Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế - Pdf 24

A - MỞ ĐẦU
Bất kỳ nền kinh tế nào, từ mô hình tập trung quan liêu bao cấp đến kinh
tế thị trường, muốn phát triển vững mạnh đều phải quan tâm đặc biệt tới tam
giác: tăng trưởng, thất nghiệp và lạm phát. Chúng liên kết hay đối lập, chúng
liên hợp những nhịp độ của tăng trưởng, sự tăng lên hay tụt xuống của những
lớp thất nghiệp dưới làm sóng lạm phát. Lạm phát, đó là hiện tượng mất cân
bằng kinh tế phổ biến, là căn bệnh kinh niên của kinh tế thị trường. Lạm phát
được coi là con quỷ gớm nhất trên trái đất, ít nhất là xét về triển vọng chính
sách kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên lạm phát cũng có tính chất hai mặt của nó. Một
mặt nó kích thích nền kinh tế phát triển nếu tốc độ tăng của nó phù hợp với tốc
độ tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, nếu tốc độ lạm phát tăng cao sẽ gây ra những
biến động kinh tế hết sức nghiêm trọng, như biến dạng cơ cấu sản xuất về việc
làm, thu nhập bất bình đẳng, tỷ lệ thất nghiệp tăng....
Vì vậy, để có thể ổn định kinh tế ở một mức nhất định, lạm phát cần giảm
xuống ở mức có thể chấp nhận được. Và thực tế là xu hướng giảm lạm phát gây
ra tình trạng thiểu phát, đây cũng là biểu hiện của nền kinh tế trì trệ khủng
hoảng. Nên muốn ổn định đất nước cả về kinh tế và xã hội, để đảm bảo quyền
lợi và nghĩa vụ của mỗi người dân thì vấn đề tăng trưởng kinh tế và chống lạm
phát phải được thực hiện một cách thống nhất. Đây là một vấn đề vĩ mô lớn,
một mảng quan trọng của chính sách kinh tế .... vì vậy đòi hỏi chúng ta phải
nắm vững lý luận chung về lạm phát. Chỉ có thấu hiểu một cách khoa học về lý
thuyết lạm phát thì mới có thể đạt được hiệu quả phát triển kinh tế xã hội.
Trong thực tế lạm phát là gì? Nguyên nhân gây ra lạm phát có đa dạng không?
Nền kinh tế bị cơn sóng lạm phát tác động như thế nào? Chúng ta làm thế nào
để phòng chống và khắc phục hậu quả của nó?.. Hy vọng là với đề án “Lạm
phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế ” có thể phần nào trả lời được
các câu hỏi này.
Dọc chiều dài lịch sử, đã có rất nhiều các nhà kinh tế học nghiên cứu về
lạm phát. Mỗi nhà kinh tế học, mỗi trường phái đều có quan điểm khác nhau về
lạm phát. Góc nhìn nào cũng có những sự đánh giá, lời khuyên và dự báo khách
quan, vô tư, nghiêm túc. Là sinh viên khoa Tài chính - Ngân hàng, một cử nhân

