Tiểu luận: Ảnh hưởng của dân số tới chất lượng giáo dục bậc tiểu học hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại trường Tiểu học Trung Tự, Quận Đống Đa) - Pdf 14

1
Tiểu luận

Ảnh hưởng của dân sỗ tới chất lượng giáo dục bậc tiểu học hiện nay.
(Nghiên cứu trường hợp tại trường Tiểu học Trung Tự, Quận Đống Đa)

2

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 2
2. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
3. Mục đích nghiên cứu 4
4. Câu hỏi nghiên cứu 4
5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 5
6. Giả thuyết nghiên cứu 5
7. Phương pháp nghiên cứu 5
I. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận 8
2. Các khái niệm công cụ 13
3. Tổng quan về nghiên cứu 14
4. Thực trạng vấn đề 17
5. Tác động của dân số đến chất lượng giáo dục 18
5.1. Tác động của dân số đến việc giảng dạy 18
5.2. Tác động của dân số đến việc học tập 20
5.3. Tác động của dân số đến cơ sở vật chất 22

lực cho giáo dục qua việc phát triển không đồng đều hay do sức ép của dân số
Giáo dục và dân số có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Giáo dục làm giảm tỷ lệ
4

sinh, giảm tỷ lệ tử vong, tăng quyền và vị thế của phụ nữ, nâng cao chất lượng dân
số. Trong khi đó, sự gia tăng dân số gây lên nhiều áp lực cho ngành giáo dục như
tình trạng thiếu lớp học, thiếu giáo viên, bất bình đẳng trong giáo dục . Tính đến
tháng 4/2009, dân số Việt Nam vào khoảng 86 triệu người (85.789.573 người), tốc
độ gia tăng dân số bình quân là 1,2%
1
, và dân số đông là một trong những lý do
dẫn đến tình trạng giáo dục tại Việt Nam vẫn còn tồn tại những yếu khém nhất
định. Như giáo sư Jean Daniel Rainhorn đã nhận xét “dân số Việt Nam mỗi năm
tăng hơn một triệu người thì ngay cả nền kinh tế phát triển như Pháp cũng chưa
chắc đã chịu nổi”.
2

Theo số liệu thống kê, tháng 7/2005 có 26/64 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ
cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Đến tháng 12/2007 có 38/64 tỉnh, thành
phố được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục và hiện nay tính đến tháng 4/2009
có 46/67 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục.Ngoài những thành tựu đó thì
còn có những hệ lụy như: đầu tiên cho thấy đó là cảnh các bậc phụ hunh chen chúc
nhau mua hồ sơ cho con hay vụ việc đạp đổ cổng trường tại trường TH Thực
nghiệm ngày 12/5/2012. Ở thành thị trẻ em với giáo dục luôn được đặt lên sự quan
tâm hàng đầu,trong khi hệ thống trường học lại chưa đủ đáp ứng,vì vậy việc phân
tích các nhân tố,diều kiện cho phát triển giáo dục là hết sức cần thiết, đồng thời cho
ta hình dung rõ hơn về thực trạng hiện nay để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục.
Với những lý do trên nhóm nghiên cứu quyết định lựa chọn đề tài : “Ảnh
hưởng của dân sỗ tới chất lượng giáo dục bậc tiểu học hiện nay. (Nghiên cứu

Nguyên nhân và giải pháp nào cho tình trạng để làm giảm ảnh hưởng của
dân số tới chất lượng giáo dục hiện nay.
6

