ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÃ THANH HẢI Tên đề tài:
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT
TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ CAO CHƯƠNG -
HUYỆN TRÀ LĨNH - TỈNH CAO BẰNGKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên nghành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : KT&PTNT
Khóa học : 2010 – 2014 Th¸i Nguyªn, n¨m 2014
Th¸i Nguyªn, n¨m 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÃ THANH HẢI Tên đề tài:
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT
TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ CAO CHƯƠNG -
HUYỆN TRÀ LĨNH - TỈNH CAO BẰNGKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên nghành : Kinh tế nông nghiệp
Lớp : K42B - KTNN
Khoa : KT&PTNT
Khóa học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: Th S. Đặng Thị Thái
Lã Thanh Hải DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa
CNH - HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
UBND Ủy ban nhân dân
NN - PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
BQ Bình quân
ĐVT Đơn vị tính
CN - TTCN Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
LĐ Lao động
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Tình hình sử dụng tài nguyên đất của xã năm 2013 32
Bảng 3.2 Thành phần dân tộc trên địa bàn xã Cao Chương năm 2013 33
Bảng 3.3. Tình hình dân số và lao động của xã qua 3 năm 2011-2013 34
Bảng 3.4. Giá trị sản xuất các ngành của xã Cao Chương 2011-2013 38
Bảng 3.5. Khảo sát thu nhập của nhóm hộ điều tra 39
Bảng: 3.6: Phân nhóm hộ thu nhập 40
Bảng 3.7:Tình hình cơ bản các hộ điều tra 41
Bảng 3.8. Trình độ của các chủ hộ điều tra 44
Bảng 3.9: Chi phí cho 1 sào lúa/vụ theo hộ 46
Bảng 3.10: Chi tiết chi phí chăn nuôi của các nhóm hộ 47
Bảng 3.11: Tổng thu giữa các nhóm hộ 49
Bảng 3.12: Summary 52
Bảng 3.13: ANOVA 53
Bảng 3.14: Hệ số co dãn (hồi quy) giữa tổng thu với các yếu tố cơ bản tác
động đến thu nhập của hộ năm 2013 53
2.1.3. Phạm vi thời gian 20
2.2. Nội dung nghiên cứu 20
2.3. Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 21
2.3.1.1. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 21
2.3.1.2. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 22
2.3.2. Phương pháp sử lý số liệu 22
2.4. Các nhân tố tác động đến phát triển kinh tế hộ 22
2.5. Lý thuyết cho hàm hồi quy 23
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 27
3.1.1.1. Vị trí địa lý 27
3.1.1.2. Địa hình, địa mạo 27
3.1.1.3. Khí hậu 28
3.1.1.4. Thuỷ văn 29
3.1.2. Cơ sở hạ tầng 29
3.1.3. Các nguồn tài nguyên 31
3.1.3.1. Tài nguyên nhân văn 31
3.1.3.2. Tài nguyên đất 31
3.1.4. Đặc điểm kinh tế xã hội 33
3.1.4.1. Dân số và lao động 33
3.1.4.2. Thực trạng phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn xã 35
3.2. Tình hình cơ bản của các hộ trên địa bàn xã Cao Chương 39
3.2.1. Tình hình kinh tế các chủ hộ điều tra 39
3.2.1.1. Tiêu chí phân loại hộ 39
3.2.1.2. Khảo sát thu nhập của các nhóm hộ điều tra 39
3.2.1.3. Tình hình cơ bản của nhóm hộ điều tra 41
3.2.1.4. Trình độ của các chủ hộ điều tra 43
3.2.2. Những khoản chi phí trong sản xuất 45
giữ vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế khu vực
và thế giới.Nó là đơn vị kinh tế đặc thù và phù hợp với thực trạng phát triển
sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay.Kinh tế hộ nông dân được coi trọng
và nó thúc đẩy sự phát triển của kinh tế nước ta và góp phần giải quyết vấn đề
việc làm và xây dựng cuộc sống mới ở nông thôn,đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao và phong phú của con người về lương thực thực phẩm [2].
