng, thấp, thoải, độ dốc dưới 15
0
.
Loại đất này có thể đưa vào sử dụng trông cây hồ tiêu, cao su và cà phê.
- Đất đen trên Bazan (Ru) là loại đất hình thành do phong hóa của bazan
chiếm 2,4% đất tự nhiên, là loại đất có khả năng sản xuất lúa chủ yếu của xã.
- Đất đỏ vàng trên đá sét (fs) phù sa không bồi chiếm 67,6% phân bố ở
phía nam và phía bắc của xã. Phần lớn độ dốc > 15
0
. Địa hình chia cắt mạnh.
thảm thực vật bị phá hủy nghiêm trọng. Độ pH biến động từ 4,8 - 5,0, là loại
đất có thể đưa vào sử dụng sản xuất lâm nghiệp.
Bảng 3: Cơ cấu sử dụng đất đai của xã Cam Nghĩa năm 2009
TT Mục đích sử dụng đất
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
Tổng diện tích tự nhiên 5.578,05 100
trung đầu tư vào cây cao su. Nó không chỉ có giá trị lớn trong việc phòng hộ
mà bên cạnh đó nó còn giữ một vị trí quan trọng trong sự tăng trưởng của xã
và thu nhập của người dân trên địa bàn xã. Phần đất chưa sử dụng của xã của
cũng chiếm một tỷ lệ khá cao 14,00 % , tuy nhiên diện tích này chủ yếu là đất
đồi núi trọc, có độ dốc cao, khó canh tác chiếm 13,93%, đất bằng chưa sử
dụng chiếm 0,07%, diện tích này chủ yếu là đất dự phòng của xã nên có thể
nói tiềm năng về đất trồng cao su của xã cũng hạn chế.
d. Khí hậu thời tiết
Cũng như đặc điểm chung của tỉnh và huyện, xã Cam Nghĩa nằm trong
vùng chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa tương đối điển hình của tỉnh
Quảng Trị. Đặc trưng của nó là có nền bức xạ nhiệt cao và có sự phân hóa
theo mùa rõ rệt. Tác động của hoàn lưu khí quyển và địa hình ở đây đóng vai
trò quyết định khí hậu của huyện. Khí hậu ở đây mang đặc trưng của khí hậu
gió mùa khá điển hình, phân thành hai mùa chính là mùa rét - ẩm ướt bắt đầu
từ tháng 8 đến tháng 2, mùa khô - nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, còn
giai đoạn giữa hai mùa tạo thành hai mùa chuyển tiếp có đặc trưng khí hậu rất
đặc biệt 25,3
0
c và có sự biến động rất rõ rệt tùy theo từng thời điểm trong
năm. Trong các tháng 4 đến tháng 8 gió Tây Nam khô nóng qua đèo Lao Bảo
và tràn qua lãnh thổ huyện, càng đi về phía Đông càng nóng lên, trong mùa
này có lúc gió Tây Nam khô nóng kéo dài hàng chục ngày làm cho không khí
nóng lên đến 40
0
c, độ ẩm tụt xuống dưới 35%, trong khi đó ở Tây Trường
Sơn mưa to và khí hậu mát mẻ.
Mùa hè gió Tây Nam khô nóng. Đây là nguyên nhân làm hạn chế đến
sinh trưởng cũng như khai thác mủ làm hao hụt nguồn nước, gây khô hạn, đất
nứt nẻ. Mùa Đông gió Đông Bắc ẩm ướt, mưa quá tập trung, bão lụt nhiều
làm gẫy cây cao su. Ẩm độ bình quân trong 5 năm trở lại đây là khá cao
nắng
(giờ)
2003 25,5 81 1.989,9 149 1.906
2004 24,9 83 2.000,6 148 1.845
2005 25,1 83 3.060,7 168 1.551
2006 25,5 83 2.113,6 132 1.844
2007 21,1 84 2.806,5 160 1.628
2008 27 83 2.724,6 150 1.730
2009 28 84 2.678,4 142 1.856
Trung bình 25,3 83 2.482,0 149,9 1.765,7
[Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Trị]
21
Yếu tố khí hậu thời tiết là yếu tố khách quan quan trọng có tác động rất
lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cây cao su. Đây là yếu tố mà người
dân khó kiểm soát nhất. Do vậy ngoài việc trồng những loại cây thích hợp với
điều kiện ở đây thì người dân còn phải có những biện pháp kịp thời để phòng
chống thiệt hại có thể xảy ra bất ngờ.
