Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế
LẠM PHÁT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT TỚI NỀN KINH TẾ
A - MỞ ĐẦU
Bất kỳ nền kinh tế nào, từ mô hình tập trung quan liêu bao cấp đến
kinh tế thị trường, muốn phát triển vững mạnh đều phải quan tâm đặc biệt tới
tam giác: tăng trưởng, thất nghiệp và lạm phát. Chúng liên kết hay đối lập,
chúng liên hợp những nhịp độ của tăng trưởng, sự tăng lên hay tụt xuống của
những lớp thất nghiệp dưới làm sóng lạm phát. Lạm phát, đó là hiện tượng
mất cân bằng kinh tế phổ biến, là căn bệnh kinh niên của kinh tế thị trường.
Lạm phát được coi là con quỷ gớm nhất trên trái đất, ít nhất là xét về triển
vọng chính sách kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên lạm phát cũng có tính chất hai mặt
của nó. Một mặt nó kích thích nền kinh tế phát triển nếu tốc độ tăng của nó
phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, nếu tốc độ lạm phát tăng
cao sẽ gây ra những biến động kinh tế hết sức nghiêm trọng, như biến dạng cơ
cấu sản xuất về việc làm, thu nhập bất bình đẳng, tỷ lệ thất nghiệp tăng....
Vì vậy, để có thể ổn định kinh tế ở một mức nhất định, lạm phát cần
giảm xuống ở mức có thể chấp nhận được. Và thực tế là xu hướng giảm lạm
phát gây ra tình trạng thiểu phát, đây cũng là biểu hiện của nền kinh tế trì trệ
khủng hoảng. Nên muốn ổn định đất nước cả về kinh tế và xã hội, để đảm bảo
quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người dân thì vấn đề tăng trưởng kinh tế và
chống lạm phát phải được thực hiện một cách thống nhất. Đây là một vấn đề
vĩ mô lớn, một mảng quan trọng của chính sách kinh tế .... vì vậy đòi hỏi
chúng ta phải nắm vững lý luận chung về lạm phát. Chỉ có thấu hiểu một cách
khoa học về lý thuyết lạm phát thì mới có thể đạt được hiệu quả phát triển
kinh tế xã hội. Trong thực tế lạm phát là gì? Nguyên nhân gây ra lạm phát có
đa dạng không? Nền kinh tế bị cơn sóng lạm phát tác động như thế nào?
Chúng ta làm thế nào để phòng chống và khắc phục hậu quả của nó?.. Hy
vọng là với đề án “Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế ” có
thể phần nào trả lời được các câu hỏi này.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế
dân và của cải xã hội có lợi cho giai cấp thống trị dưới chế độ TBCN, là
phương pháp để tăng cường bóc lột lao động. Biểu hiện của lạm phát là giá cả
tăng một cách tự phát, nhất là các giá cả hàng tiêu dùng thông thường. Nội
dung lạm phát là sự liên tục tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian.
Nhà kinh tế học Samuelson thì cho rằng lạm phát biểu thị một sự tăng lên
trong mức giá cả chung. Theo ông “lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả
và chi phí tăng- giá bánh mì, dầu xăng, xe ôtô tăng, tiền lương, giá đất, tiền
thuê tư liệu sản xuất tăng“. Milton Friedman đã có câu phát biểu nổi tiếng
“lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ “. Theo ý kiến của
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế
ông những biến động tăng lên trong mức giá cả là một hiện tượng tiền tệ khi
và chỉ khi những biến động tăng lên đó từ một quá trình kéo dài. Định nghĩa
lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo dài được đa số nhà kinh tế phái tiền
tệ hay phái Keynes đồng ý với Friedman.
Như vậy, lạm phát là một vấn đề không mấy xa lạ đối với nền kinh tế
hàng hoá, và hầu hết quảng đại quần chúng đều có thể chứng kiến hay trải
qua thời kỳ lạm phát ở những mức độ khác nhau. Nhưng hiểu chính xác lạm
phát là gì thì không dễ cũng như khó có thể đi đến một định nghĩa thống nhất.
Theo tiếng Latinh Inflatio xuất phát từ chữ Inflare, nghĩa là một chỗ sưng
phồng. Nếu một cơ bắp bị căng phồng hoặc một phủ tạng bị sưng to đều
không phải là biểu hiện của bệnh beó bệu, thì mọi sự tăng trưởng của một
khối lượng kinh tế lại càng không phải là lạm phát. Lạm phát là một sự phình
ra gồm 2 đặc tính bất thường và gây tổn thất cho nền kinh tế. Khẳng định coi
lạm phát là một sự tăng phổ biến của giá cả cần nắm rõ 4 điểm sau:
- Tính từ phổ biến phải được hiểu một cách hợp lý: không phải mọi giá
đều tăng lên. Trong khung cảnh chung giá đang tăng lên, có những giá vẫn ổn
định thậm chí lại có những giá hạ xuống. Cũng không phải là các giá tăng lên
cùng một lúc và với tỉ lệ % giống nhau. Trong mọi động thái phổ biến của giá
cả thì sự phân tán là quy luật.
cpi: Chỉ số giá cả của từng loại hàng hoá trong giỏ hàng hoá đó. d:
Tỷ trọng mức tiêu dùng trong từng loại hàng hoá, nhóm hàng hoá trong giỏ.