5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của dân sỗ tới chất lượng giáo dục bậc
tiểu học hiện nay.
Khách thể nghiên cứu: Đội ngũ giáo viên, phụ huynh học sinh và các em học
sinh.
Phạm vi nghiên cứu: Trường Tiểu học Trung Tự, Quận Đống Đa, Hà Nội
Thời gian nghiên cứu: tháng 11/2012.
6. Giả thuyết nghiên cứu:
Dân số có tác động mạnh mẽ tới giáo dục thể hiện ở các mặt về cơ sở vật
chất,chất lượng giảng dạy và cái khả năng tiếp thu của các em học sinh. Tình trạng
quấ tải trong các trường học hiện nay gây ra rất nhiều bức xúc cho không chỉ phụ
huynh học sinh mà còn cho cả toàn xã hội.
Chất lượng giáo dục thực chất bị xem nhẹ mà các trường chỉ chạy theo thành
tích, vấn đề trang thiết bị giảng dạy cũng như quản lý còn gặp nhiều khó khăn
Các bậc phụ huynh đều có chung tâm lý là phải cho còn vào được trường
chuyên, lớp chọn nên càng gây ra nhiều khó khăn trong công tác quản lý cũng như
chất lượng đào tạo
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận.
Chủ nghĩa Duy vật biện chứng: Khi xem xét đánh giá mọi hiện tượng, sự
kiện xã hội phải đặt trong mối quan hệ toàn diện với điều kiện kinh tế- xã hội đang
7

vận động biến đổi liên tục. Ở báo cáo này khi nghiên cứu về Ảnh hưởng của dân sỗ
tới chất lượng giáo dục bậc tiểu học hiện nay
( Nghiên cứu trường hợp tại trường Tiểu học Trung Tự, Quận Đống Đa)

gian điều tra thực tế trước khi chọn đề tài. Thứ hai là giai đoạn quan sát, phỏng vấn
sâu cá nhân nhằm thu thập thông tin một cách chân thực nhất trong quá trình thực
hiện nghiên cứu.
Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi : Để có số liệu phục vụ cho nghiên
cứu nhóm tác giả đã dùng phương pháp thu thập thông tin bằng bảng hỏi có số
lượng là 80 phiếu . Bảng hỏi được chia làm các phần thông tin chính dành cho giáo
viên, phụ huynh và các em học sinh. Bảng hỏi được xây dựng nhằm làm rõ những
thông tin cơ bản sau :
Thực trạng của áp lực dân số ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục.
Tìm hiểu mức độ hài lòng của giáo viên, phụ huynh và học sinh về chất
lượng giáo dục
Giải pháp chính sách nhằm điều chỉnh tác động của dân số tới giáo dục
trong bối cảnh xã hội hiện nay.
9

II. PHẦN NỘI DUNG.
1. Cơ sở lý luận
1.1. Lí thuyết trao đổi xã hội.
Với bài thuyết trình nổi tiếng của Homans : “hành vi xã hội như một sự trao
đổi”, các nhà xã hội học khẳng định nội dung lý thuyết mà ông phân tích là lý
thuyết trao đổi. Nhưng theo Homans khái niệm này không hợp lý mà ông muốn gọi
nó là “chủ nghĩa hành vi xã hội”.
Ông nhấn mạnh đến khía cạnh hành vi “Hành vi xã hội là một loại hàng hoá
để trao đổi, đây vừa là loại hàng hoá vật chất vừa là loại hàng hoá phi vật chất
giống như những biểu tượng về sự tán thành hay uy tín.” Theo ông cần phải vừa
tìm ra các quy luật chung, khái quát vừa giải thích một cách thực sự xã hội học về
hành vi xã hội của cá nhân.

động có xu hướng lặp lại và nếu bị trừng phạt hành động đó không có xu hướng
lặp lại. VD: Trong quá trình chọn trường cho con mình, các bậc cha mẹ luôn muố
có sự lựa chọn phù hợp nhất vừa tìm được trường tốt vừa đảm bảo chi phí phù hợp
vơi điều kiện kinh tế gia đình. Ngược lại, trường học phù hợp cũng đem lại hiệu
quả học tập với từng đối tượng học sinh.
Khi giá trị của phần thưởng càng cao thì những phần thưởng ít giá trị càng
mất đi giá trị.
Có những hành động tưởng là đem lại giá trị nhưng thực ra lại là mất giá trị
và ngược lại.
* Định đề thiếu thốn và dư thừa.
Trong một quá khứ gần, con người càng nhận được nhiều phần thưởng thì
phần thưởng càng trở nên kém giá trị đối với anh ta.VD: trong tình yêu của bố mẹ
đối với con cái nếu sự quan tâm, chăm sóc, lo lắng đến quá thường xuyên và quá
11