xăng, xe ôtô tăng, tiền lương, giá đất, tiền thuê tư liệu sản xuất tăng“. Milton
Friedman đã có câu phát biểu nổi tiếng “lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một
hiện tượng tiền tệ “. Theo ý kiến của ông những biến động tăng lên trong mức
giá cả là một hiện tượng tiền tệ khi và chỉ khi những biến động tăng lên đó từ
một quá trình kéo dài. Định nghĩa lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo dài
được đa số nhà kinh tế phái tiền tệ hay phái Keynes đồng ý với Friedman.
Như vậy, lạm phát là một vấn đề không mấy xa lạ đối với nền kinh tế hàng
hoá, và hầu hết quảng đại quần chúng đều có thể chứng kiến hay trải qua thời
kỳ lạm phát ở những mức độ khác nhau. Nhưng hiểu chính xác lạm phát là gì thì
không dễ cũng như khó có thể đi đến một định nghĩa thống nhất. Theo tiếng
Latinh Inflatio xuất phát từ chữ Inflare, nghĩa là một chỗ sưng phồng. Nếu một
cơ bắp bị căng phồng hoặc một phủ tạng bị sưng to đều không phải là biểu hiện
của bệnh beó bệu, thì mọi sự tăng trưởng của một khối lượng kinh tế lại càng
không phải là lạm phát. Lạm phát là một sự phình ra gồm 2 đặc tính bất thường
và gây tổn thất cho nền kinh tế. Khẳng định coi lạm phát là một sự tăng phổ
biến của giá cả cần nắm rõ 4 điểm sau:
- Tính từ phổ biến phải được hiểu một cách hợp lý: không phải mọi giá đều
tăng lên. Trong khung cảnh chung giá đang tăng lên, có những giá vẫn ổn định
thậm chí lại có những giá hạ xuống. Cũng không phải là các giá tăng lên cùng
một lúc và với tỉ lệ % giống nhau. Trong mọi động thái phổ biến của giá cả thì
sự phân tán là quy luật.
- Việc ước tính tỷ lệ lạm phát là khó khăn. Nó có giá trị như giá trị các trị
số được sử dụng thời kỳ càng dài thì giới hạn sai lạc của các công cụ không
hoàn hảo ấy càng tăng. Ngay trong điều kiện sử dụng thuận lợi nhất, tức là ở
ngay trong cùng một nước và trong thời gian ngắn, chỉ số giá cả cũng chỉ thể
hiện áng chừng sự thay đổi sức mua của đồng tiền. Chỉ số giá cả sẽ được trình
bày rõ hơn ở phần tiếp theo.
- Mọi sự gia tăng trên một loạt giá cả không nhất thiết đã là lạm phát. Để
được gọi là lạm phát thì sự gia tăng đó phải tác động bằng một quá trình mạnh
mẽ-sự vận hành với các diễn biến nối tiếp, liên tục và cần có một thời gian nhất

chất đốt
x 100 x
phần chi
cho chất
+
Những thay đổi của
giá cả được tính với
p
0
gạo p
0
chất đốt
Trong đó:
CPI
t
: giá trị của CPI trong năm t
pt gạo : giá gạo trong năm t
p
o
gạo : giá gạo trong năm gốc
Chỉ số giá tiêu dùng phản ánh cơ cấu tiêu dùng của xã hội. Nhược điểm
của CPI là chỉ số này không phản ánh được sự chuyển động của mọi giá cả vì
trong đó nặng về giá của hàng hoá hơn là giá của dịch vụ. Trong khi đó, cầu của
người tiêu dùng lại ngả về phía giá dịch vụ vì nhữmg loại giá này tăng nhanh
hơn giá hàng hoá. Mặc dù có nhược điểm như vậy, chỉ số giá tiêu dùng vẫn
được sử dụng rộng rãi hơn cả. Vì họ thấy ở đấy trị số giá sinh hoạt, về phía các
nghiệp đoàn thường dựa vào đó trong các yêu sách về tiền lương của họ. Chỉ số
này thường có giá trị kỹ thuật cao hơn các chỉ số giá khác và được xây dựng,
công bố thường xuyên, đều đặn.
+ Ngoài chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số thứ hai thường được sử dụng là chỉ

