TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ XÃ HỘI
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
TIÊU CHUẨN LỰA CHỌN BẠN ĐỜI CỦA
THANH NIÊN NÔNG THÔN
(Nghiên cứu trường hợp tại xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm,
thành phố Hà Nội)
Tên sinh viên: PHẠM THỊ THU HÀ
Chuyên ngành đào tạo: XÃ HỘI HỌC
Lớp: K54 XHH
Niên khóa: 2009 – 2013
Giảng viên hướng dẫn: GS. TS Đặng Cảnh Khanh
HÀ NỘI - 2013
Phạm Thị Thu Hà - K54 - Xã hội học
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này được thực hiện một cách nghiêm
túc, trung thực bằng nỗ lực nghiên cứu của chính tác giả, không gian lận,
không sao chép từ các tài liệu khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của toàn bộ nội dung
khóa luận tốt nghiệp.
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Thị Thu Hà
i
Phạm Thị Thu Hà - K54 - Xã hội học
LỜI CẢM ƠN
Qua khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới
gia đình, thầy cô, bạn bè, những người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian làm khóa luận tốt nghiệp. Trước tiên, tôi xin gửi
lời cảm ơn chân thành nhất tới GS. TS Đặng Cảnh Khanh. Với sự hướng dẫn
trong mối tương quan với yếu tố giới tính, nhóm tuổi và trình độ học vấn, để
chỉ ra sự khác biệt giữa các đối tượng thanh niên tại địa bàn nghiên cứu.
Hơn nữa, nhằm mục đích lý giải hiện tượng thanh niên ngày nay có xu
hướng kết hôn với người bên ngoài làng, xã; đề tài nghiên cứu tập trung tìm
hiểu các nhân tố đóng vai trò quan trọng như: nhân tố cá nhân, nhân tố gia
đình, nhân tố môi trường sống có tác động chi phối tới tiêu chuẩn lựa chọn
bạn đời của họ. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra nhân tố cá nhân là
nhân tố quyết định, có ảnh hưởng trực tiếp tới tiêu chuẩn cũng như việc lựa
chọn bạn đời của thanh niên. Do vậy, việc tìm hiểu từng tiêu chuẩn cụ thể và
phân tích các nhân tố ảnh hưởng góp phần phản ánh nhu cầu tự nhiên của
thanh niên, đồng thời phản ánh nhu cầu thời đại về cuộc sống hôn nhân – gia
đình trong bối cảnh xã hội có nhiều thay đổi.
Dựa trên cơ sở phân tích các nhân tố ảnh hưởng, tác giả đề xuất một số
kiến nghị nhằm phát huy vai trò tích cực của các nhân tố và tiến tới xây dựng
hôn nhân bền vững đối với thế hệ trẻ hiện nay.
iii
Phạm Thị Thu Hà - K54 - Xã hội học
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
PHẦN 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
1.4 Phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC x
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Một số tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của thanh niên 30
Bảng 4.2: Tương quan giữa giới tính và tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức khi lựa chọn bạn đời của
thanh niên xã Cổ Bi 34
Bảng 4.3: Tiêu chuẩn về nghề nghiệp và thu nhập của thanh niên đối với người bạn đời 37
Bảng 4.4: Tiêu chuẩn về gia đình bạn đời của thanh niên tại xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm, thành phố Hà
Nội 49
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định tương quan giữa trình độ học vấn và mức độ quan tâm đến việc hình
thành tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời 52
Bảng 4.6: Hệ số Sig và Cramer’s V khi kiểm định mối quan hệ giữa trình độ học vấn và mức độ
quan tâm của thanh niên khi lựa chọn bạn đời 53
Bảng 4.7: Kết quả kiểm tra giới tính ảnh hưởng tới việc lựa chọn các tiêu chuẩn thu nhập, ngoại
hình của thanh niên (T – Test) 54
Bảng 4.8: Kết quả kiểm định phương sai (ANOVA) giữa các nhóm tuổi đối với các tiêu chuẩn lựa
chọn bạn đời của thanh niên 56
Bảng 4.8: Mức độ quan tâm của gia đình đến tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của thanh niên xã Cổ Bi
59
Bảng 4.10: Tương quan giữa giới tính và nhóm tuổi của thanh niên với quyền quyết định trong lựa
chọn bạn đời 62
Bảng 4.11: Kết quả thảo luận nhóm về nhân tố ảnh hưởng đến tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của
thanh niên 69
Biểu đồ 4.1: Mức độ quan tâm đến việc lựa chọn bạn đời của thanh niên tại xã Cổ Bi, huyện Gia
Lâm, thành phố Hà Nội 28
v
Phạm Thị Thu Hà - K54 - Xã hội học
Biểu đồ 4.2: Mức độ quan tâm của thanh niên xã Cổ Bi
đến tiêu chuẩn về trình độ học vấn 39
Biểu đồ 4.3: Tiêu chuẩn về sức khỏe đối với bạn đời 41
Phạm Thị Thu Hà - K54 - Xã hội học
PHẦN 1: GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Thanh niên luôn là đối tượng thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia
trên toàn thế giới. Đối với Việt Nam, thanh niên chiếm hơn 1/3 dân số, giữ vị
trí và vai trò to lớn trong cơ cấu nhân khẩu của cả nước (Tổng điều tra dân số
năm 2009). Thanh niên còn được coi là nhân tố làm nên diện mạo của dân
tộc, là biểu trưng cho sức sống, nguồn năng lượng tiềm ẩn của toàn xã hội.