nhiều thì người trong cuộc có xu hướng cảm thấy nhàm chán và dư thừa, và ỉ lại
cảm thấy không quan trọng và không có giá trị, nhiều khi có thể đánh mất rất dễ
dàng.
Homans đưa ra khái niệm về lợi nhuận và chi phí: Lợi nhuận có nghĩa là số
phần thưởng lớn hơn chi phí bỏ ra; chi phí là những phần thưởng đã bị mất trong
một loạt các hành động khác trước đó. “Lợi nhuận một cá nhân nhận được như là
kết quả hành động của anh ta càng lớn càng có khả năng anh ta thực hiện hành
động.”
* Định đề chống đối và tán thành.
Khi hành động của một chủ thể không nhận được phần thưởng mà anh ta
mong đợi hoặc nhận được một hình phạt mà anh ta không mong đợi thì lập tức
xuất hiện loại hành vi tiêu cực
Sự chống đối là một hình thức tạo ra “luật phân phối cân bằng”.Vd: bố mẹ
hiểu ra và có những cách hành xử đúng hơn
Khi hành động của một người nhận được phần thưởng lớn hơn dự đoán hoặc

sinh và việc chọn lựa trường học cho con cái. Họ quan tâm tới chất lượng giáo dục
tại trường mình chọn lựa cho con cái, cũng như chất lượng giáo viên, cơ sở vât
chất tại trường phải luôn phù hợp với chi phí họ bỏ ra và phù hợp với trình độ học
tập của con cái họ.
Hay chính với hệ thống giáo dục luôn có những phần thưởng cho học sinh
trong quá trình học tập, rèn luyện để kích thích tính học tập hăng say của các học
sinh, đổi lại khi những học sinh học tập có hiệu quả thì sé đạt được những danh
hiệu, những kết quả học tập tốt đem lại cái danh cho thầy cô, cho trường lớp.
Những phần thưởng càng nhiều thì công sức hay chi phí bỏ ra cũng tỉ lệ thuận với
nó….
13

Vệc phân tích những trao đổi nhu cầu xã hội để làm rõ những tác động của
dân số đến chất lượng giáo dục bậc tiểu học.
1.2. Lí thuyết mâu thuẫn - xung đột:
Lí thuyết xung đột có một lịch sử phát triển khá lâu dài. Các đại diện lớn của
lí thuyết này là Karl Marx, và tiếp sau đó là Loser, Dalrendort, Gurvith,… Người ta
cho rằng mâu thuẫn và xung đột xã hội là một hiện tượng mang tính phổ biến và
được lặp đi lặp lại trong mọi xã hội và mọi nền văn hóa.
Lí thuyết xung đột cho rằng xung đột có thể xảy ra trên mọi phương diện của
đời sống xã hội: mục đích, đánh giá, lợi ích, hệ tư tưởng… Các cách thức thực hiện
hành vi xung đột vừa đa dạng vừa bị chi phối bởi nhiều động cơ khác nhau.
Việc phân tích, tìm hiểu và làm rõ động cơ của các hành vi xung đột sẽ giúp
cho việc quản lí mọi xã hội tiếp cận được các giải pháp khoa học, qua đó đưa các
quan hệ xã hội trở về trạng thái bình thường ổn định để phát triển.
Vận dụng lí thuyết xung đột vào nghiên cứu ảnh hưởng của dân số đến chất
lượng giáo dục bậc tiểu học, chúng tôi thấy đôi khi xuất phát từ các lợi ích nhu cầu,
thị hiếu khác nhau nên có thể hình thành nhiều tác động có thể la tiêu cực hay tích
cực từ dân số đến chất lượng giáo dục (bậc tiểu học). Cụ thể ở đây có thể là xung
đột giữa việc học tập và chất lượng học tập, số lượng giáo viên với học sinh, số