I
gp
p
p
1001
1








−=

Trong đó:
gp : tỷ lệ lạm phát(%)
I
p
: chỉ số giá cả của thời kỳ nghiên c0ứu
I
p-1
: chỉ số giá cả thời kỳ trước đó.
Khi lạm phát xảy ra thì đồng nghĩa với việc tăng lên của chỉ số giá cả, nên
mức cầu tiền danh nghĩa cũng tăng theo để đảm bảo thu mua khối lượng hàng
hoá cần thiết đã dự định. Như vậy thực chất của mức cầu tiền là cầu về cán cân
tiền tệ thực tế.
Nhưng trong thực tế thì lượng tiền danh nghĩa tăng nhanh hơn cả do vậy tỉ
lệ lạm phát cũng được tính bằng mức tăng lượng cung tiền danh nghĩa trừ đi

nền kinh tế chấp nhận được.
Lạm phát phi mã
Lạm phát phi mã xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 con số
trong một năm. Mức lạm phát 2 chữ số thấp (11, 12, 13%/năm) nói chung những
tác động tiêu cực của nó là không đáng kể, nền kinh tế vẫn có thể chấp nhận
được. Nhưng khi tỷ lệ tăng giá ở mức 2 con số cao, lạm phát sẽ trở thành kẻ thù
của sản xuất và thu nhập. Lạm phát sẽ gây ra những biến dạng kinh tế, gây mất
ổn định XH nghiêm trọng. Khi các hợp đồng kinh tế được ký kết theo các chỉ số
giá hoặc theo một đồng ngoại tệ mạnh nào đó, nếu lạm phát xảy ra với sự tăng
lên rất nhanh của chỉ số giá cả làm cho đồng tiền mất giá so với các chỉ số giá
hoặc đồng ngoại tệ đó sẽ làm cho các chủ doanh nghiệp, các chủ hợp đồng. . . có
thể ″phất″ lên và trái lại cũng có các chủ doanh nghiệp, các ngành nghề suy sụp
thậm chí phải chuyển hướng sản xuất kinh doanh.
Siêu lạm phát
Siêu lạm phát xảy ra khi lạm phát đột ngột tăng lên với tốc độ cao vượt xa
lạm phát phi mã, ở mức 3 con số. Siêu lạm phát thường gây ra những thiệt hại
nghiêm trọng và sâu sắc. Nó phá vỡ quy luật lưu thông tiền tệ, lưu thông hàng
hoá gặp nhiều khó khăn, xã hội đầy những tiêu cực, nền kinh tế suy sụp trì trệ
không thể phát triển được. Lạm phát ở Đức năm 1922-1923 là hình ảnh siêu lạm
phát điển hình trong lịch sử siêu lạm phát thế giới: giá cả tăng từ một đến mười
triệu lần; ở Việt Nam điển hình của siêu lạm phát là thời kỳ 1986-1988 (nền
kinh tế tập trung quan liêu bao cấp) lạm phát đã ở mức 3 con số và ở mức cao.
Nếu được phép nói ẩn dụ thì có một động vật học trong lạm phát. Nếu phát
triển nhẹ nhàng thì như loài bò sát, nếu tiến mạnh hơn thì như loài ngựa, lạm
phát có thể chỉ bò đi hoặc trở thành phi mã. Trong cái vườn thú ấy còn phải
dành chỗ cho loài dê có những bước nhảy bất thường.
- Bên cạnh đó, người ta cũng tiến hành phân loại lạm phát xét về mặt định
tính.
Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng
+ Lạm phát cân bằng: khi mà tỷ lệ lạm phát tăng tương ứng với thu

