TRƯỜNG
KHOA………………
Tiểu luận
ĐỀ TÀI:
Ảnh hưởng của lạm phát tới
nền kinh tế của Việt Nam
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
Lời mở đầu 2
I/Lạm phát 3
II/ Nguyên nhân lạm phát 6
1/ Nguyên nhân chung 6
a. Nguyên nhân bên ngoài: 7
b. Nguyên nhân bên trong: 7
III. Ảnh hưởng của lạm phát 9
c/ Ảnh hưởng của lạm phát tới thị trường chứng khoán 13
Các nhân tố của lạm phát ảnh hưởng tới Thị trường chứng khoán 13
Nhân tố giá cả 13
Lời mở đầu
Khi cô giảng cho chúng em nghe về lạm phát cô nói
rằng có thể hình dung lạm phát là hình ảnh người ta phải
chở một xe đầy tiền đi mua hàng và mục tiêu của tên trộm
không phải là tiền trên chiếc xe đó mà là chiếc xe. Hình ảnh
này đã để lại trong em một ấn tượng rất sâu sắc. Chính
những hình ảnh ấy đã thôi thúc trong chúng em một câu
hỏi: Lạm phát thực chất là gì? Nguyên nhân nào dẫn đến
lạm phát? Ảnh hưởng của lạm phát tới nền kinh tế như thế
nào? Có thể kiềm chế được lạm phát hay không?
Câu hỏi ấy càng thôi thúc chúng em khi hàng ngày trên
báo, đài, các phương tiện thông tin đại chúng xuất hiện liên
dung. Cụ thể:
G
p
=(CPI-CPI
0
)/CPI
0
Trong đó: CPI: Giá hàng tiêu dùng năm nghiên cứu
CPI
0
: Giá hàng tiêu dùng năm trước năm nghiên cứu
G
p
: Tỷ lệ lạm phát.
2/Phân loại lạm phát
Lạm phát được chia thành 3 loại:
+ Lạm phát vừa phải: lạm phát dưới 10%/năm
+Lạm phát phi mã: lạm phát 2 con số/năm
+Siêu lạm phát: lạm phát 3(hoặc 4) con số/năm
II/ Nguyên nhân lạm phát
1/ Nguyên nhân chung
Nguyên nhân của lạm phát có thể kể đến những nguyên nhân sau:
Thứ nhất lạm phát do chính sách: thường xảy ra do những biện pháp
tiền tệ mở rộng, phản ánh thâm hụt thu chi ngân sách lớn và việc tài trợ thâm
hụt bằng tiền tệ, thường là cội rễ của lạm phát cao. Một ví dụ kinh điển đó là
những trận siêu lạm phát ở áo và Đức những năm 20 do mở rộng tiền tệ thái
quá.
Thứ hai lạm phát do chi phí đẩy: xảy ra do tăng chi phí và có thể phát
triển ngay cả khi thất nghiệp và việc sử dụng nguồn lực còn thấp. Vì tiền
lương (tiền công) thường là chi phí sản xuất quan trọng nhất, sự gia tăng tiền
cao, đặc biệt là giá lương thực phẩm tăng trên 30%, nên giá thu mua cũng
tăng, từ đó làm ảnh hưởng lớn đến giá cả chung trong nước, vả lại khi tính
chỉ số CPI thì con số lương thực thực phẩm ở ta chiếm tỷ lệ cao (42,85%),
nhà ở vật liệu xây dựng chiếm 10%, giá xăng dầu trong năm 2007 tăng
nhanh, giá vàng thế giới va trong nước tăng rất cao, ảnh hưởng gián tiếp là
tác động tâm lý đến các loại giá khác, nên CPI tăng mạnh.
