ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VI THỊ HẰNG
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TÂN HÒA, HUYỆN PHÚ BÌNH,
TỈNH THÁI NGUYÊN”
Khãa luËn tèt nghiÖp ®¹i häc
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế và PTNT
Khóa học : 2010 - 2014 THÁI NGUYÊN - 2014
LỜI CẢM ƠN
Đây là đợt thực tập nghề quan trọng, giúp tôi củng cố kiến thức đã học và
để hoàn thành khóa luận thực tập tốt nghiệp một cách tốt đẹp, tôi đã nhận được
rất nhiều sự giúp đỡ tận tình của chính quyền địa phương và nhà trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế & Phát
triển nông thôn và đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt tình của giảng viên ThS. Đặng Thị
Thái, người đã tận tình giúp đỡ, trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực tập và
hoàn thành khóa luận.
Tôi có lời cản ơn sâu sắc đến các cán bộ tại UBND xã Tân Hòa, cùng toàn thể
người dân tại đây đã cung cấp cho tôi những tài liệu rất cần thiết cho khóa luận.
Do có nhiều giới hạn về mặt thời gian, cũng như kinh nghiệm thực tế, nội
dung đề tài không tránh khỏi được những sai sót. Vì vậy tôi rất mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của các thầy cô để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2014
Sinh viên Vi Thị Hằng
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Bảng 3.2: Giá trị sản xuất của các ngành của xã Tân Hòa 2011 - 2013 29
Bảng 3.3. Khảo sát thu nhập của các hộ điều tra 31
Bảng 3.4. Phân loại hộ điều tra 33
Bảng 3.5. Tình hình cơ bản của hộ điều tra 34
Bảng 3.6. Trình độ và chuyên môn của chủ hộ phân theo nhóm hộ 35
Bảng 3.7. Phương tiện sản xuất 36
Bảng 3.8. Chi phí bình quân 1 sào lúa/vụ của các nhóm hộ trong năm 2013 37
Bảng 3.9. Chi phí chăn nuôi bình quân/hộ chia theo nhóm hộ 39
Bảng 3.10. Tổng hợp chi phí các ngành theo nhóm hộ 41
Bảng 3.11. Thu nhập bình quân/hộ từ trồng trọt theo nhóm hộ 42
Bảng 3.12. Thu nhập bình quân/hộ từ chăn nuôi theo nhóm hộ 44
Bảng 3.13. Tổng hợp các khoản thu từ các ngành chia theo nhóm hộ 45
Bảng 3.14. Summary 48
Bảng 3.15. ANOVA 48
Bảng 3.16 : Hệ số co dãn (hồi quy) giữa tổng thu với các yếu tố cơ bản tác động
đến thu nhập của hộ năm 2013 49
DANH MỤC CÁC HÌNH
Biểu đồ 3.1: Phân bố thu nhập của hộ điều tra 32
Biểu đồ 3.2. Tổng chi phí các ngành theo nhóm hộ 41
Biểu đồ 3.3. Các khoản thu từ các ngành năm 2013 chia theo nhóm hộ 46
2.4.2. Phương pháp xử lý số liệu 18
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 20
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 20
3.1.2. Cơ sở hạ tầng 21
3.1.3. Các nguồn tài nguyên 23
3.1.4. Tình hình kinh tế 25
3.1.5. Tình hình dân số lao động, việc làm 30
3.1.6. Những thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng đến sản xuất của hộ dân ở địa phương 30
3.2. Tình hình phát triển kinh tế hộ trên địa bàn xã Tân Hòa 31
3.2.1. Tình hình cơ bản của hộ điều tra 31
3.2.2. Đầu tư sản xuất của các nhóm hộ điều tra 37
3.2.3. Tổng hợp thu nhập từ các ngành theo nhóm hộ 42
3.3. Đánh giá các nhân tố tác động đến thu nhập của hộ 47
3.4. Đánh giá các nhân tố khác ngoài mô hình có ảnh hưởng đến kinh tế hộ 51
3.4.1. Thị trường 51
3.4.2. Điều kiện tự nhiên 52
3.4.3. Chính sách 52
Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP 53
4.1. Quan điểm, phương hướng, mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
trong những năm tiếp theo 53
4.2. Giải pháp của địa phương 53
4.2.1. Giải pháp về đất đai 53
4.2.2. Giải pháp cho thị trường 54
4.2.3. Giải pháp về lao động 54
4.3. Nhóm giải pháp của hộ 55
4.3.1. Giải pháp về nguồn nhân lực 55
4.3.2. Giải pháp về tiếp cận chính sách 55
đã thực sự làm cho nền nông nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn
khiến bộ mặt nông nghiệp nông thôn và đời sống của người dân có những bước
thay đổi đáng kể. Có thể nói việc xem xét các yếu tố tác động đến tăng trưởng
2
kinh tế gia đình, sự cần thiết tháo gỡ những bất cập, để có hiệu quả sử dụng tối
ưu các nguồn lực trong sự phát triển kinh tế của hộ.
