Luận văn
Lạm phát và tác động
của lạm phát tới nền
kinh tế Việt Nam
BÀI THẢO LUẬN
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài: Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế Việt Nam.
Danh sách các thành viên:
1. Nguyễn Việt Long (Nhóm trưởng)
2. Dư Thu Hà
3. Lê Thế Cao
4. Nguyễn Duy Khanh
5. Đỗ Thị Minh Huệ
BÀI LÀM
1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT
1.Khái niệm lạm phát
Lạm phát là một khái niệm kinh tế đã xuất hiện từ lâu, gắn liền với sự ra đời
và phát triển của tiền tệ. Quá trình phát triển tiền tệ ghi nhận nhiều sự thay đổi
trong cách định nghĩa lạm phát, từ việc giảm hàm lượng kim loại so với giá trị
danh nghĩa của tiền khi mà tiền tệ còn tồn tại chế độ bản vị kim loại, cho đến khi
xuất hiện các lý thuyết về lạm phát và mỗi lý thuyết có một cách nhìn nhận và
đánh giá riêng về hiện tương kinh tế này.
• Quan điểm của K. Marx: “Lạm phát là việc tràn đầy các kênh và các luồng lưu
thông những tờ giấy bạc thừa”
• Quan điểm của P. Samuelson: “Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi
phí tăng”
• Quan điểm của M. Friedman: “Lạm phát luôn luôn và bao giờ cũng là một hiện
tượng kinh tế -xã hội chung hay căn bệnh kinh niên của những nước có sử dụng
tiền tệ hiện đại.
Vậy lạm phát là gì? Có nhiều quan điểm khác nhau nhưng hầu hết các nhà kinh tế
học đều đưa ra một đặc điểm chung về lạm phát đó là “hiện tượng giá cả tăng
như vậy khái niệm thiểu phát không tồn tại. Thuyết "lưu thông tiền tệ" mà
những đại diện tiêu biểu là Milton Friedman, J. Bodin lại cho rằng việc
đưa quá nhiều tiền vào lưu thông làm giá cả tăng gây ra lạm phát. Còn nếu
lượng tiền trong lưu thông quá ít khiến giá cả giảm gọi là thiểu phát. Khi
xảy ra thiểu phát, chỉ số giá cả giảm tức là tốc độ tăng của chỉ số giá là âm.
Giảm phát là trường hợp xảy ra ngược lại đối với lạm phát. Khi chỉ số giá
các năm sau càng cao hơn năm trước thì lạm phát xuất hiện; nếu chỉ số giá
ở các thời điểm nghiên cứu đều cao hơn thời điểm được chọn làm mốc,
nhưng càng về sau chỉ số giá càng thấp hơn thời điểm trước đó và đây là
biểu hiện của giảm phát. Trongthời kì thiểu phát, chỉ số giá không những
càng về sau càng giảm mà còn thường xuyên ở mức thấp hơn so với mức
giá năm gốc.
• Giảm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống liên tục. Cũng
có thể nói giảm phát là lạm phát với giá trị âm. Giảm phát thường xuất hiện khi
kinh tế suy thoái hay đình đốn.
2. Phương pháp đo lường lạm phát
Để đo lường lạm phát người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ lạm phát được tính bằng
phần trăm thay đổi của mức giá chung.
%100
1
1
×
−
=
−
−
t
tt
t
P
GDP
DGDP
Ví dụ: DGDP
t
= 120 có nghĩa là mức giá chung năm t tăng 20% so với năm trước.
• Chỉ số giá sinh hoạt (CLI) là sự tăng trên lý thuyết giá cả sinh hoạt của một cá
nhân so với thu nhập, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giả định một
cách xấp xỉ. Các nhà kinh tế học tranh luận với nhau là có hay không việc một CPI
có thể cao hơn hay thấp hơn so với CLI dự tính. Điều này được xem như là "sự
thiên lệch" trong phạm vi CPI. CLI có thể được điều chỉnh bởi "sự ngang giá sức
mua" để phản ánh những khác biệt trong giá cả của đất đai hay các hàng hóa khác
trong khu vực (chúng dao động một cách rất lớn từ giá cả thế giới nói chung).
• Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo giá cả các hàng hóa hay được mua bởi "người
tiêu dùng thông thường" một cách có lựa chọn. Trong nhiều quốc gia công nghiệp,
những sự thay đổi theo phần trăm hàng năm trong các chỉ số này là con số lạm phát
thông thường hay được nhắc tới. Các phép đo này thường được sử dụng trong việc
chuyển trả lương, do những người lao động mong muốn có khoản chi trả (danh
định) tăng ít nhất là bằng hoặc cao hơn tỷ lệ tăng của CPI. Đôi khi, các hợp đồng
lao động có tính đến các điều chỉnh giá cả sinh hoạt, nó ngụ ý là khoản chi trả danh
định sẽ tự động tăng lên theo sự tăng của CPI, thông thường với một tỷ lệ chậm
hơn so với lạm phát thực tế (và cũng chỉ sau khi lạm phát đã xảy ra).
Chỉ số giá tiêu dùng- CPI đo lường mức giá trung bình của giỏ hàng hoá và
dịch vụ mà một người tiêu dùng điển hình mua. CPI của một năm (thời kỳ) nào đó
chính là tỷ số giữa giá trị (chi phí) giỏ hàng của năm đó và giá trị (chi phí) giỏ hàng
của năm cơ sở nhân với 100.
Chỉ số giá tiêu dùng thường được dùng để theo dõi sự thay đổi của chi phí
sinh hoạt theo thời gian. Nó phản ánh xu thế và mức độ biến động của gía bán lẻ
hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ dùng trong sinh hoạt của dân cư và các hộ gia đình.
CPI tăng có nghĩa là mức giá trung bình tăng.
CPI được tính theo công thức:
: Là giá hàng hoá i thời kỳ (năm) t.
0
i
p
: Là giá hàng hoá i thời kỳ (năm) cơ sở.
0
i
q
: Là lượng hàng hoá của hàng hoá i trong năm cơ sở.
Ví dụ: CPI
t
= 150 có nghĩa là so với năm gốc thì mức giá chung đã tăng lên là
50%.
• Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được không
tính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu. Nó khác với CPI là sự trợ cấp
giá, lợi nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận được bởi các nhà sản
xuất là không bằng với những gì người tiêu dùng đã thanh toán. Ở đây cũng có một
sự chậm trễ điển hình giữa sự tăng trong PPI và bất kỳ sự tăng phát sinh nào bởi nó
trong CPI. Rất nhiều người tin rằng điều này cho phép một dự đoán gần đúng và có
khuynh hướng của lạm phát CPI "ngày mai" dựa trên lạm phát PPI ngày "hôm
nay", mặc dù thành phần của các chỉ số là khác nhau; một trong những sự khác biệt
quan trọng phải tính đến là các dịch vụ.
• Chỉ số giá bán buôn đo sự thay đổi trong giá cả các hàng hóa bán buôn
(thông thường là trước khi bán có thuế) một cách có lựa chọn. Chỉ số này rất giống
với PPI.
• Chỉ số giá hàng hóa đo sự thay đổi trong giá cả của các hàng hóa một cách
có lựa chọn. Trong trường hợp bản vị vàng thì hàng hóa duy nhất được sử dụng là
vàng. Khi nước Mỹ sử dụng bản vị lưỡng kim thì chỉ số này bao gồm cả vàng và
bạc.
• Chỉ số giảm phát (điều chỉnh) GDP dựa trên việc tính toán của tổng sản
và dịch vụ trong giỏ hàng hóa tiêu dùng.
(3) Nó không tính đến trường hợp người tiêu dùng sử dụng hàng hoá
thay thế có giá rẻ hơn tương đối theo thời gian.
Trong thực tế ở Việt Nam, chúng ta thường hay sử dụng chỉ số giá tiêu dùng
hơn là chỉ số điều chỉnh DGDP hơn. Chỉ số giá tiêu dùng thường được sử dụng
nhằm điều chỉnh các biến số kinh tế để loại trừ ảnh hưởng của lạm phát.
2.2. Công thức tính tỷ lệ lạm phát như sau:
%100
1
1
×
−
=
−
−
t
tt
t
CPI
CPICPI
π
Trong đó:
t
CPI
: Là chỉ số giá tiêu dùng của năm t.
3. Phân loại lạm phát.
3.1 Định lượng
• Giảm phát ( Deflation)
• Thiểu phát (Low inflation)
• Lạm phát vừa phải ( Normal inflation)
Siêu lạm phát
Siêu lạm phát là lạm phát "mất kiểm soát", tỷ lệ lạm pháp đặc biệt cao, một
tình trạng giá cả tăng nhanh chóng khi tiền tệ mất giá trị.Không có định nghĩa
chính xác về siêu lạm phát được chấp nhận phổ quát. Một định nghĩa đơn giản là
chỉ số lạm phát hàng tháng từ 50% trở lên. Trong cách dùng không chính thức thì
thuật ngữ này được áp dụng cho chỉ số lạm phát thấp hơn nhiều.
Siêu lạm phát có một số điều kiện để xảy ra như sau:
(1) Chỉ xuất hiện trong các hệ thống sử dụng tiền pháp định.
(2) Nhiều cuộc siêu lạm phát xuất hiện sau chiến tranh do sự căng thẳng của
ngân sách chính phủ.
(3) Khủng hoảng nợ.
Đặc điểm chung của mọi nền kinh tế khi xảy ra siêu lạm phát là sự gia tăng
quá mức của cung tiền, do tài trợ thâm hụt ngân sách quá lớn. Khi lạm phát cao
xảy ra lại kéo theo tình trạng thâm hụt ngân sách trầm trọng hơn có thể không kiểm
soát được. Do lạm phát cao dẫn đến giảm mạnh nguồn thu từ thuế tính theo phần
trăm so với GDP từ đó tiếp tục làm tăng thâm hụt ngân sách và đẩy lạm phát tiếp
tục leo thang. Người ta thường dùng bốn tiêu chí để xác định siêu lạm phát, đó là
người dân không muốn giữ tài sản của mình ở dạng tiền; giá cả hàng hóa trong
nước không còn tính bằng nội tệ nữa mà bằng một ngoại tệ ổn định; các khoản tín
‘2dụng sẽ tính cả mức mất giá cho dù thời gian tín dụng là rất ngắn; lãi suất, tiền
cụng v giỏ c c gn vi ch s giỏ v t l lm phỏt cng dn trong ba nm lờn
ti 100 phn trm.
3.2 nh tớnh:
Lm phỏt cõn bng (Balanced inflation)
Lm phỏt khụng cõn bng (Unbalanced inflation)
Lm phỏt d oỏn c ( Predicted inflation)
Lm phỏt khụng d oỏn c ( Unpredicted inflation)
Lạm phát cân bằng và không cân bằng :
Lạm phát đợc gọi là cân bằng khi nó tăng tơng ứng với thu nhập . Nghĩa là sự
tồn tại của lạm phát , không ảnh hởng đến đời sống của nhân dân . Ngợc lại , lạm
rng sn xut.Vic lm c to thờm.T l tht nghip s gim.
4.2.Hiu ng tiờu cc
Khi lm phỏt xy ra, thụng thng thu nhp thc t gim i, dõn c nghốo i
mt cỏch tng i. Cuc sng tr nờn khú khn hn.
Tớnh cht ca lm phỏt cú nh hng quan trng n tn tht m lm phỏt gõy
ra cho xó hi.Theo tớnh cht ca lm phỏt chỳng ta chia lm phỏt lm hai loi l
lm phỏt c d tớnh trc v lm phỏt khụng c d tớnh trc.Vi mi loi thỡ
tn tht li khỏc nhau.
4.2.1. i vi lm phỏt c d tớnh trc
Chi phớ mũn giy (shoe-leather cost)
Chi phớ thc n (menu cost)
• Phân bổ sai nguồn lực
• Nhầm lẫn và bất tiện
• Méo mó do hệ thống thuế gây ra
Trong trường hợp lạm phát có thể được dự kiến trước thì các thực thể tham
gia vào nền kinh tế có thể chủ động ứng phó với nó, mọi khoản vay cũng như hợp
đồng về các biến danh nghĩa đã được điều chỉnh phù hợp với lạm phát tuy vậy nó
vẫn gây ra những tổn thất cho xã hội, đặc biệt là khi lạm phát ở mức cao.
Khi giá trị đồng tiền bị giảm sút một cách nhanh chóng nhưng được dự báo
trước, tiền dần mất đi chức năng là phương tiện trao đổi của mình.Trong tình hình
đó, người dân cố gắng để tránh phải nắm giữ tiền. Họ tiêu xài tiền ngay khi họ vừa
nhận được, các công ty trả lương ngay khi nhận được tiền từ bán hàng, Ví dụ như
những năm 1920, khi lạm phát ở Đức đạt đến mức lạm phát phi mã (trên 50% một
tháng), tiền lương được trả 2 lần mỗi ngày. Mặt khác, khi dự báo được mức lạm
phát sẽ tăng cao, người dân có xu hướng tìm kiếm một phương tiện thanh toán
khác thay thế cho tiền (ví dụ như dùng ngoại tệ). Trong những năm 1980, khi lạm
phát ở Israel đạt đến mức 1000% một năm, Đô la Mỹ trở thành một phần quan
trọng tổng cung tiền của đất nước. Ngoài ra, trong giai đoạn lạm phát cao được dự
báo trước, việc trao đổi hiện vật cũng trở nên nhiều hơn.