Với những đặc trưng về sự năng động, sáng tạo, có thể nói thanh niên ngày
nay là trung tâm của sự phát triển đất nước. Hơn nữa, họ không còn là một
khối đồng nhất mang tính gượng ép, cứng nhắc mà là những nhóm đa dạng,
phức tạp, gắn liền với những biến đổi về tâm – sinh – lý. Trong số đó phải kể
đến là những thay đổi về mặt nhận thức, tư tưởng, tâm tư, tình cảm… . Một
trong các lý do dẫn đến sự thay đổi trên là những biến đổi trong môi trường
sống cá nhân. Thực tế cho thấy, lối sống kiểu phương Tây đang xâm nhập khá
mạnh cùng với sự biến đổi xã hội không ngừng, đã tác động không nhỏ tới
đời sống người dân Việt Nam nói chung và thế hệ thanh niên nói riêng.
Những quan niệm về tình yêu, hôn nhân có phần cởi mở và mạnh dạn hơn
trước, nhưng chính điều này lại đem đến kết quả không mấy khả quan. Các số
liệu thống kê gần đây cho thấy, tỷ lệ các ca nạo phá thai có chiều hướng gia
tăng. Việt Nam là một trong ba nước có tỉ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới
(1,2 – 1,6 triệu ca mỗi năm), trong đó có tới 60% là lứa tuổi thanh niên
1
.
Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là thanh niên chưa có nhận thức, thái độ
đúng đắn về tình yêu, hôn nhân cũng như lựa chọn người bạn đời thế nào là
phù hợp. Thậm chí quan niệm về tình yêu, hôn nhân của họ có phần tự do
như: “yêu nhiều lấy một”, “yêu là phải hết mình, lấy hay không không thành
vấn đề” .
1
là chỗ dựa cho các thành viên khác trong gia đình . Do vậy, hơn lúc nào hết
2
Phạm Thị Thu Hà - K54 - Xã hội học
việc lựa chọn một người bạn đời phù hợp với thanh niên cần phải được chú
tâm, coi đó như yếu tố cốt lõi để xây dựng hôn nhân – gia đình bền vững ở thế
hệ trẻ.
Sở dĩ cần quan tâm tới đối tượng thanh niên nông thôn vì đây là nhóm
dân cư trẻ tuổi, chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu dân số vùng, chịu ảnh hưởng sâu
sắc về nhận thức, tâm lý và hành vi mà nguyên nhân xuất phát từ hệ thống
các tác động khác nhau của quá trình đô thị hóa tới gia đình ở nông thôn. Vậy
nên, câu hỏi nghiên cứu tôi đặt ra là: “Tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của
thanh niên khu vực nông thôn hiện nay như thế nào? Những nhân tố nào
chi phối tiêu chuẩn đó?”
Chính từ thực tế trên, tôi xin chọn đề tài nghiên cứu: “Các nhân tố
ảnh hưởng đến tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của thanh niên nông thôn
hiện nay” (nghiên cứu trường hợp tại xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm, thành phố
Hà Nội). Qua đề tài nghiên cứu này, tôi muốn tìm hiểu rõ hơn những tiêu
chuẩn mà thanh niên nông thôn đặt ra đối với người bạn đời của mình. Dựa
trên cơ sở đó chỉ ra được các nhân tố chi phối, tác động quá trình hình thành
các tiêu chuẩn.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
• Mục tiêu chung của đề tài
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của
thanh niên nông thôn hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã Cổ Bi, huyện
Gia Lâm, thành phố Hà Nội).
• Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thanh niên và tiêu chuẩn lựa chọn bạn
đời của thanh niên.
- Tìm hiểu một số tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của thanh niên tại xã Cổ
Bi, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
riêng đã, đang là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Ở
từng góc độ khác nhau, vấn đề hôn nhân – gia đình với thanh niên luôn thể
hiện sự phong phú, đa dạng nhưng lại rất phức tạp. Các hướng nghiên cứu
dưới đây phần nhiều tập trung mô tả thực trạng vấn đề hôn nhân, gia đình và
cho thấy sự biến đổi quyền tự do tìm hiểu, lựa chọn, quyết định kết hôn đối
với thế hệ trẻ. Ngoài ra, các công trình nghiên cứu cũng chỉ ra một cách khái
quát các tiêu chuẩn mà thanh niên đặt ra đối với người bạn đời tương lai. Do
đó, những hướng nghiên cứu xung quanh chủ đề này là cơ sở quan trọng cho
việc xây dựng, hoàn thiện đề tài nghiên cứu: “Các nhân tố ảnh hưởng đến
tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của thanh niên nông thôn hiện nay” (Nghiên
cứu trường hợp tại xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội).
2.1.1 Hướng nghiên cứu về hôn nhân, gia đình đối với thanh niên
Hôn nhân gia đình ở Việt Nam cho tới trước thế kỷ XX là một vấn đề
quan trọng không chỉ riêng đối với cặp vợ chồng mà còn đối với gia đình mở
rộng, hệ thống thân tộc và xã hội nói chung. Vì thế, các gia đình rất quan tâm
đến việc dựng vợ gả chồng sớm cho con. Bên cạnh đó, thông qua cuộc khảo
sát nằm trong đề tài: “Tìm hiểu nhận thức, quan niệm về hôn nhân, gia đình
của các thế hệ trong gia đình Việt Nam ở một số vùng thuộc đồng bằng sông
Hồng” của tác giả Lê Thi vào năm 2008 cho thấy, những chuẩn mực văn hóa
về hôn nhân gia đình đã thay đổi ở các thế hệ cùng với sự biến đổi lớn lao của
đất nước. Hầu hết các thế hệ ở thành thị và nông thôn đều rất coi trọng vấn đề
hôn nhân gia đình. Họ cho rằng, gia đình chỉ có thể bền vững khi hôn nhân
dựa trên sự phù hợp, gắn kết của đôi bên. Do vậy, hôn nhân đối với thế hệ trẻ
cần phải được quan tâm, định hướng một cách đúng đắn.
5
Phạm Thị Thu Hà - K54 - Xã hội học
Cuộc điều tra về thanh niên lần thứ 2 đã phân tích thái độ và sự biến
đổi thái độ của thanh niên về một số vấn đề hôn nhân và gia đình. Kết quả
thấy được rằng, tình trạng nam nữ sống chung như vợ chồng trước khi kết hôn
được một bộ phận thanh niên chấp nhận và tỷ lệ chấp nhận có xu hướng tăng
2.1.2 Hướng nghiên cứu về tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của thanh niên
Gắn liền với sự biến đổi từ mô hình hôn nhân do gia đình sắp xếp sang
mô hình hôn nhân tự nguyện của thế hệ trẻ, tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời cũng
dần thay đổi . Nghiên cứu của nhóm tác giả Phí Văn Ba và cộng sự đã chứng
minh sự thay đổi này khi trong thời kỳ chống Mỹ, yếu tố đạo đức chiếm vị trí
hàng đầu, tiêu chuẩn kinh tế bị mờ đi. Vị thế chính trị như: đảng viên, đoàn
viên, bộ đội, cán bộ nhà nước được đánh giá như một tiêu chuẩn quan trọng
trong hôn nhân. Một số tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời đã có sự thay đổi từ khi
bước vào giai đoạn đổi mới, mặc dù tiêu chuẩn đạo đức vẫn được đánh giá
cao nhưng thêm vào đó là tiêu chuẩn kinh tế như có nghề nghiệp ổn định, gia
đình khá giả được quan tâm hơn nhiều. Tiêu chuẩn về nghề nghiệp ổn định là
yêu cầu quan trọng để đảm bảo cuộc sống gia đình. Điều này được cả nam và
nữ chú ý khi đưa ra quyết định lựa chọn người bạn đời cho bản thân mình.
Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục thống kê, Viện Gia
đình và Giới (2006), ba tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời chủ yếu được đưa ra là:
biết cách cư xử/đạo đức tốt, biết cách làm ăn và có sức khỏe. Yếu tố sức khỏe
thể chất rất được coi trọng vì nó không chỉ liên quan đến việc làm ăn kinh tế
của gia đình mà còn là điều kiện để phụ nữ sinh đẻ, duy trì nòi giống. Các tiêu
chuẩn này được phần lớn nam, nữ lựa chọn và tương đối ổn định trong các
nhóm tuổi kết hôn qua từng thời kỳ khác nhau (từ trước năm 1975 cho đến
2006). Hạn chế của các nghiên cứu trên là mới chỉ dừng lại ở việc thu thập
những con số thống kê qua các cuộc điều tra dân số, gia đình mang tính định
7
Phạm Thị Thu Hà - K54 - Xã hội học
lượng, có phần sơ sài, do đó chưa so sánh được sự khác biệt giữa nam và nữ
thanh niên, giữa đối tượng kết hôn và chưa kết hôn, trung niên và người già
trong gia đình khi đưa ra tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời. Khắc phục được những
thiếu sót này, nghiên cứu của Lê Thi vào cuối năm 2011 đã phân tích rõ nét
hơn điểm giống và khác nhau trong quan niệm lựa chọn bạn đời của các thế
hệ, đồng thời lý giải nguyên nhân tại sao lại có sự khác biệt giữa 3 thế hệ
hoàn toàn chuyển sang khuôn mẫu chỉ dựa trên cơ sở đặc trưng của cá nhân.
Đồng thời, hoàn cảnh kinh tế xã hội của hai bên gia đình vẫn còn ý nghĩa
trong sự cân nhắc hôn nhân nên khó có thể cho rằng, sự lựa chọn của cá nhân
đã hoàn toàn đứt đoạn với quá khứ. Hay nói cách khác, đi kèm với đặc điểm
cá nhân (trình độ học vấn, nghề nghiệp, tuổi…) thì điều kiện gia đình hai bên
vẫn nằm trong mối quan tâm của mọi người khi lựa chọn bạn đời. Ngoài ra,
những tiêu chuẩn về gia đình nề nếp, đồng hương/cùng quê được xếp sau ba
tiêu chuẩn trên. Trước đó, một nghiên cứu thực hiện tại Thái Bình năm 1994
cũng nhận thấy rằng, 75% người trả lời mong muốn hoàn cảnh kinh tế của gia
đình người bạn đời gần giống như hoàn cảnh kinh tế gia đình họ, đồng thời
85% nói rằng uy tín của gia đình vợ/chồng tương lai cũng phải tương ứng với
mức độ uy tín của gia đình họ. Đáng chú ý là các tỷ lệ này thay đổi không
đáng kể khi so sánh giữa các thời kỳ, giữa các nhóm đối tượng nam thanh
niên và nữ thanh niên đã kết hôn (Barbieri và Vũ Tuấn Huy, 1995).
Tóm lại, sự chuyển biến hôn nhân dựa trên cơ sở “môn đăng hậu đối”
về điều kiện gia đình sang tự do lựa chọn căn cứ vào đặc điểm cá nhân là kết
quả của quá trình biến đổi xã hội. Đặc điểm cá nhân ngày càng được quan tâm
hơn trong tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời đối với thanh niên hiện nay. Trong số
các tiêu chuẩn đó, yếu tố kinh tế và khả năng đảm bảo cuộc sống vật chất đầy
đủ cho gia đình tương lai ngày càng được nhấn mạnh. Tuy nhiên yếu tố điều
9
Phạm Thị Thu Hà - K54 - Xã hội học
kiện gia đình vẫn chưa biến mất hẳn trong các quyết định về hôn nhân. Sự
tương xứng giữa các cá nhân về trình độ học vấn, tuổi, nghề nghiệp, ngoại
hình thường được hòa quyện với những đặc điểm gia đình để đưa ra quyết
định kết hôn.