Tổng kim ngạch nhập khẩu của nước ta hiện nay trên 88% so với GDP vì
nền kinh tế nước ta phụ thuộc rất lớn vào nguyên nhiên vật liệu thế
giới.Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2007 là 111,3 tỷ USD chiếm
156% GDP. Vì vậy khi đồng USD mạnh (năm 1991, năm 1997-1998) ta gặp
khó khăn (vì nhập siêu), USD yếu như hiện nay ta cũng khó khăn. Các nước
đã quen với sự tăng giảm của USD, họ hội nhập trước chúng ta nên đã có
nhiều kinh nghiệm và cũng đã khủng hoảng nhiều. Vì vậy, việc điều chỉnh tỷ
giá theo hướng giảm giá USD là sự điều chỉnh theo tín hiệu thị trường quốc
tế, chứ không phải là ta muốn tăng giá VND, vì không có chính phủ nào
muốn tăng giá đồng bản tệ. Đơn vị xuất khẩu phải hiểu rằng đó là sự điều
chỉnh và phải chia sẻ với khó khăn của nhiều người về căn bệnh lạm phát,
điều quan trọng mà đơn vị xuất khẩu kêu to là ngân hàng không mua USD,
nên không có VND để thu mua, mua chậm giá càng cao. Hiện nay NHNN đã
mua hết nhưng đơn vị không bán nữa vì USD có dấu hiệu tăng giá trong
tương lai. Theo tôi, nếu NHNN VN chủ động điều chỉnh tỷ giá linh hoạt
theo hướng giảm giá USD từ tháng 9/2007 như nhiều nước, thì việc kiềm
chế lạm phát sẽ đở tốn kém.
b. Nguyên nhân bên trong:
Chính sách tài chính không hiệu quả là nguyên nhân rất quan trọng của
căn bệnh lạm phát ở nước ta. Để hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế, Chính phủ
đã có những kế hoạch chi tiêu nâng cấp cơ sở hạ tầng của đất nước và liên
tục bội chi ngân sách trong nhiều năm trn 5% GDP (năm 2007 bội chi
khoảng trên 56.000 tỷ đồng). Đầu tư cho tăng trưởng kinh tế là điều cần
thiết, nhưng đầu tư kém hiệu quả, đầu tư dàn trải, gây lãng phí lớn trong thời
phẩm trong nước không cao, hiệu quả kinh tế thấp.
Mt trong nhng nguyờn nhõn cng gúp phn vo mc lm phỏt gia tng
ti VN hin nay l yu t tõm lý ca ngi dõn (cn kim soỏt thụng tin).
c bit l yu t u c, gm hng, lm giỏ rt kinh nghim (vỡ ta ó
nhiu ln b lm phỏt) ca cỏc n v cung cp hng húa dch v, cỏc i lý
bỏn l ti VN.
III. nh hng ca lm phỏt
Triển khai thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội lần thứ IX của
Đảng, cần phải động viên mọi nguồn lực tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc vì mục tiêu dân giàu, nớc
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tăng trởng bền vững và ổn định
lạm phát ở mức thấp đó là những mục tiêu hàng đầu của điều tiết vĩ mô ở tất
cả các nớc. Không có gì đáng ngạc nhiên khi câu hỏi có sự tồn tại và bản
chất của mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trởng kinh tế đã đợc các nhà
kinh tế hoạch định chính sách đặc biệt quan tâm và trở thành trung tâm của
nhiều cuộc tranh luận về chính sách.
Vậy lạm phát có những ảnh hởng nh thế nào tới nên kinh tế và đặc biệt là
tới nền kinh tế nớc ta? Phần này chúng ta sẽ tìm hiểu mối quan hệ giữa lạm
phát và tăng trởng kinh tế, ảnh hởng của lạm phát tới nền kinh tế; cũng nh đa
ra một số gợi ý về hớng điều tiết vĩ mô của Việt Nam trong thời gian tới.
Lm phỏt cú nh hng nht nh ti s phỏt trin ca kinh t tựy theo
mc ca nú.