tiêu của cá nhân và yêu cầu xã hội đặt ra cho giáo dục
1
Theo Nguyễn Thu Hà – Giáo trình Xã hội học Giáo dục
2
Theo Nguyễn Thị Kim Hoa – Giáo trình Xã hội học Dân số
3
Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Đản (Trường đại học Sư phạm Hà Nội)
15

3. Tổng quan về nghiên cứu
3.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Quận Đống Đa nằm ở trung tâm thủ đô Hà Nội. Phía bắc giáp quận Ba Đình,
phía đông bắc giáp quận Hoàn Kiếm (ranh giới là phố Lê Duẩn), phía đông giáp
quận Hai Bà Trưng (ranh giới là phố Lê Duẩn và đường Giải phóng), phía nam
giáp quận Thanh Xuân (ranh giới là đường Trường Chinh và đường Láng), phía tây
giáp quận Cầu Giấy (ranh giới là sông Tô Lịch).
Quận Đống Đa rộng 9.96 km², có dân số thường trú là 370.117 nghìn người
(năm 2009) nhiều nhất trong các quận, huyện của Hà Nội.
Thuộc quận Đống Đa, có 21 phường, đó là: Văn Miếu, Quốc Tử Giám,
Hàng Bột, Nam Đồng, Trung Liệt, Khâm Thiên, Phương Liên, Phương Mai,
Khương Thượng, Ngã Tư Sở, Láng Thượng, Cát Linh, Văn Chương, Ô Chợ Dừa,
Quang Trung, Thổ Quan, Trung Phụng, Kim Liên, Trung Tự, Thịnh Quang, Láng
Hạ.
Các phường phía nam của Đống Đa là những khu dân cư tập trung với

trình nghiên cứu có liên quan:
3.2.1. Trong tài liệu Dân số và phát triển (Tài liệu dùng cho Chương
trình bồi dưỡng nghiệp vu dân số - kế hoạch hóa gia đình) của Tổng cục dân số
- kế hoạch hóa gia đình và Quỹ dân số liên hợp quốc năm 2011 đã chỉ ra rằng: Ở
17

thành thị và các vùng đông dân, kinh tế thường phát triển hơn. Vì vậy, ở những nơi
này hệ thống giáo dục thường phát triển hơn, nên trẻ em có nhiều cơ hội được đến
trường hơn những vùng kém phát triển dân cư thưa thớt. Ngoài ra, một số quốc gia
không chú ý đến sự phát triển giáo dục ở các vùng hẻo lánh và nhiều giáo viên
cũng không muốn đến làm việc ở các vùng này. Mật độ dân số cũng ảnh hưởng
đến số lượng và chất lượng của giáo dục. Mật độ dân số lớn và tăng nhanh, số trẻ
em đến tuổi đi học cao gây ra sự quá tải, học sinh phải học cả ca 3. Ngược lại, ở
nơi dân cư quá thưa thớt, số trẻ em trong tuổi đi học không nhiều, khoảng cách từ
nhà đến trường lớn cũng là một yếu tố gây khó khăn cho sự phát triển ngành giáo
dục. Tuy nhiên, tài liệu vẫn chưa đề cập đến vấn để chất lượng giáo dục ở những
nơi có quá đông dân cư, việc đầu tư cho giáo dục cũng gặp nhiều khó khăn khi
điều kiện cơ sở vật chất hạn chế, số lượng phòng ốc, dụng cụ giảng dạy không đủ
khiến ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học.
3.2.2. Trong cuốn Giáo trình Xã hội học dân số của Nguyễn Thị Kim Hoa
cũng đã nói đến ảnh hưởng dân số đến chất lượng giáo dục, mà cụ thể ở đây là chất
lượng giảng dạy, chất lượng học tập, sự đầu tư của gia đình và xã hội cho giáo dục
đào tạo và công tác quản lý giáo dục
Về chất lượng giảng dạy, với vai trò “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” mà
đội ngũ giáo viên là lực lượng quyết định chất lượng giáo dục, công tác đào tạo đội
ngũ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn là rất cần thiết. Sự gia tăng dân số trong độ
tuổi đi học không có nghĩa là chất lượng giáo viên thế nào cũng được miễn là đảm
bảo về số lượng. Thế nhưng, thực trạng vẫn là việc còn nhiều giáo viên chưa có đủ
kinh nghiệm và chuyên môn cho việc giảng dạy. Tuy nhiên, tài liệu vẫn còn chưa
đề cập đến vấn đề chất lượng giáo dục bị ảnh hưởng do việc quá tải học sinh trong