Cùng với sự phát triển chung của kinh tế xã hội đời sống của người dân
trong xã Cao Chương huyện Trà Lĩnh tỉnh Cao Bằng ngày càng thay đổi, kinh
tế từng bước được nâng lên tỷ lệ hộ nghèo giảm, tỷ lệ giàu và khá tăng lên so
với cả nước.
Có thể nói xem xét các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế gia
đình,sự cần thiết tháo gỡ những bất cập,để có hiệu quả sử dụng tối ưu các
nguồn lực đã trở thành mối quan tâm của mọi người,đặc biệt là những người
dân ở nông thôn, những chủ thể trực tiếp chịu sự tác động đó.
Từ thực tế này, tôi đi nghiên cứu đề tài: ‘Phân tích các nhân tố tác động
đến phát triển kinh tế hộ trên địa bàn xã Cao Chương, huyện Trà Lĩnh, tỉnh
Cao Bằng’. Nhằm làm rõ những mặt khó khăn cũng như thuận lợi của các yếu
tố tác động đến sự tăng trưởng kinh tế hộ nông dân tại xã Cao Chương. Trên
cơ sở đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị để phát triển các tiềm năng sẵn có
khắc phục những khó khăn mà hộ gia đình gặp phải.
2. Mục tiêu
2.1. Mục tiêu chung
-Tìm hiểu nhân tố tác động đến phát triển kinh tế hộ.
-Đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân tại xã Cao
2
Chương huyện Trà Lĩnh tỉnh Cao Bằng.
2.2. Mục tiêu cụ thể
-Khái quát được địa bàn nghiên cứu,vai trò của hộ và đặc điểm phát
1.1.1. Khái niệm về hộ
Trong quá trình phát triển và tồn tại, con người trải qua mỗi thời kỳ
khác nhau. Hộ và kinh tế hộ đều chung một bản chất là “Sự hoạt động sản
xuất kinh doanh của các thành viên trong gia đình cố gắng làm ra nhiều của
cải vật chất để nuôi sống và tăng thêm thu nhập cho gia đình và xã hội”.
Qua tìm hiểu cho thấy, có nhiều khái niệm của các nhà khoa học về hộ
như sau:
Hộ là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, gồm những
người cùng chung huyết thống và những người làm công [4].
Hộ là tất cả những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn
chung và có chung một ngân quỹ [4].
Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội, có liên quan đến sản xuất và tái sản
xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác [2,5].
Hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc, hay không có chung
huyết tộc, ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một
ngân quỹ.
Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động [4].
Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất nguồn lao động thông
qua việc tổ chức nguồn lao động chung [4].
Hộ là một tập hợp những người cùng chung huyết tộc, có quan hệ mật
thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân
họ và cộng đồng [4].
4
1.1.2. Các quan điểm về hộ và phát triển kinh tế hộ
1.1.2.1. Các quan điểm về hộ nông dân
Hộ nông dân theo Frank Ellis định nghĩa “Hộ nông dân là các hộ gia
đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử
dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ
dân là phương thức sản xuất tồn tại trong mọi chế độ xã hội. Mỗi phương thức
sản xuất có quy luật phát triển riêng của nó, và trong mỗi chế độ, nó là cách
thích ứng với cơ chế kinh tế hiện hành. Mục tiêu của hộ nông dân là có thu
nhập cao không kể thu nhập ấy do nguồn gốc nào, trồng trọt, chăn nuôi hay
ngành nghề đó là kết quả chung của lao động gia đình.
Khái niệm gốc để phân tích kinh tế gia đình là sự cân bằng lao động –
tiêu dùng giữa sự thỏa mãn các nhu cầu của gia đình và sự nặng nhọc của lao
động. Sản lượng chung của các hộ gia đình hàng năm trừ đi chi phí sẽ là sản
lượng thuần mà gia đình dùng để tiêu dùng, đầu tư sản xuất và tiết kiệm. Mỗi
hộ nông dân cố gắng đạt được một thỏa mãn nhu cầu thiết yếu bằng cách tạo
một sự cân bằng giữa mức độ thỏa mãn nhu cầu của gia đình với mức độ nặng
nhọc của lao động. Sự cân bằng này thay đổi theo thời gian, theo cân bằng
sinh học, do tỷ lệ giữa người tiêu dùng và người lao động quyết định [7, 7].
Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất
xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất được
coi là của chung để tiến hành sản xuất. Có chung ngân quỹ, ngủ chung một
nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất – kinh doanh và đời sống là tuy
thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ tạo điều kiện phát triển.
- Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế xã hội với mức độ liên tục
trong thời gian dài. Sự phát triển của nó dựa trên việc sử dụng tài nguyên
thiên nhiên một cách có hiệu quả mà vẫn bảo vệ môi trường sinh thái. Phát
6
triển kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến việc
đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai.
Về quan điểm phát triển bền vững kinh tế hộ nông dân không tách rời
với quan điểm phát triển bền vững nông thôn và có những nội dung phát triển
như sau:
nâng cao mức sống và nguồn thu nhập của người nông dân.
- Kinh tế hộ là một tế bào của xã hội, nó đóng vai trò rất quan trọng
trong việc đổi mới công nghệ sản xuất nâng cao đời sống của người dân và
góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Hộ là nơi tích lũy kinh nghiệm
sản xuất truyền thống cũng là nơi áp dụng công nghệ mới vào sản xuất. Khi
xu thế xã hội ngày càng phát triển, chuyển sang xu hướng sản xuất hàng hóa
và cạnh tranh trên thị trường thì hộ buộc phải đổi mới phương pháp sản xuất
nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt hơn với giá cả hợp lý.
- Mặc dù kinh tế hộ có những bước thăng trầm nhưng hộ nông dân và
kinh tế hộ vẫn tồn tại bền vững, thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển. Các
thành viên trong hộ được gắn bó chặt chẽ với nhau bởi quan hệ huyết thống,
quan hệ hôn nhân, với những mỗi quan hệ thật sự bình đẳng đó là quan hệ sở
hữu tài sản, quan hệ phân phối các nguồn thu nhập và chi tiêu. Đó chính là
mối quan hệ gắn bó và cảm thông truyền thống nhằm tạo ra những lợi ích
kinh tế cho gia đình.
- Kinh tế hộ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh
tế xã hội; Là động lực khai thác các tiềm năng, tận dụng các nguồn vốn, lao
động, tài nguyên, đất đai đưa vào sản xuất làm tăng sản phẩm cho xã hội; Là
đối tác cạnh tranh của kinh tế quốc doanh trong quá trình đó để cùng vận
động và phát triển. Hiệu quả đó gắn liền với sản xuất, kinh doanh, tiết kiệm
được chi phí, chuyển hướng sản xuất nhanh tạo được quỹ hàng hoá cho tiêu
8
dùng và xuất khẩu tăng thu cho ngân sách nhà nước. Xét về lĩnh vực tài chính
tiền tệ thì kinh tế hộ tạo điều kiện mở rộng thị trường vốn, thu hút nhiều
nguồn đầu tư. Cùng với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước,
tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển đã góp phần đảm bảo an ninh lương
thực quốc gia và tạo được nhiều việc làm cho người lao động, góp phần ổn
định an ninh trật tự xã hội, nâng cao trình độ dân trí, sức khoẻ và đời sống của
1.1.5. Phân loại hộ nông dân
- Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động gồm có:
Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không có phản ứng với thị trường.
Loại hộ này có mục tiêu tối đa hóa lợi ích, đó là việc sản xuất các sản
phẩm cần thiết để tiêu dùng trong gia đình. Để có đủ sản phẩm, lao động
trong nông hộ phải hoạt động cật lực và đó cũng được coi là một lợi ích, để có
thể tự cấp tự túc cho sinh hoạt, sự hoạt động của họ phụ thuộc vào:
-Khả năng mở rộng diện tích đất đai.
- Có thị trường lao động để họ mua nhằm lấy lãi.
- Có thị trường lao động để họ bán sức lao động để tăng thu nhập.
- Có thị trường sản phẩm để trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình.
Hộ nông dân sản xuất hàng hóa chủ yếu: loại hộ này có mục tiêu là tối
đa hóa lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ có phản ứng gay gắt với thị
trường vốn, ruộng đất, lao động [4].