1/nh hng ca lm phỏt va phi
Theo lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy mối quan hệ giữa lạm phát và tăng
trởng kinh tế có thể biểu diễn bằng hình chữ U ngợc. Điều đó hàm ý rằng
ở mỗi nớc tồn tại một phạm vi lạm phát an toàn khi mà lạm phát và tăng
trởng có mối quan hệ cùng chiều. Trong trờng hợp đó, lạm phát là cái giá
phải trả cho tăng trởng kinh tế. Nới lỏng tài khoá và tiền tệ, một mặt, có xu
hớng làm tăng lạm phát, mặt khác, sẽ có tác dụng khuyến khích đầu t, mở
rộng tổng cầu và do vậy cho phép sử dụng đầy đủ hơn các nguồn lực hiện có
rằng mức lạm tối u đối với Việt nam có thể nằm trong khoảng 5-7% năm.
2/nh hng ca lm phỏt phi mó v siờu lm phỏt
Lm phỏt phi mó v siờu lm phỏt cú nh hng xu v rt xu n tõt
c cỏc lnh vc trong nn kinh t quc dõn. nh hng ca nú cú th c
khỏi quỏt trong cỏc khớa cnh sau:
a/Khi lạm phát tăng cao gây ra siêu lạm phát làm đồng nội tệ rất
nhanh, khi đó ngời dân sẽ ồ ạt bán nội tệ để mua ngoại tệ. Tệ nạn tham
nhũng tăng cao, nạn buôn lậu phát triển mạnh, tình trạng đầu cơ trái phép
tăng nhanh, trốn thuế và thuế không thu đợc đã gây ra tình trạng nguồn thu
của nhà nớc bị tổn hại nặng nề càng làm cho thâm hụt ngân sách trầm trọng
dẫn đến tỷ lệ lạm phát cao, ngời dân không tin vào chính sách của chính phủ,
tình trạng thất nghiệp tăng. Thất nghiệp tăng dẫn đến gia tăng tệ nạn xã hội
(nhàn c vi bất thiện mà). Do đó có ảnh hởng xấu tới nền kinh tế xã hội và
đồng thời làm suy giảm đạo đức xã hội.
Lm phỏt tỏc ng xu n tỡnh hỡnh tng trng kinh t xó hi: Lm
phỏt lm gim trm trng tc tng trng GDP vỡ nú lm cho ngi dõn
nghốo thờm, kim ch sn xut trong khi doanh nghip.
nh hng n i sng ca cỏc tng lp dõn c: Ngi dõn nht l
nhng ngi lm cụng n lng, nhng h nghốo phi chi s tỏc ng trc
tip nht ca lm phỏt trong cn bóo tng giỏ. Lm phỏt cng lm gim vic
lm cho ngi dõn trong trung v di hn.
nh hng nhiu n khi doanh nghip: Lm phỏt cng gõy ra tỡnh
trng thiu tin vỡ cỏc doanh nghip khụng khai thỏc c ngun tớn dng
cho vic duy trỡ sn xut ca mỡnh. Do ú, s lng cụng vic cho ngi dõn
lm cng gim thiu trong trung v di hn.
b/ nh hng ti Ngnh kinh t ngõn hng
i vi cỏc NHTM, kinh doanh trong lnh vc tin t, lm phỏt tng
cao, sc mua ng tin gim xung, ó nh hng xu n hot ng huy
ng vn, cho vay, u t v thc hin cỏc dch v ngõn hng.
nh hng ca lm phỏt n hot ng dch v ca ngõn hng
lớn, NHNN thực sự khó khăn trong việc kiểm soát chu chuyển của luồng
tiền này, các NHTM cũng khó khăn trong việc phát triển các dịch vụ phi tín
dụng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Vốn tiền thiếu, nhiều
doanh nghiệp thực hiện mua chịu, bán chịu, công nợ thanh toán tăng, thoát
ly ngoài hoạt động.
Như vậy lạm phát tăng cao đã làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thị
trường vốn, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các NHTM. Sự không ổn định
của giá cả, bao gồm cả giá vốn, đã làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư
và dân chúng, gây khó khăn cho sự lựa chọn các quyết định của khách hàng
cũng như các thể chế tài chính – tín dụng. Vì vậy xét ở góc độ các NHTM
cần có những biện pháp kiềm chế lạm phát.
c/ Ảnh hưởng của lạm phát tới thị trường chứng
khoán.