8 lớp, tăng 78 em so với năm học 2008 - 2009. Với số học sinh này, trường phải
19

chuyển một phòng đồ dùng thành lớp học. Sỹ số mỗi lớp năm nay lên tới 54 – 55
học sinh(đông hơn năm ngoái 3 – 4 em một lớp).
Các trường tiểu học trong quận Gò Vấp (TP. HCM) luôn quá tải vì tuyển
sinh đầu cấp. Dù quận có xây thêm trường nhưng chẳng thấm vào đâu do trẻ nhập
cư tăng mạnh. Dự kiến năm học 2012-2013, quận Gò Vấp có 7.765 học sinh (HS)
vào lớp 1 nhưng con số khó dừng lại ở đây vì năm nào cũng vậy, sĩ số cứ tăng
thêm vào cuối tháng 7.
Tại quận Tân Phú, có gần 7.000 HS vào lớp 1, trong đó, gần 50% là trẻ nhập
cư trong khi toàn quận chỉ có 16 trường tiểu học nên năm học này vẫn là năm đầy
áp lực tuyển sinh với các trường tiểu học. Còn ở quận Bình Tân, có 7.209 HS vào
lớp 1, tăng 600 HS so với năm học 2011-2012
Vấn đề đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục. Cơ sở vật chất
còn hạn chế, số lượng giáo viên không đủ đáp ứng được yêu cấu giảng dạy, học
sinh không thể tiếp thu được hết bài giảng của giáo viên.
5. Tác động của Dân số đến chất lượng Giáo dục
5.1. Tác động của dân số đến việc giảng dạy

0%
75%
25%
Số lượng học sinh trong một lớp
30 - 40
41 - 50
Trên 50
20

Khi được hỏi về số lượng học sinh trong một lớp mà mình giảng dạy, có đến

(33%). Tình trạng vẫn còn học sinh không hiểu bài như vậy là do số học sinh trong
một lớp vẫn còn quá đông nên các thầy cô giáo không thể quan tâm nhiều hơn đến
các em tiếp thu chậm được. Việc trong một lớp học mà có đến 50 – 60 học sinh thì
chắc chắn việc truyền thụ kiến thức đầy đủ cho cả lớp là một việc vô cùng khó
khăn, ngay với việc giữ trật tự ổn định trong giờ đã là một công việc rất vất vả đối
với các giáo viên.
Hơn thế, việc các em học sinh tiếp thu được hết bài giảng của giáo viên
càng là những khó khăn đối với các em, đòi hỏi các em phải thật tập trung và
67%
33%
Mức độ hiểu bài trên lớp của các em hoc sinh
Có hiểu
Không hiểu
22

không mất trật tự. Ở học sinh bậc tiểu học, tính ham chơi nghịch ngợm là không
tránh khỏi, đó cũng là một trong những nguyên nhân lớn cản trở trong quá trình
tiếp thu bài giảng trong một tập thể đông. Một phần cũng do các em không hiểu bài
từ những bài dạy trước nên đến các bài sau các em cũng không hiểu nên các em
càng thấy chán nản từ đó các em lại càng không chăm chú nghe giảng, nên đã dẫn
đến việc các em không hiểu bài ngay trên lớp.