Xuất phát từ sự cấp thiết của vấn đề, từ yêu cầu thực tiễn như đã nêu ở
trên. Đồng thời với mục đích khẳng định vai trò, vị trí của kinh tế hộ trên con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới nền kinh tế
hiện nay của nước ta, tôi đưa ra đề tài:
“Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ trên địa
bàn xã Tân Hòa, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”.
Trong đề tài này, tôi tập trung nghiên cứu các hộ nông dân nhằm để làm
rõ những mặt khó khăn, cũng như những thuận lợi của các yếu tố tác động đến
sự tăng trưởng kinh tế hộ nông dân tại xã Tân Hòa. Từ việc nghiên cứu thực tế
và sự đánh giá mong muốn của người dân, đề tài hy vọng cung cấp những thông
tin khách quan xung quanh các yếu tố làm phát triển kinh tế, phát triển hoạt
động sản xuất nông, lâm nghiệp và sản xuất kinh doanh của hộ.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
- Nghiên cứu và phân tích nhân tố tác động đến phát triển kinh tế hộ.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế hộ để có hiệu quả tốt hơn.
Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hoá các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về phát triển kinh tế
hộ nông dân.
- Nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
- Nghiên cứu, phân tích các nhân tố chính ảnh hưởng đến thu nhập của hộ.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ tại địa bàn
xã Tân Hòa.
- Thống kê Liên Hợp Quốc cũng có khái niệm: “Hộ gồm những người
sống chung dưới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm chung và cùng có chung một
ngân quỹ”.
- Giáo sư Mc Ge (1989) - Đại học tổng hợp Colombia (Canada) cho rằng:
“Hộ là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết
tộc ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm”.[4]
- Nhóm “hệ thống thế giới” (các đại biểu Wallerstan (1982), Wood
(1981,1982), Smith (1985), Martin và BellHel (1987) cho rằng: “Hộ là một
nhóm người có cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh.
Hộ là một đơn vị kinh tế giống như các công ty, xí nghiệp khác”.
- Nhóm các học giả lý thuyết phát triển cho rằng: “Hộ là một hệ thống các
nguồn lực tạo thành một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhưng lại có mối quan
hệ chặt chẽ và phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn”.[7]
- Tại hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan (năm
1980) các đại biểu nhất trí cho rằng: “Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên
quan đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế”.[6]
1.1.2. Hộ nông dân
Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa là
một đơn vị tiêu dùng.
Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt
động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động
phi nông nghiệp ở nông thôn”.[1]
5
Theo Ellis –1988, “Hộ nông dân là các nông hộ, thu hoạch các phương
tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông
trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng
bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn
chỉnh không cao”.[3]
Hộ nông dân là những người có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất,
nông dân là có thu nhập cao không kể thu nhập ấy do nguồn gốc nào, trồng trọt,
chăn nuôi hay ngành nghề đó là kết quả chung của lao động gia đình.
Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất
xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi
là của chung để tiến hành sản xuất. Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn
chung, mọi quyết định trong sản xuất - kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào
chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển.