Trước tiên là chúng ta nghiên cứu chứng khoán là gì? Chứng khoán là
bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài
sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới
hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại
sau đây: thứ nhất: Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; thứ hai: Quyền mua
cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương
lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.
Các nhân tố của lạm phát ảnh hưởng tới Thị trường
chứng khoán
Nhân tố giá cả
Bình thường, lãi suất thực chất không là gì khác hơn ngoài chi phí mà
một ngưòi phải trả cho việc sử dụng tiền của người khác. Thế nhưng câu
chuyện về lãi suất khi nó chạy sang thị trường chứng khoán lại không dừng
lại ở đó.
Lạm phát gia tăng thì giá phải trả để sử dụng vốn của người khác sẽ
tăng lên để tương xứng với mức độ gia tăng của giá cả. Chính vì vậy, lãi suất
huy động của ngân hàng phải tăng lên dẫn tới lãi suất cho vay của các ngân
và lãi suất trái phiếu có quan hệ tỷ lệ nghịch: khi lãi suất ngân hàng tăng cao
hơn lãi suất trái phiếu, giá trái phiếu sẽ sụt giảm.
Khơng chỉ vậy, quan hệ giữa lãi suất thò trường và lãi suất chứng
khoán là mối quan hệ gián tiếp tác động đến giá của chứng khoán. Nếu
lãi suất thò trường cao hơn lãi suất chứng khoán thì giá chứng khoán sẽ
giảm, đều này khiến cho hoạt động trên thò trường chứng khoán giảm sút
vì người ta thích gởi tiền vào ngân hàng hơn là mua chứng khoán.
Lãi suất của chứng khoán sẽ ảnh hưởng đến giá của chứng khoán.
Ảnh hưởng này càng lớn nếu kỳ hạn của chứng khoán càng dài. Vì các
chứng khoán dài hạn rủi ro cao hơn các chứng khoán ngắn hạn. Nếu
những nhà đầu tư muốn mua chứng khoán dài hạn thì họ sẽ đòi hỏi một
lãi suất chứng khoán cao hơn nhiều để bù đắp các rủi ro đó.
3/Ảnh hưởng của lạm phát tới nền kinh tế Việt Nam
a/ Lạm phát gây ra khó khăn đối với các nền kinh tế đang trong q trình
chuyển đổi.
Bởi vì sự tự do hóa giá cả – xóa bỏ sự quản lý của chính phủ về giá cả –
là một bước đi căn bản để tiến tới một nền kinh tế thị trường. Kết quả đầu
tiên của sự tự do hóa giá cả là có thể tiên đốn – một đợt tăng giá đối với các
hàng loạt hàng hóa vẫn bị thiếu hụt kinh niên. Vì sao? Bởi vì chính phủ cố ý
giữ giá những sản phẩm này ở mức thấp nên cầu ln vượt q cung, hoặc
do các sai lệch về kinh tế khác và những sự khơng hiệu quả gây ra bởi những
người ra quyết định trong chính phủ. Ngồi ra, nếu người dân đang giữ một
lượng tiền lớn vào thời điểm nền kinh tế chuyển đổi (vì lượng tiền cần để
mua hàng rất ít) thì áp lực của lạm phát thậm chí lại càng gia tăng.
Tuy nhiên, phần thưởng cho việc trải qua cuộc lạm phát tất yếu này
trong giai đoạn chuyển đổi lại rất lớn. Khơng bị kìm hãm bởi chính phủ, cơ
chế thị trường về cung và cầu có thể bắt đầu hoạt động. Giá cả cao phát tín
hiệu về nhu cầu cao và thị trường, thay vì chậm chạp như lúc đầu, đã có
phản ứng bằng việc tăng sản xuất. Tiền của người dân có thể đã mất giá trị,
nhưng số tiền mà họ có lúc này có giá trị thật và người tiêu dùng có thể mua
dịch vụ như lúc ban đầu. Đó là tin vui cho Robert và Maria nhưng lại là tin
xấu đối với những người cho họ vay tiền.