2.1.3 Hướng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn bạn đời
của thanh niên
Vai trò của yếu tố kinh tế - xã hội trong việc quyết định tiêu chuẩn kết
hôn là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Một số nhà
Đồng thời, nghiên cứu của Khuất Thu Hồng (1994) chỉ ra nhân tố ảnh
hưởng đến tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của thanh niên không đơn thuần là
những nhân tố mang tính chất ngẫu nhiên, khách quan mà nó xuất phát từ
những thay đổi đáng kể trong quá trình chuẩn bị cho hôn nhân thông qua sự
tìm hiểu của các cá nhân trước khi kết hôn Nếu như vào những năm 60 của
thế kỷ trước, nam nữ thanh niên vẫn còn e dè trước tình yêu thì cho tới hiện
nay, họ đã cởi mở hơn do môi trường giao lưu, gặp gỡ bạn bè, thanh niên có
nhiều cơ hội gặp gỡ và tìm hiểu nhau trước khi kết hôn so với thế hệ trước.
Đã có thời kỳ kết hôn chỉ giới hạn trong gia đình và họ mạc, dần dần mở rộng
ra các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội và hiện nay là các hoạt động vui chơi,
giải trí, sinh hoạt tập thể… để tạo điều kiện thuận lợi cho sự nảy nở những
mối quan hệ mới, từ đó mà thanh niên cũng chủ động hơn trong việc lựa chọn
người bạn đời phù hợp.
Ngoài các yếu tố mang tính cấu trúc, bối cảnh xã hội nêu trên thì khác
biệt về văn hóa cũng dẫn đến những tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời khác nhau.
Theo kết quả nghiên cứu khác của Nguyễn Hữu Minh về sự biến đổi khuôn
mẫu kết hôn đã nhận thấy rằng, những thanh niên sinh ra và lớn lên trong gia
đình nhiều thế hệ thì ít có khả năng tự do lựa chọn bạn đời trong hôn nhân,
11
Phạm Thị Thu Hà - K54 - Xã hội học
không xác định tiêu chuẩn dành riêng cho bản thân mà họ còn phụ thuộc vào
quyền quyết định, sự định hướng của cha mẹ, ông bà. Điều này ngược lại với
thanh niên sống trong gia đình hai thế hệ. Thêm vào đó, yếu tố tôn giáo phần
nào cũng chi phối tới khả năng tìm hiểu bạn đời và tiêu chuẩn kết hôn của thế
hệ trẻ (Nguyễn Hữu Minh,1999). Nghiên cứu này được thực hiện trên quy mô
rộng lớn và có tính đại diện cao nhưng các yếu tố thuộc về chính sách nhà
nước, luật hôn nhân, tác động kinh tế - xã hội chưa được khai thác một cách
triệt để, nên kết quả thu được còn bị hạn chế.
Công trình nghiên cứu khác của Lê Thi là một phần kết của của đề tài
cấp Bộ về tìm hiểu quan niệm, nhận thức về hôn nhân, gia đình của thế hệ trẻ
Mặc dù trên thực tế có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thanh niên
cũng như quy định độ tuổi với đối tượng này, nhưng định nghĩa thống nhất
được sử dụng trong đề tài được căn cứ vào Hiến Pháp nước Cộng Hoà Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số
51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ
10 quy định về thanh niên: Là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi.
Sở dĩ nhà nghiên cứu chọn định nghĩa này vì đây là định nghĩa được sử dụng
phổ biến trong các nghiên cứu, điều tra về thanh niên ở Việt Nam. Đồng thời,
thanh niên là đối tượng rộng lớn, đa dạng. Khi nghiên cứu phải sử dụng một
thước đo khách quan nhằm đảm bảo tính khái quát, có khả năng bao hàm đặc
trưng của đối tượng thanh niên. Mặt khác, đề tài thực hiện tập trung vào lĩnh
vực hôn nhân – gia đình, tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của thanh niên. Do đó,
độ tuổi từ 16 – 30 tuổi là phù hợp để tiến hành so sánh tương quan giữa các
nhóm tuổi, trình độ học vấn của thanh niên với những tiêu chuẩn mà họ đặt ra
đối với bạn đời tương lai.
13
Phạm Thị Thu Hà - K54 - Xã hội học
• Khái niệm tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời
Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính, đặc điểm và yêu cầu của cá nhân
chủ thể dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá các đối tượng khác trong hoạt
động cụ thể nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của các đối tượng này.
Lựa chọn là thuật ngữ được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc,
tính toán khi quyết định sử dụng loại phương thức, cách thức tối ưu trong số
những điều kiện hiện có, thậm chí trong trường hợp khan hiếm nguồn lực để
đạt được mục tiêu (Vĩnh Lộc và cộng sự, 2008).