Kinh tế hộ nông dân là tế bào kinh tế - xã hội được hình thành trên cơ sở
các mối quan hệ: hôn nhân, huyết thống, phong tục, tâm linh, tâm lý, đạo đức.
Là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông dân và nông thôn. Kinh tế hộ nông
dân đã tồn tại từ rất lâu ở các nước nông nghiệp, tự chủ trong sản xuất - kinh
doanh nông nghiệp, là pháp nhân kinh tế, bình đẳng trước pháp luật và là chủ thể
nền kinh tế thị trường.[4]
1.1.4. Vai trò của kinh tế hộ
Kinh tế hộ đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần đổi mới công nghệ
sản xuất. Hộ là nơi tích lũy kinh nghiệm sản xuất truyền thống cũng là nơi áp
dụng công nghệ mới vào sản xuất. Khi chuyển sang sản xuất hàng hóa, xuất hiện
cạnh tranh thị trường, hộ buộc phải đổi mới công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm có
chất lượng tốt hơn với giá rẻ hơn. Việc đổi mới công nghệ trước hết phải nhằm
khai thác tốt kinh nghiệm truyền thống từ lâu đời.[1]
Kinh tế hộ là tế bào của xã hội, sự phát triển của nó trước tiên giúp nâng
cao đời sống của người dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước.
1.1.5. Đặc trưng của kinh tế hộ
7
- Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu, quá trình quản lý và sử
dụng các yếu tố sản xuất.
- Kinh tế hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh rất cao. Do kinh tế hộ
có quy mô nhỏ nên dễ điều chỉnh hơn so với các đơn vị khác. Nếu gặp điều kiện
thuận lợi hộ có thể tập trung mọi nguồn lực vào sản xuất để mở rộng sản xuất,
tư liệu sản xuất chính, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ
yếu lao động gia đình.
+ Hộ kiêm nông là các hộ vừa làm nông nghiệp, vừa hoạt động sản xuất
các ngành nghề khác như: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ…
- Căn cứ vào mức thu nhập của nông hộ bao gồm: Hộ khá, hộ trung bình,
hộ nghèo. Sự phân biệt này thường dựa vào quy định chung của cả nước hoặc
quy định của từng địa phương.
1.1.7. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới sự phát triển của kinh tế hộ
- Nhóm các yếu tố chủ quan: Đây là những yếu tố mà bản thân hộ có thể
quyết định được. Mỗi hộ có hoàn cảnh riêng, có trình độ, có phương tiện và các
yếu tố sản xuất khác nhau. Đó là các yếu tố chủ quan, nó tác động mạnh mẽ đến
sự phát triển của kinh tế hộ. Các yếu tố bao gồm:
+ Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không gì có thể thay thế
được. Do tính chất đặc biệt của nó mà đất đai có thể coi như một dạng của vốn
nhưng lại được xem như một nguồn lực riêng biệt. Hướng sử dụng đất đai quy
định hướng sử dụng các tư liệu sản xuất khác. Vì vậy hộ cần sử dụng có hiệu
quả trên diện tích mình có sao cho có hiệu quả cao nhất.
+ Vốn đầu tư cho sản xuất là toàn bộ các giá trị đầu vào, bao gồm những
tài sản, vật phẩm trong sản xuất kinh doanh và các ngành sản xuất khác. Trong
nông nghiệp vốn là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Vốn quyết định đến quy mô sản xuất từ đó ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
và hiệu quả sản xuất kinh doanh. ảnh hưởng đến khả năng khai thác các nguồn
lực vào sản xuất. Vốn được xếp vào các yếu tố chủ quan vì chủ hộ có quyền huy
động hoặc quyết định phân bổ vốn theo chu kỳ sản xuất. Vốn được tạo ra từ hai
9
nguồn cơ bản là vốn tự có và vốn đi vay. Việc sử dụng vốn có hiệu quả hay
không nó quyết định đến sự phát triển kinh tế hộ. Nếu ta cố quyết định các yếu
tố khác, chỉ xét riêng ảnh hưởng của vốn đến thu nhập của hộ thì vốn đầu tư cho
sản xuất và thu nhập của hộ là hai đại lượng đồng biến.
thuận lợi cây trồng và con gia súc phát triển tốt sẽ đem lại năng suất cao, ngược
lại sẽ phát triển chậm, năng suất chất lượng giảm từ đó dẫn đến hiệu quả sản xuất
thấp kém.