Trong đó M là khối lương tiền tệ lưu thông
Y là thu nhập thực tế của quốc gia
P là mặt bằng chung của giá cả
k là hệ số biểu thị tỉ số giữa khối lượng tiền tệ và thu nhập phụ thuộc vào
nhiều yếu tố không đơn thuần là một hệ số kỹ thuật.
Sự tiếp cận này là lý thuyết về lượng với ý nghĩa độ lớn của khối lượng
tiền tệ quyết định giá trị của thu nhập quốc gia, nhưng nếu nó tìm cách đưa tiền
tệ vào nền kinh tế thì lại bỏ qua các quan hệ giữa cung và cầu của tiền tệ .
1.2.1.2. Cung ứng tiền tệ và lạm phát
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, sự tiếp cận của các nhà tiền tệ học bước
vào thời kỳ mới, đặc biệt với công trình của Friedman. Ông đã định rõ nhu cầu
tiền tệ nhờ hàm Md/P = f(y, w, RM, RB, RE, Gp, u). Trong đó
Md biểu thị nhu cầu tiền tệ
P là mặt bằng giá
y là thu nhập dự kiến tính bằng bình quân thu nhập hiện tại và quá khứ đã
chỉnh lý
w là tỷ lệ giữa thu nhập từ thiết bị và con người
RM, RB, RE là hiệu suất danh nghĩa dự kiến của tiền tệ, trái phiếu và cổ
phần.
Gp là tỷ lệ lạm phát dự kiến
u là biến lượng biểu thị tất cả những yếu tố khác có thể giải thích những
nhu cầu cá nhân và tiền tệ
Theo ông nhịp điệu tăng trưởng của tiền tệ phải cùng nhịp điệu tăng
trưởng của nền sản xuất đích thực duy trì trong một thời gian dài và bảo đảm
một nền kinh tế không lạm phát. Nếu làm khác đi, nghĩa là nếu phát hành tiền
quá nhiều, những người muốn gửi tiền mặt tồn quỹ xác định bằng sức mua của
nó(tiền mặt tồn quỹ thực tế là M/P) và hàm của các biến thành phần ổn định sẽ
biến một phần tièn mặt tồn quỹ đó thành nhu cầu của cải để giữ nguyên cấu trúc
tài sản của họ. Hiệu ứng tiền mặt tồn quỹ thực tế sẽ gây nên một nhu cầu quá
mức, kéo giá cả tăng lên.

A S
1
A S
2
A S
3
Y
( T æ n g s ¶ n p h È m )
( T æ n g m ø c g i ¸ )
0
gian rất ngắn, nền kinh tế sẽ chuyển động đến điểm 1’ và sản phẩm tăng lên trên
mức tỷ lệ tự nhiên, tức là đạt tới Y1(Y1>Yn). Điều đó đã làm giảm tỷ lệ thất
nghiệp xuống dưới mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiê, tiền lương tăng lên và làm
giảm tổng cung-đường tổng cung dịch chuyển vào đến AS2. Tại đây, nền kinh tế
quay trở lại mức tỷ lệ tự nhiên của sản phẩm trên đường tổng cung dài hạn.
Điểm cân bằng mới 2, mức giá đã tăng từ P1 lên P2. Cung tiền tệ tiếp tục tăng
lên, đường tổng cầu lại dịch chuyển ra đến AD3, đường tổng cung tiếp tục dịch
chuyển vào AS3, nền kinh tế đạt mức cân bằng mới là điểm 3. Nếu cung tiền tệ
vẫn tiếp tục tăng thì sự dịch chuyển của đường tổng cầu và tổng cung như trên
lại tiếp tục diễn ra và nền kinh tế đạt tới mức giá cả ngày càng cao hơn. Khi mà
cung tiền tệ còn tăng thì quá trình này sẽ tiếp tụcvà lạm phát sẽ xảy ra. .
Trong cách phân tích này của phái tiền tệ, cung tiền tệ được coi là nguyên
nhân duy nhất làm di chuyển đường tổng cầu, do vậy không co cái gì nữa có thể
làm nền kinh tế chuyển từ điểm 1 sang 2 và 3 và xa hơn. Theo quan điểm của
các nhà kinh tế học thuộc phái tiền tệ( trong đó có Friedman) , khi cung tiền tệ
tăng lên kéo dài sẽ làm cho mức giá cả tăng lên kéo dài và gây ra lạm phát.
Theo phân tích của phái Keynes thì ngoài cung tiền tệ còn có những nhân
tố khác ảnh hưởng đến đường tổng cầu và tổng cung(như là các chính sách tài
chính và các cú sốc cung tiền tệ). Tăng chi tiêu chính phủ hoặc cắt giảm thuế
cũng làm tăng tổng cầu do đó đẩy giá lên cao. Nhưng những vấn đề của chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status