Hay:
CPI t =
P
t
gạo
x 100 x
phần chi
cho gạo
+
p
t
chất đốt
x 100 x
phần chi
cho chất
+
Những thay đổi của
giá cả được tính với
p
0
gạo p
0
chất đốt
Trong đó:
CPI
t
: giá trị của CPI trong năm t
pt gạo : giá gạo trong năm t
Một trong những khó khăn về kỹ thuật của việc đo lường hiện tượng lạm
phát là sự lựa chọn điểm xuất phát dùnglàm căn cứ. Vào thời điểm được chọn
lại chẳng có gì chứng tỏ là giá cả đã được cân đối. Nhất là với sự tác động của
thuế hoặc các chính sách khác về kiểm soát giá cả, làm cho việc lựa chọn
những năm gốc thành bấp bênh. Đặc biệt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hoá
như hiện nay, chỉ số giá tiêu dùng khác nhau từ nước này sang nước kia, còn
chỉ số giá sản xuất chỉ mang tính bộ phận và đầu cơ. Do vậy, cái chuẩn tốt
nhất có lẽ là chỉ số giá các sản phẩm công nghiệp thường được dùng làm hàng
trao đổi rộng rãi giữa các quốc gia. Bởi nó biểu thị rõ những biến động của
chi phí sản xuất cũng như những biến động trong sức mua của người tiêu
dùng.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế
Tỷ lệ lạm phát là thước đo chủ yếu của lạm phát trong một thời kỳ. Quy
mô và sự biến động của nó phản ánh xu hướng và quy mô của lạm phát.
Tỉ lệ lạm phát được tính theo công thức:
%x
I
I
gp
p
p
1001
1
1. 1. 3 Phân loại lạm phát
Có rất nhiều cách phân loại lạm phát dựa trên các tiêu thức khác nhau.
Mỗi tiêu thức sẽ cho một hướng nhìn riêng về lạm phát. Người ta phân biệt
lạm phát lan dần biểu hiện ở sự tăng giá cả liên tục, thường xuyên và lạm
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế
phát lan nhanh trong đó giá cả tăng lên vùn vụt và nhảy vọt. Tùy theo quá
trình lạm phát bao trùm khu vực này hay khu vực khác mà lạm phát được
chia thành lạm phát thế giới bao trùm một nhóm nước và lạm phát cục bộ chỉ
phát triển trong phạm vi một nước.
- Phổ biến là phân loại lạm phát về mặt định lượng. Tuỳ theo mức độ
của tỉ lệ % lạm phát tính theo năm mà người ta chia lạm phát thành ba loại
sau:lạm phát vừa phải(một con số mỗi năm), lạm phát phi mã (hai con số mỗi
năm) và siêu lạm phát.
Lạm phát vừa phải.
Lạm phát này xảy ra khi giá cả tăng lên chậm ở mức một con số hay ở
mức dưới 10%/năm. Hiện ở phần lớn các nước tư bản chủ nghĩa đang có lạm
phát vừa phải. Trong điều kiện lạm phát vừa phải giá cả tăng chậm thường
xấp xỉ bằng mức tăng tiền lương hoặc cao hơn một chút. Do vậy đồng tiền
không bị mất giá hoặc mất giá không lớn. Lạm phát ở mức độ này không gây
ra những tác động đáng kể đối với nền kinh tế. Lạm phát vừa phải chính là
mức lạm phát mà nền kinh tế chấp nhận được.
Lạm phát phi mã
Lạm phát phi mã xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 con
số trong một năm. Mức lạm phát 2 chữ số thấp (11, 12, 13%/năm) nói chung
những tác động tiêu cực của nó là không đáng kể, nền kinh tế vẫn có thể chấp
nhận được. Nhưng khi tỷ lệ tăng giá ở mức 2 con số cao, lạm phát sẽ trở
thành kẻ thù của sản xuất và thu nhập. Lạm phát sẽ gây ra những biến dạng
kinh tế, gây mất ổn định XH nghiêm trọng. Khi các hợp đồng kinh tế được ký
kết theo các chỉ số giá hoặc theo một đồng ngoại tệ mạnh nào đó, nếu lạm
tương đối dài với tỷ lệ lạm phát hàng năm khá đều đặn, ổn định. Do vây,
người ta có thể dự đoán trước được tỷ lệ lạm phát cho những năm tiếp theo.