- Theo tính chất của ngành sản xuất hộ gồm có:
Hộ thuần nông là loại hộ chỉ thuần túy sản xuất nông nghiệp [4].
Hộ chuyên nông là loại hộ chuyên làm các ngành như cơ khí, mộc rèn,
sản xuất vật liệu xây dựng, vận tải thủ công mỹ nghệ, dệt may, làm dịch vụ kỹ
thuật cho nông nghiệp [4].
Hộ kiêm nông là hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ công
nghiệp, nhưng thu từ nông nghiệp là chính [4].
10
Hộ buôn bán là hộ ở nơi đông dân cư, có quầy hàng và buôn bán ở chợ.
Các loại hộ trên không ổn định mà thay đổi khi điều kiện cho phép, vì
vậy sản xuất nông nghiệp nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầng sản xuất và xã
hội nông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại và dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế để hộ đa dạng hóa ngành nghề hoặc chuyên môn hóa. Từ đó làm cho
lao động trong nông nghiệp giảm, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn hoặc
làm cho đối tượng phi nông nghiệp tăng lên [8].
Thứ ba: Đẩy mạnh công nghiệp hóa chế biến nông sản để xuất khẩu
ngô, sắn sang các nước Châu Âu và Nhật Bản.
Thứ tư: Thực hiện những chính sách đầu tư nước ngoài và chính sách
thay thế nhập khẩu trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ. Nhà nước cũng thực hiện
chính sách trợ giúp tài chính cho nông dân vay với lãi suất thấp, ứng trước
tiền cho nông dân và cam kết mua sản phẩm với gia đình trước… cùng với
nhiều chính sách khác nhau đã thúc đẩy vùng núi Thái Lan phát triển theo
hướng sản xuất hàng hóa. Mỗi năm có 90% sản lượng cao su, hơn 4 triệu tấn
dầu cọ do nông dân sản xuất ra. Nhưng trong lúc thực hiện còn bộc lộ một số
vấn đề tồn tại như việc cân bằng sinh thái, là hậu quả của một nền nông
nghiệp làm nghèo đất đai. Làm cho nền kinh tế mất cân đối giữa các vùng, xu
hướng nông dân rời bỏ nông thôn ra thành thị lâu dài hoặc rời bỏ nông thôn
theo mùa vụ ngày càng gia tăng.
- Trung Quốc: Là một nước rất phát triển trong nghề nông nghiệp,
Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu trong việc cải cách mở cửa là phát
triển nông nghiệp hương trấn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, từ đó
tăng trưởng với tấc độ cao và phát triển mạnh trong lĩnh vực đầu tư cho nông
nghiệp nông thôn. Nguyên nhân của thành tựu đó có nhiều, trong đó điều
chỉnh ngân sách rất quan trọng, tăng vốn đầu tư trực tiếp cho nông nghiệp để
12
tạo tiền đề vật chất cho sự tăng trưởng trước hết là đầu tư xây dựng công trình
thủy lợi, mở rộng sản xuất lương thực, xây dựng hạ tầng nông thôn, nghiên
cứu ứng dụng cây trồng, vật nuôi, cây con vào sản xuất là lúa, ngô, bông.
- Đài Loan: Trong những năm 1950 đến 1960 Đài Loan đã chú trọng
đến phát triển nông nghiệp, đã có nhiều chính sách chủ trương như: “Lấy
nông nghiệp nuôi công nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp”. Từ
năm 1951 đã có trương trình cải cách ruộng đất theo 3 bước: giảm tô, giải
phóng đất công, bán đất cho tá điền, thực hiện người cày có ruộng (1953 –
1954).
Do những đặc điểm địa lý tự nhiên và thiếu trình độ, kiến thức, kinh
nghiệm quản lý nền kinh tế thị trường nên mặc dù trong những năm qua kinh
tế đất nước tuy có tăng trưởng, nhưng phát triển không đồng đều giữa các
vùng. Bên cạnh sự phát triển kinh tế sản xuất hàng hoá đang diễn ra ở các đô
thị và các tỉnh đồng bằng, vẫn tồn tại các hình thức sản xuất còn biểu hiện của
nền kinh tế tự cung tự cấp (kinh tế tự nhiên) ở các vùng núi cao, vùng sâu,
vùng xa.