Các hoạt động bị thúc đẩy bởi lạm một mức lạm phát cao được dự báo trước
và hệ thống tài chính tăng lãi suất danh nghĩa theo lạm phát , hậu quả mà nền kinh
tế phải gánh lấy là suy thoái và thất nghiệp gia tăng .Khi lãi suất càng tăng thì đầu
t thực tế càng giảm .
Về mặt lâu dài , sự cân bằng trên thị trờng hàng hoá và tiền tệ sẽ kéo cả lạm
phát và lãi suất xuống khi không có sự can thiệp của NHTƯ . Nhng cái giá phải trả
là tiềm năng sản xuất bị lãng phí . Số việc làm giảm và đời sống nhân dân thêm khó
khăn .
4.3.2.Phõn phi thu nhp quc dõn khụng bỡnh ng,
Khi lạm phát tăng lên , tổng thu nhâph danh nghĩa tăng lên , nhng
trong đó chứa đựng sự phân phối lại giữa các nhóm dân c với nhau , giữa giới chủ
và ngời làm công , giữa ngời đi vay và ngời cho vay và giữa chính phủ với ngời
đóng thuế . Núi chung lm phỏt tỏc ng i vi phõn phi thu nhp mc ụ no
cũn phi ph thuc nhiu yu t v nhiu nhúm tỏc nhõn kinh t. Khúa lun xin
nờu a ra 1 s hng tỏc ng nh sau:
* Tỏc ng ti ngi cho vay v ngi i vay:
Khi nn kinh t cú lm phỏt thỡ mi quan h gia ngi vay v ngi cho vay c
xem xột theo lói sut thc. Thu nhp c chuyn t ngi i vay sang ngi cho
vay khi lm phỏt trong thc t khỏc vi mc lm phỏt d kin v ngc li.Chờnh
lch gia lm phỏt thc t v lm phỏt d kin cng cao thỡ mc phõn phi cng
nhiu.
Mun trỏnh c s phõn phi li ny thỡ quỏ trỡnh cho vay phi c xỏc nh
theo lói sut th ni, mc lói sut ny phi luụn luụn c xỏc nh theo cụng thc:
Lói sut th ni= Lói sut thc + t l lm phỏt
* Tác động giữa người hưởng lương và ông chủ:
Nói chung tốc độ tăng tiền công hầu như chậm hơn so với tốc độ tăng của giá. Vì
vậy những người lao động hưởng lương bao giờ cũng bị thiệt thòi và người được
lợi là các ông chủ. Quá trình phân phối này chỉ không diễn ra khi tốc độ tăng của
tiền công bằng với tốc độ tăng của giá.
* Tác động giữa người mua và người bán tài sản tài chính
Đa số các loại tài sản tài chính có mức lãi suất danh nghĩa cố định. Như vậy khi có
thừa tiền và giàu có thì đầu cơ tài sản và hàng hoá , trong khi dân ngheò không đủ
khả năng để mua sắm hàng tiêu dùng cho một tháng thì họ có thể mua hàng núi
hàng để dự trữ , chờ giá lên tùng ra bán . Chính sự đầu cơ này càng làm cho cung
hàng hoá khan hiếm và giá cả càng lên cơn sốt . Cuối cùng là dân lao động không
mua nổi ngay cả hàng tiêu dùng cần thiết để sống , trong khi những kẻ đầu cơ bán
ra hàng hoá với giá cao và càng trở nên giàu có hơn . Lạm phát nh thế có thể dẫn
đến rối loạn kinh tế và làm cho hố ngăn cách thu nhập giữa ngời giàu và ngời nghèo
thêm lớn hơn . Quá trình phân phối lại thu nhập , do lạm phát thờng là không hợp lý
và làm tăng thêm sự bất bình đẳng.