Về mặt tâm lý, người dân đã quen với tình hình lạm phát đó và người ta đã có
những chuẩn bị để thích nghi với tình trạng lạm phát này.
+ Lạm phát bất thường: là lạm phát xảy ra co tính đột biến mà trước
đó chưa hề xuất hiện. Do vậy, về tâm lý, cuộc sống và thói quen của mọi
người đều chưa thích nghi được. Lạm phát bất thường gây ra những cú sốc
cho nền kinh tế và sự thiếu tin tưởng của người dân vào chính quyền đương
đại.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế
1. 2 Nguyên nhân gây ra lạm phát
1.2.1. Lạm phát do tiền tệ
1.2.1.1. Lý thuyết về lượng của tiền tệ
- Hình thức hoá thông thường nhất của lý thuyết đó là công thức Irving
Fisher: M. V=P. T
Trong đó M là khối lượng tiền tệ lưu thông
V là tốc độ lưu thông của tiền tệ
P là mặt bằng chung của giá cả
T là khối lượng giao dịch phải bảo đảm
ý nghĩa của công thức đó là mọi sự tăng tiền tệ cao hơn tăng sản xuất thực tế
đều được thể hiện (đối với một tốc độ lưu thông không đổi của tiền tệ) ra
bằng sự hiệu chỉnh giá cả chung, sao cho giá trị tổng thể của trao đổi bằng giá
trị của khối lượng tiền tệ mới đang lưu thông. Trong thời han ngắn hoặc trong
trường hợp bộ máy sản xuất không đáp ứng được nhu cầu tăng lên, biến động
của giá cả sẽ tỷ lệ thuận với biến động của khối lượng tiền tệ.
- Một cách diễn đạt mới của quan hệ về lượng được gọi là Phương trình
Cambridge _ gắn với các công trình của Marshall: M = k. P. Y
Trong đó M là khối lương tiền tệ lưu thông
Y là thu nhập thực tế của quốc gia
một nhu cầu quá mức, kéo giá cả tăng lên.
Cung ứng tiền tệ và lạm phát tiền tệ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
P
P
3
P
2
P
1
Y
n
Y
1
3
2
’
2
1
1
’
A D
1
A D
2
A D
3
A S
1
A S
gây ra lạm phát.
Theo phân tích của phái Keynes thì ngoài cung tiền tệ còn có những
nhân tố khác ảnh hưởng đến đường tổng cầu và tổng cung(như là các chính
sách tài chính và các cú sốc cung tiền tệ). Tăng chi tiêu chính phủ hoặc cắt
giảm thuế cũng làm tăng tổng cầu do đó đẩy giá lên cao. Nhưng những vấn đề
của chính sách tài khoá lại có giới hạn của nó, chính phủ không có thể chi hơn
100% GNP. Vì vây, việc tăng lên của tỷ lệ lạm phát trong trường hợp này chỉ
là tạm thời. Phân tích khác là về tác động của những cú sốc tiêu cực lên tổng
cung(như việc tăng giá dầu do hậụ quả của lệnh cấm vận dầu mỏ, đấu tranh
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế
của công nhân đòi tăng lương) cũng sẽ làm giá cả tăng lên. Song nếu cung
tiền tệ không tiếp tục tăng lên để tác động lên tổng cầu thì đến một lúc nào
đó, tổng cung lại quay trở lại vị trí ban đầu. Do vậy, tăng giá trong trường
hợp này cũng chỉ là một hiện tượng nhất thời mà thôi.
Rõ ràng là quan điểm của phái Keynes và phái tiền tệ tương đối thống
nhất nhau. Họ đều tin rằng lạm phát cao có thể xảy ra chỉ với một tỷ lệ tăng
trưởng tiền tệ cao.
1.2.2. Lạm phát do nhu cầu
1.2.2.1. Tiền tệ và nhu cầu quá mức
Quan hệ tiền tệ và nhu cầu quá mức đặc biệt chặt chẽ khi thừa nhận định
luật Say cổ xưa. Theo định luật này, sự cung cấp sản phẩm tạo ra nhu cầu
chính nó, nghĩa là nhu cầu tổng thể được tạo nên bởi toàn bộ thu nhập được
phân phối vào dịp sản xuất. Nhu cầu quá mức chỉ có thể có do sự tăng không
kiểm soát được các phương tiện chi trả trong tay những người có nhu cầu.
Tính đặc thù của quan điểm giải thích lạm phát do nhu cầu, so với quan
điểm của phái tiền tệ là ở chỗ việc phát hành tiền tệ chỉ dẫn đến lạm phát
trong trường hợp bộ máy sản xuất không thể đáp ứng mức tăng của nhu cầu.
Thế là hiệu chỉnh cung-cầu được thực hiện bằng giá cả thay cho số lượng.
Lạm phát xảy ra khi khi nhu cầu quá mức lại nảy sinh và không có yếu tố