Thực chất sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường không chỉ là sự
thay đổ hình thức kinh tế vĩ mô mà còn thay đổi cả hệ thống kinh tế vi mô. Đó
là sự thay đổi phương thức hoạt động, thay đổi hình thức tổ chức của các đơn
vị kinh tế, trực tiếp sản xuất ra của cải, vật chất của xã hội.
Trước đây các tổ chức kinh tế mang các tên gọi khác nhau: Nhà máy, xí
nghiệp, công ty, cửa hàng, hợp tác xã, cá thể, tư nhân, v.v… Ngày nay trong
cơ chế thị trường, các đơn vị tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh đều
được thống nhất chung với tên gọi là Việt Nam. Hiện nay ở nước ta có các
loại hình doanh nghiệp với các thành phần chủ sở hữu như sau: cá nhân,
nhóm kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân, công ty (công ty trách nhiệm hữu
14
hạn, công ty cổ phần), hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
doanh nghiệp nhà nước và kinh tế hộ gia đình.
Kinh tế hộ nông dân là một loại hình kinh tế tương đối phổ biến và
được phát triển ở nhiều nước trên thế giới. Nó có vai trò rất quan trọng trong
việc phát triển kinh tế, nhất là trong nông nghiệp. Ở Việt Nam, kinh tế hộ
nông dân lại càng có ý nghĩa to lớn, bởi vì nước ta bước vào nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường trên nền tảng gần 80%
dân số đang sinh sống ở nông thôn và điểm xuất phát để tạo cơ sở vật chất
tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại đi từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào
sản xuất nông nghiệp, quản lý theo kế hoạch hóa tập trung, bao cấp.
Mặc dù kinh tế hộ gia đình không phải là một thành phần kinh tế nhưng
chính sách khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình của Đảng và Nhà nước
ta thực chất là việc thực hiện phát triển một cách hợp lý các hình thức sản
xuất và kinh doanh trong nông nghiệp. Đây là loại hình kinh tế phổ biến nhất
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Tùy theo đặc điểm, tính chất của từng khu vực, từng địa bàn, cần phân
loại các hộ gia đình theo trình độ sản xuất hàng hoá, khả năng tự chủ trong
kinh doanh, mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh tế để có những biện pháp hỗ trợ
thích hợp. Hộ gia đình có nhiều ưu thế, nhưng cũng có nhiều khó khăn, hạn chế
về nhiều mặt. Việc tác động của Nhà nước, kết hợp với sự liên kết hỗ trợ hướng
dẫn của các doanh nghiệp nhà nước, các hợp tác xã… là rất cần thiết.
Xem xét đến vấn đề kinh tế nói chung, hay kinh tế hộ gia đình nói riêng
không thể không đề cập đến vấn đề tiêu dùng. Tiêu dùng là hành vi tất yếu và
thường xuyên của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh
thần của cá nhân, cộng đồng, của toàn xã hội. Tiêu dùng vừa là mục tiêu vừa
là tiền đề của sản xuất và tái sản xuất xã hội. Mức độ tiêu dùng có thước đo và
16
được chi phối bởi yếu tố thu nhập thực tế tính theo đầu người. Các nước
phương Tây có nền kinh tế phát triển, tích lũy tư bản, phúc lợi xã hội và thu
nhập cá nhân cho phép đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xã hội phát
triển cao.
Do kết quả của sự chi phối, giao lưu kinh tế quốc tế trong việc thực
hiện chính sách mở cửa, những năm qua nền kinh tế thị trường đa thành phần
ở nước ta có những bước tăng trưởng đáng kể, nhưng đồng thời cũng kéo theo
sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng cả về vật chất lẫn tinh thần. Sự gia tăng về nhu
cầu tiêu dùng là quy luật tự nhiên và đáng khuyến khích. Tuy nhiên, trong
trường hợp kinh tế kém phát triển như ở nước ta, chưa thể có mức tiêu dùng
bình quân cao được.
Hiện nay, có hiện tượng một bộ phận hộ gia đình thu nhập cao, tập
trung ở thành thị, mức sống và nhu cầu tiêu dùng chênh lệch cao gấp nhiều