+ Thị trường là nơi diễn ra trao đổi hàng hóa, thị trường có tác động rất
lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh thông qua cơ chế thay đổi giá cả. Giá cả lại
phụ thuộc vào quy luật cung cầu trên thị trường. Có hai loại thị trường là thị
trường đầu vào và thị trường đầu ra.
Đối với thị trường đầu ra (thị trường tiêu thụ sản phẩm), nó phản ánh cung
sản phẩm. Trong nông nghiệp các sản phẩm thường khó bảo quản, vì vậy rủi ro
do thị trường đem lại trong sản xuất nông nghiệp là rất lớn. Bên cạnh đó thị
trường các sản phẩm trong nông nghiệp là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nên
người nông dân không thể kiểm soát được thị trường, vì vậy sự tác động của thị
trường làm cho thu nhập của nông hộ không ổn định.
Đối với thị trường các yếu tố đầu vào, giá cả đầu vào trên thị trường ảnh
hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất của nông hộ, vì thế nó tác động rất lớn đến
quy mô sản xuất, đến mức độ đầu tư của nông dân. Nếu giá đầu vào tăng làm
cho chi phí đầu tư tăng, dẫn đến hiệu quả sản xuất giảm xuống.
+ Chính sách của Nhà nước: Trong quản lý kinh tế mỗi chính sách ban
hành đều có tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh dù lớn hay nhỏ.
Nếu chính sách đúng đắn sẽ kích thích được sản xuất và ngược lại. Vì vậy chính
sách của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của hộ nói chung hay đến
sự phát triển của kinh tế nông hộ nói riêng. Trong quá trình phát triển nông
nghiệp nông thôn ở Việt Nam, Nhà nước ta đã chứng tỏ được vai trò của mình
trong quản lý kinh tế. Nó thể hiện rõ nét nhất ở chính sách ruộng đất trong công
cuộc đổi mới. Chính sách này đã làm thay đổi thu nhập của toàn bộ dân cư trong
nông thôn.
11
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân ở các nước trên thế giới và
số chính sách có liên quan đến việc phát triển kinh tế vùng núi ban hành (từ
1950 đến năm 1980).
Thứ nhất: Xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn. Mạng lưới đường
bộ bổ sung cho mạng lưới đường sắt, phá thế cô lập các vùng ở xa (Bắc, Đông
Bắc, Nam ), đầu tư xây dựng đập nước ở các vùng.
Thứ hai: Chính sách mở rộng diện tích canh tác và đa dạng hoá sản phẩm
như cao su ở vùng đồi phía Nam, ngô, mía, bông, sắn, cây lấy sợi ở vùng núi
phía Đông Bắc.
Thứ ba: Đẩy mạnh công nghiệp hoá chế biên nông sản để xuất khẩu như
ngô, sắn sang các thị trường châu Âu và Nhật Bản.
Thứ tư: Thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài và chính sách thay thế
nhập khẩu trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ. Nhà nước cũng thực hiện chính sách
trợ giúp tài chính cho nông dân như: Cho nông dân vay tiền với lãi suất thấp,
ứng trước tiền cho nông dân và cam kết mua sản phẩm với giá định trước cùng
với nhiều chính sách khác đã thúc đẩy vùng núi Thái Lan phát triển theo hướng
sản xuất hàng hoá. Hàng năm có 95% sản lượng cao su, hơn 4 triệu tấn dầu cọ
do nông dân sản xuất ra. Song trong quá trình thực hiện có bộc lộ một số vấn đề
còn tồn tại: đó là việc mất cân bằng sinh thái, hậu quả của một nền nông nghiệp
làm nghèo kiệt đất đai. Kinh tế vẫn mất cân đối giữa các vùng, xu hướng nông
dân rời bỏ nông thôn ra thành thị lâu dài hoặc rời bỏ nông thôn theo mùa vụ
ngày càng gia tăng.
- Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở Đài Loan: Ý thức được xuất
phát điểm của mình có vị trí quan trọng là nông nghiệp nhưng ở trình độ thấp,
nên ngay từ đầu Đài Loan đã coi trọng và chú ý đầu tư cho nông nghiệp. Trong
những năm 1950 đến 1960 chủ trương "Lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp, lấy
công nghiệp phát triển nông nghiệp". Từ năm 1951 đã có chương trình cải cách
ruộng đất theo 3 bước: Giảm tô, giải phóng đất công, bán đất cho tá điền, thực
hiện người cày có ruộng (1953 - 1954).
13
yếu kém của mình, thời kỳ này kinh tế hộ không được coi trọng. Đây là thời kỳ
xuống dốc của nền nông nghiệp nước ta.
- Từ 1981 - 1987: Chỉ thị 100CT/W được Ban bí thư trung ương Đảng
ban hành, quyết định thực hiện chế độ khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và
người lao động, đời sống nông dân phần nào được cải thiện, tích lũy cho hợp tác
xã. Đây có thể nói là bước khởi đầu cho sự đổi mới.
- Từ 1988 đến nay: Ngày 5/5/1988 Bộ Chính trị và Ban Chấp hành trung
ương Đảng đã ban hành Nghị Quyết 10 về: "Đổi mới quản lý kinh tế trong nông
nghiệp và nông thôn". Thừa nhận kinh tế hộ là đơn vị kinh tế cơ bản trong sản
xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Hộ gia đình được giao quyền sử
dụng đất lâu dài, hộ trở thành đơn vị kinh tế độc lập. Hàng loạt những chính
sách đổi mới đó đã tạo được động lực thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển. Đưa
nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới sau Thái Lan.
Kể từ đó, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới
về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp,
sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối
ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế.
Con đường đổi mới đó đã giúp Việt Nam giảm nhanh được tình trạng
nghèo đói, bước đầu xây dựng nền kinh tế công nghiệp hóa, đạt được tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao đi đôi với sự công bằng tương đối trong xã hội.
Hiến pháp sửa đổi năm 1992 đã khẳng định đảm bảo sự tồn tại và phát
triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường
và khu vực đầu tư nước ngoài. Tiếp theo đó là hàng loạt các đạo luật quan trọng
của nền kinh tế thị trường đã được hình thành tại Việt Nam như: Luật đất đai;
Luật thuế; Luật phá sản; Luật môi trường; Luật lao động và hàng trăm các văn
bản pháp lệnh, nghị định của chính phủ đã được ban hành nhằm cụ thể hóa việc
thực hiện luật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
15
đổi mới, tạo thuận lợi cho việc chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập
trung, quan liêu, bao cấp, sang nền kinh tế thị trường, nhằm giải phóng sức sản
xuất, huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, tạo đà cho tăng trưởng và
phát triển kinh tế.
Qua đó cho thấy sự quan tâm của tỉnh trong phát triển kinh tế cùng với đó
là sự hỗ trợ, khuyến khích người nông dân tăng gia sản xuất. Trong kinh tế thị
trường, việc chon các loại cây trồng, vật nuôi để cho sản xuất hàng hóa lớn đã
khó, thì việc tiếp cận đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp mấy năm gần
đây cũng đang khó khăn không kém. Thị trường đầu vào của sản xuất nông
nghiệp biến động rất bất lợi cho các hộ nông dân, giá lên cao liên tục, giao thông
khó khăn, vốn ít nên khó khăn trong việc mua giá thấp với khối lượng lớn (mua
buôn), mua lẻ thì giá lại rất cao, thiếu những nhà cung cấp tin cậy và ổn định, và
còn thiếu cả thông tin để có cơ hội lựa chọn phương án tối ưu. Vì thế để thúc đẩy
kinh tế hộ nông dân phát triển nhà nước cần có chính sách hỗ trợ cho người nông
dân về giá vật tư nông nghiệp và thông tin về nhu cầu của thị trường.