4.3.3.nh hng ti cỏn cõn thanh toỏn quc t
Lạm phát làm cho chính phủ đợc lợi nhiều hơn từ thuế thu nhập đánh vào
nhân dân . Chính phần thu nhập thực tế mà nhân dân mất đi đã chạy vào ngân sách
của chính phủ , thì ngợc lại , trong quan hệ kinh tế đối ngoại , những khoản nợ quốc
gia của chính phủ đối với các nớc sẽ trở nên trầm trọng hơn . Chính phủ đợc lợi
trong nớc nhng lại bị thiệt đối với nợ nớc ngoài . Vì lạm phát làm tỉ giá hối đoái
tăng và đồng tiền trong nớc trở nên mất giá nhanh hơn so với tin tệ nớc ngoài tính
trên các khoản nợ . Nếu lạm phát trong nớc không đổi , lạm phát ở nớc ngoài tăng
cao . Tình trạng đó sẽ làm cho đồng tiền nội địa lên giá và chính phủ sẽ vui mừng
vì các khoản nợ nớc ngoài nhỏ lại . Tuy nhiên ,cái lợi từ việc giảm các khoản nợ
không thể bù đợc các khoản thiệt hại xuất khẩu và sản lợng .
4.3.4Lm phỏt v thu nhp thc t
Lạm phát không chỉ làm hao mòn giá trị của tài sản không có lãi tức
tiền mặt ,nó còn làm hao mòn cả những tài sản có lãi .Thuế thì đợc ấn định cho một
năm hoặc nhiều năm . Nên trong thời hạn ngắn hạn nó rất khó điều chỉnh . Trong
khi lạm phát có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào . Vì vậy vô hình chung , khi lạm phát
xảy ra càng chất thêm gánh nặng thuế thu nhập và các loại thuế khác lên ngời lao
động . Kết quả là lạm phát càng cao , thu nhập thực tế của nhân dân càng giảm .
Đời sống của họ càng khó khăn hơn . Ngay cả khi lãi suất và tiền lơng đợc điều
chỉnh theo cùng tỉ lệ lạm phát .
4.3.5Lm phỏt v tht nghip
Đường Phillip ngắn hạn chỉ thể hiện sự đánh đổi giữa thất nghiệp và lạm
phát khi có các cơn sốt cầu (cầu tăng dẫn đến giá tăng cao, sản xuất tăng và thất
nghiệp giảm); còn khi xuất hiện các cơn sốt cung, chi phí sản xuất tăng, sản xuất bị
thu hẹp làm cho giá cả tăng và thất nghiệp cũng tăng.
Tỷ lệ lạm phát
Hình 4: Đường Phillip ngắn hạn và dài hạn
U
N
U
N1
Tỷ lệ thất nghiệp
ei'
ei
(P)
(P
1
)
Đường Phillip dài hạn
(P')
Đường Phillip ngắn hạn
Dựa vào đường Phillip ngắn hạn, các nhà hoạch định chính sách có thể lựa chọn
chính sách kinh tế vĩ mô (nhất là chính sách tài chính, tiền tệ). Chẳng hạn, khi nền
kinh tế gặp phải lạm phát cao, chính phủ theo đuổi mục tiêu giảm lạm phát sẽ thắt
chặt chính sách tiền tệ (tăng lãi suất, giảm chi tiêu chính phủ ) và thất nghiệp sẽ
gia tăng. Ngược lại, nếu nền kinh tế rơi vào suy thoái, thất nghiệp gia tăng thì
chính phủ lại kích cầu đầu tư và tiêu dùng để giảm thất nghiệp nhưng phải chấp
nhận lạm phát cao.
Trong dài hạn
Đường Phillip dài hạn là một đường thẳng song song với trục biểu diễn tỷ lệ
lạm phát và cắt trục hoành tại điểm có tỷ lệ lạm phát tự nhiên (U
- Tiêu dùng tăng cao (C)
- Đầu tư tăng cao (I)
- Chi tiêu chính phủ tăng cao (G)
- Xuất khẩu tăng cao (NX)
• Lạm phát có thể hình thành khi xuất hiện sự gia tăng đột biến trong nhu cầu về tiêu
dùng và đầu tư. Chẳng hạn, khi có những làn sóng mua sắm mới làm tăng mạnh
tiêu dùng, giá cả của những mặt hàng này sẽ tăng, làm cho lạm phát dâng lên và
ngược lại. Tương tự, lạm phát cũng phụ thuộc vào sự biến động trong nhu cầu đầu
tư: sự lạc quan của các nhà đầu tư làm tăng nhu cầu đầu tư và do đó đẩy mức giá
tăng lên. Trong nhiều trường hợp, lạm phát thường bắt nguồn từ sự gia tăng quá
mức trong các chương trình chi tiêu của chính phủ. Khi chính phủ quyết định tăng
chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng, thì mức giá sẽ tăng.
Ngược lại, khi chính phủ quyết định cắt giảm các chương trình chi tiêu công cộng,
hoặc các công trình đầu tư lớn đã kết thúc, thì mức giá sẽ giảm.