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
a. Tình hình dân số lao động
Xã Cam Nghĩa huyện Cam Lộ gồm 14 thôn (Bảng Sơn 1, Bảng Sơn 2,
Bảng Sơn 3, Phương An1, Phương An 2, Cam Lộ Phường, Tân Sơn, Cu
Hoan, Nghĩa Phong, Định Sơn, Thượng Nghĩa, Quật Xá, Hoàn Cát, Đông
Lai) với tổng số hộ là 758 hộ với tổng số khẩu là 5.245 khẩu, số người ở độ
tuổi lao động là 2.131 người. Nhìn chung mức thu nhập của người dân toàn xã
còn thấp nhưng người dân vẫn không ngừng phát triển sản xuất để đưa cuộc
sống đi lên. Từ khi có chương trình phát triển cao su thì người dân hưởng ứng
rất nhiệt tình.
Là một xã miền núi nên chất lượng nguồn lao động không cao, số lao
động có trình độ chuyên môn còn ít và trong cơ cấu lao động thì chủ yếu là là
lĩnh vực lâm nghiệp và nông nghiệp. Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên là
su đem lại rất nhiều lợi ích lâu dài so với các loại cây lâu năm khác.
Bảng 5: Sự phân bố diện tích cao su trồng mới của xã qua các năm
Đơn vị tính: ha
Thôn CT 327 ĐDH Đề án huyện Tổng
Bảng Sơn 1 20,8 10,55 0 31,35
Bảng Sơn 2 23,96 11,44 0 35,4
Bảng Sơn 3 7,46 8,02 0 15,48
Đông Lai 8,56 9,35 0 17,91
Cam Lộ Phường 10,53 16,96 0 27,45
Phương An 1 20,92 18,92 0 39,84
Phương An 2 14,7 26,66 1,06 42,42
Cu Hoan 0 18,51 8,19 26,7
Nghĩa Phong 7,39 9,2 0 16,59
Định Sơn 24,14 56,8 3,9 84,84
Thượng Nghĩa 0 27,65 6,1 33,71
Quật Xá 10,02 22,52 1,9 34,44
Hoàn Cát 0 42,95 9,5 52,45
Tân Sơn 0 25,72 0 25,72
Tổng cộng 148,5 305,2 30,7 484,3
[Nguồn: Số liệu thống kê của xã năm 209]
23
Từ bảng số liệu cho ta thấy toàn xã có diện tích cao su rất lớn là 484,3
ha trong đó năm các năm trồng theo chương trình 327 có diện tích lên đến
148,5 ha. Trong năm này hưởng ứng chương trình 327 của chính phủ, người
dân được hỗ trợ rất nhiều (cả vốn lẫn kỹ thuật). Những năm tiếp theo người
dân cũng được hưởng lợi từ chương trình Đa dạng hóa nên việc mở rộng diện
tích cũng tăng lên đáng kể, chương trình này triển khai từ năm 2003 - 2006.
Lúc này người dân đã thấy rõ được giá trị và hiệu quả kinh tế mà cây cao su
mang lại. Đến năm 2009, do thấy rằng có một số diện tích cây trồng của
người dân đang trồng cho hiệu quả thấp, mặt khác cán bộ và nhân dân địa
tăng lên khá lớn đến 304 hộ. Năm thực hiện đề án của huyện giao là 44 hộ,
con số này khá khiêm tốn nhưng không có nghĩa là người dân không muốn
tham gia trồng cao su nữa mà họ rất muốn nhưng điều kiện đất đai và cả các
điều kiện khác nữa đều không cho phép. Lúc này diện tích cao su toàn xã đã
khá lớn nên diện tích đất cho trồng cao su đã thu hẹp và dường như là không
có nhiều nữa. Các con số này cũng khẳng định một điều rằng cây cao su đang
người dân rất quan tâm.
4.2.1 Quy mô trồng cao su trong các nông hộ qua các năm
Bảng 7: Quy mô trồng cao su của hộ qua các chương trình
Đơn vị tính: ha/hộ
CT CT 327 Đa dạng hoá Đề án huyện
Số hộ 10
18 2
Tuổi TB của chủ hộ 49.6
35.5 32
Nhân khẩu/hộ 5,8
4,3 4,5
Lao động chính 2,6
2 2
Diện tích 9,42
17,97 1,5
Qui mô (ha/hộ) 0,94
1,00 0,75
[Nguồn: Khảo sát thực tế, 2010]
Từ kết quả bảng trên cho thấy từ chương trình 327 của chính phủ do
vừa mới đầu tư nên người dân chưa mạnh dạn trồng với diện tích lớn. Mặt
khác đây là cây lâu năm nên thời gian chăm sóc dài lại lâu thu hoạch nên
người dân không dám chắc, diện tích bình quân trên hộ là 0,94 ha. Cho đến
những năm có chương trình ĐDH thì người dân mới nhận rõ được hiệu quả
kinh tế mà cây cao su mang lại nên hộ đã tập trung trồng với quy mô diện tích