Cũng tương tự như vậy, những ai có lương hưu cố định (hoặc nhận
được các khoản tiền cố định khác theo một hợp đồng dài hạn) sẽ bị ảnh
hưởng bởi lạm phát, trong khi những người phải thanh toán theo yêu cầu của
những hợp đồng đó lại có lợi. Những người để dành tiền và các nhà đầu tư
cũng bị ảnh hưởng vì lạm phát làm giảm giá trị của số tiền của họ. Ngược
lại, những người có thể phải trả nợ hoặc thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng
khác bằng đồng tiền bị lạm phát thì thường có lợi, trừ khi lãi suất và các
khoản thanh toán khác được phép điều chỉnh theo mức lạm phát.
Các quốc gia cần tiền tiết kiệm và các khoản tiền vay để đầu tư thêm
cho tư liệu sản xuất – nhà xưởng, nhà máy và công nghệ mới. Do đó, bằng
việc làm ảnh hưởng đến người tiết kiệm, lạm phát có thể làm giảm tăng
trưởng kinh tế và sự thịnh vượng về lâu dài của một quốc gia. Và thậm chí
nhìn rộng ra, lạm phát làm cho hoạt động kinh doanh và kinh tế khó dự đoán
hơn, do đó khiến cho đầu tư vào các nước khác có lạm phát thấp hoặc không
có lạm phát trở nên hấp dẫn hơn. Liệu một công ty sẽ xây dựng một nhà máy
ở một nước có tỷ lệ lạm phát không dự đoán được thay đổi trong khoảng từ
10% đến 15%, hay ở một địa điểm có tỷ lệ lạm phát trước đây ổn định trong
khoảng từ 2% đến 5%? Câu trả lời là ở địa điểm sau. Như vậy, lạm phát làm
cho số người bị thua thiệt trở nên nhiều hơn so với số người được lợi bằng
cách phá hủy môi trường kinh tế đối với tất cả các cá nhân và doanh nghiệp.
Vì tất cả những lý do này, chính sách ổn định giá của chính phủ phải
cân bằng được giữa nhu cầu khuyến khích tăng trưởng kinh tế và sự đòi hỏi
phải kiểm soát được lạm phát
b/ Ảnh hưởng của lạm phát của các nền kinh tế khác tới nền kinh tế của Việt
Nam.
Khủng hoảng tài chính thế giới tác động đến kinh tế Việt Nam trên sáu
phương diện.
Mọi biến động về tiền tệ và ngân hàng luôn được người dân quan tâm.
Thứ ba, kiều hối sẽ bị ảnh hưởng nặng nề vì đa số kiều hối về Việt
Nam xuất phát từ Mỹ. Mỗi năm Việt Nam nhận khoảng 3 tỉ USD kiều hối,
số tiền này chắc chắn sẽ giảm khi nền kinh tế Mỹ gặp khó khăn.
Thứ tư, cán cân thanh toán sẽ gặp khó khăn khi các ngân hàng bị thiếu
hụt tín dụng.
Thứ năm, xuất khẩu sẽ bị tác động nặng nề nhất vì Mỹ, EU, Nhật đang
là thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam.
Thứ sáu, nhập siêu với Trung Quốc sẽ tăng nhanh vì hàng giá rẻ của
Trung Quốc không vào được thị trường Nhật, Mỹ, EU thì sẽ đổ dồn sang
Việt Nam.
Để hạn chế bị ảnh hưởng, các doanh nghiệp cần theo dõi sát sao diễn
biến thị trường; đặc biệt chú trọng và tăng cường công tác dự báo. Cần xây
dựng nhiều “kịch bản” và cách ứng phù hợp, để khi xảy ra trường hợp nào
thì ứng phó được ngay. Về tiền tệ, cần tăng cường quản lý các hoạt động tài
chính.