Qua số liệu trên cho thấy phần đa các em học sinh hiện nay ngoàiviệc tham
gia học trên trường, lớp thì gia đình còn cho các em đi học thêm ở ngoài hay học
gia sư tại nhà tùy vào từng hoàn cảnh gia đình. Tỉ lệ các em tham gia học thêm
chiếm đên 89%, còn lại 11% là không tham gia. Điều đó có thể cho thấy, việc học
ở trên lớp là chưa thực sự đủ, hay nói cách khác quá trình học tập của các em ở
trên lớp chỉ là cơ bản. Ở bậc tiểu học, với số lượng học sinh quá đông, các giáo
viên cũng kiêm thêm một vai trò đó nói nôm na là các cô trông trẻ. Bởi việc học
tập và tiếp thu trên lớp là rất khó nói, tuy các thầy cô đã dùng nhiều biện pháp như

trẻ. Được học tập trong môi trường với đầy đủ trang thiết bị, phòng học thoáng mát
sạch sẽ, không chỉ tạo cho các em tư thế học tập tốt mà còn giúp các em tiếp thu
bài học hiệu quả .Trong môi trường như vậy trẻ được học tập và vui chơi, không
nặng nề về lý thuyết,giúp các em được thỏa sức sáng tạo với những đồ dùng học
tập tiện lợi. Đồng thời trong công cuộc đổi mới đất nước thì chú trọng đổi mới
24

giáo dục là một trong những định hướng phát triển hàng đầu và là mục tiêu chiến
lược gắn liền với phát triển nền kinh tế tri thức. Vì vậy việc trang bị các đồ dùng,
trang thiết bị học tập hiện đại là việc làm hết sức cần thiết và đúng đắn phục vụ cho
công tác đổi mới cả việc dạy và học. Trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất góp
một phần không nhỏ trong việc cải thiện và nâng cao chất lượng giáo dục.
5.3.2. Về mặt tiêu cực
Tuy nhiên dân số đông cũng mang lại khó khăn và trở ngại lớn trong việc
xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị trong nhà trường. Với số lượng học sinh
lớn buộc nhà nước phải đầu tư xây dựng nhiều nhà trường. Trong những năm gần
đây tổng mức ngân sách mà nhà nước đầu tư cho giáo dục chiếm tới gần 40% tổng
ngân sách của nhà nước, tuy nhiên việc quá tải số lượng học sinh trong các trường
học nói chung và các trường tiểu học nói riêng vẫn là rất lớn. Việc quá tải này dẫn
đến nhiều bất cập như phải chia làm nhiều ca học, học sinh phải học cả thứ 7,chủ
nhật la hiện tượng rất phổ biến hiện nay. Và nhất là trong các nhà trường việc trang
bị bàn ghế, dụng cụ học tập cá nhân vẫn còn chưa được đảm bảo. học sinh vẫn còn
phải học trong môi trường thiếu các trang thiết bị hiện đại là rất phổ biến. Điều
này thể hiện rõ nhất là trong các trường học ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu
vùng xa vùng miền núi khó khăn. Tại các môi trường như vậy điều rõ nhất mà
chúng ta nhìn thấy đó là sự mất cân đối một cách sâu sắc về chất lượng giáo dục
giữa các vùng nông thôn miền núi còn nhiều khó khăn với các thành phố lớn. Việc
không được tiếp cận với những thiết bị học tập hiện đại sẽ gây cản trở lớn tới việc
hình thành và áp dụng những phương pháp học tập đổi mới đối với cả giáo viên và
học sinh. Điều này làm cho họ không được tiếp cận với những nguồn kiến thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status