Như vậy tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời là hệ thống những quy định, yêu
cầu, mong muốn của cá nhân đưa ra để xác định người chồng/vợ cho mình
trong tương lai.
2.2.2 Lý thuyết tương tác biểu trưng về gia đình, thanh niên
Thuyết tương tác biểu trưng ra đời gắn liền với tư tưởng của các nhà xã
cho thấy cá nhân không chỉ ý thức về môi trường, mà còn chú ý đến những
đặc tính, những biểu trưng có ý nghĩa mà đối tượng tương tác thể hiện. Chẳng
hạn như việc lựa chọn một người bạn đời phù hợp trên cơ sở mong muốn của
cá nhân, gia đình, mối quan hệ giữa các cá nhân và các thành viên khác
(Hoàng Bá Thịnh, 2008).
Có thể nhận thấy những tương tác xã hội của con người thông qua các
biểu trưng có ý nghĩa nhấn mạnh yếu tố tâm lý và yếu tố văn hóa. Hệ thống
các biểu trưng có ý nghĩa là những yếu tố thuộc về văn hóa, các cá nhân được
lĩnh hội, truyền đạt và ứng xử dựa trên nền tảng văn hóa đó. Do đó, chúng ta
có thể tìm thấy sự tích hợp giữa nét cá nhân và tính văn hóa xã hội trong
tương tác xã hội được thể hiện trong thuyết tương tác biểu trưng. Sự tương tác
giữa các cá nhân xã hội phụ thuộc không chỉ vào tâm lý của cá nhân và môi
trường hành động, mà hơn thế, nó còn dựa trên cơ sở địa vị xã hội của cá
nhân trong cơ cấu phân tầng. Chẳng hạn như trong xã hội truyền thống, phụ
15
Phạm Thị Thu Hà - K54 - Xã hội học
nữ thường ít có tiếng nói, quyền quyết định hay lựa chọn trong hôn nhân, tình
yêu như nam giới. Đồng thời, họ bị bó buộc vào khuôn mẫu có sẵn từ phía gia
đình, dòng họ…
Tiếp cận thuyết tương tác biểu trưng còn áp dụng vào nghiên cứu quá
trình xã hội hóa thanh niên và đặc biệt hữu ích khi phân tích quan hệ giữa cha
mẹ và con cái. Thuyết tương tác biểu trưng coi xã hội hoá là một quá trình
theo đó, thanh niên tham gia vào sự hình thành bản sắc của mình, coi họ là
một chủ thể hành động tích cực. Quan điểm này sửa chữa những hạn chế của
các lý thuyết trước đây về sự xã hội hoá và sự phát triển trẻ em, thanh niên coi
đó là đối tượng thụ động nhận sự tác động của cha mẹ. Mặt khác, khi cá nhân
đứng trước các sự kiện xã hội, môi trường sống khác nhau, thậm chí là tình
huống trái ngược nhau, các cá nhân phải lựa chọn cho mình những hành động
hợp lý sao cho đạt được kết quả cao. Quá trình lựa chọn dựa trên hệ giá trị của
cá nhân cũng như lợi ích thiết thực mà hành động mang lại. Chúng cần đến ý
hành động tuân theo nguyên tắc trao đổi các giá trị vật chất, tinh thần, sự ủng
hộ, tán thưởng, danh dự. Nguyên tắc chung của thuyết lựa chọn hợp lý là con
người từ chối những hành vi phải chi phí (trả giá) và tìm kiếm những thiết chế
trong đó phần thưởng nhiều hơn chi phí. Con người đã chọn phương án có
hiệu quả nhất trên cơ sở nhận thức phần thưởng và chi phí. Giá trị phần
thưởng phụ thuộc vào ý nghĩa của nó đối với một cá nhân cụ thể: một bông
hồng có thể là phần thưởng nhiều hơn một quà tặng đắt tiền, phụ thuộc vào ý
nghĩa cụ thể của người trao và người nhận. Giá trị của kết quả, giá trị của
phần thưởng và cả sự mong đợi của cá nhân bắt nguồn từ hệ chuẩn mực xã
hội, phong tục tập quán, truyền thống.
Tất cả các định đề trên đều cho thấy, con người là chủ thể duy lý trong
việc xem xét, lựa chọn hành động đem lại phần thưởng lớn nhất và có giá trị
nhất. Con người sẽ quyết định lựa chọn hành động ngay cả khi giá trị của nó
17