Trong đó, các doanh nghiệp phải tự cứu mình bằng cách phát triển thị
trường nội địa và tiếp tục phát triển xuất khẩu cho các thị trường mới ngoài
Mỹ, EU và Nhật.
IV/ Các biện pháp khắc phục và kiềm chế lạm phát phi
mã và siêu lạm phát
Do lạm phát phi mã và siêu lạm phát có ảnh hưởng rất xấu tới nền
kinh tế nên cần có những biện pháp kiềm chế và khắc phục những ảnh
hưởng của nó tới nền kinh tế.
1/ Các biện pháp khắc phục và kiềm chế lạm phát của các nước trên thế giới:
Sau khi nắm rõ những nguuyên nhân gây lạm phát ta trình bày một số
biện pháp như sau:
Thứ nhất làm tốt công tác tuyên truyền chủ trương của Đảng và Nhà
nước, xác định kiềm chế lạm phát là mục tiêu hàng đầu, kiềm chế lạm phát
là vì cái chung, vì đại bộ phận nhân dân lao động và vì sự phát triển bền
vững và lâu dài của kinh tế xã hội nước ta. Do đó, phải có sự chia sẻ của mọi
độc lập.
Giải pháp dài hạn là: việc làm thường xuyên: kiểm soát chi tiêu
công một cách hiệu quả, cải cách thủ tục hành chính, chống tham nhũng
thường xuyên và tích cực, chính sách tiền tệ theo hướng hỗ trợ vốn cho tăng
trưởng trên cơ sở kiểm soát tín dụng lành mạnh, điều hành tỷ giá linh hoạt
theo hướng mở rộng biên độ và theo tín hiệu thị trường, tiến tới hạn chế tối
đa tình trạng đô la hóa tại VN, sử dụng có hiệu quả các công cụ chính sách
tiền tệ theo tín hiệu thị trường trong nước và quốc tế kiểm soát nhập siêu,
đầu tư cho các lĩnh vực sản xuất có chất lượng hàng thay thế hàng nhập
khẩu: nhà máy lọc dầu, xi măng, phôi thép, phân bón, chất dẻo, thức ăn gia
súc, vải, giấy, (đầu tư dài hạn và có chính sách hỗ trợ đặc biệt để đẩy nhanh
tiến độ), hỗ trợ xuất khẩu thông qua nhiều giải pháp đồng bộ chứ không phải
duy nhất như chính sách tỷ giá (chất lượng sản phẩm, mẫu mã, chủng loại
hàng, hạ giá thành xuất khẩu, tài trợ tín dụng, hỗ trợ xúc tiến thương mại,
chiến lược marketing quốc tế, chất lượng chế biến, uy tín đơn vị xuất
khẩu ), cải tiến kỹ thuật tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp trong nước, đảm bảo an ninh lương thực, khuyến
khích và hỗ trợ tích cực cho việc phát triển nông nghiệp- nông thôn, phòng
trừ dịch họa và thiên tai, tăng cường công tác dự báo để có chính sách kịp
thời, tăng dự trữ ngoại hối quốc gia…
Tóm lại, kiềm chế lạm phát không phải là bài toán không có lời giải,
vấn đề là cần chấp nhận những thiệt hại nhất định cho mục tiêu tăng trưởng
kinh tế, cho ngân sách nước nhà. Vì vậy, cần có đồng thuận và chia sẻ của
Chính phủ, doanh nghiệp và nhân dân. Cần đặt nước ta trong nền kinh tế thế
giới để có cái nhìn tổng hợp và bình tỉnh hơn. Các Bộ, các ban ngành từ
trung ương đến địa phường cần làm hết sức mình, bằng những kế hoạch cụ
thể để triển khai các chỉ đạo mà Thủ tướng Chính phủ đã ban hành. Những
kết quả tốt đẹp sẽ đến với kinh tế VN nếu chúng ta đoàn kết và có quyết tâm
cao theo một đường lối thống nhất của Đảng và Nhà nước ta.
V/Kết bài: