NGUYỄN THỊ HOÀNG DIỄM 102_T01
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ ĐẾN
NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
1
NGUYỄN THỊ HOÀNG DIỄM 102_T01
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Tỷ giá là một biến số kinh tế vĩ mô quan trọng có tác động tới nhiều mặt
hoạt động của nền kinh tế. Nó ra đời từ hoạt động ngoại thương và quay trở lại tác
động lên hoạt động xuất nhập khẩu và cán cân thương mại của mỗi quốc gia. Xây
dựng thành công một chính sách điều hành tỷ giá thích hợp là một vấn đề vô cùng
khó khăn phức tạp. Vì vậy để nghiên cứu về vấn đề này tôi chọn đề tài “Tỷ giá và
tác động của tỷ giá đến nền kinh tế Việt Nam”. Vì độ dài bài viết có hạn nên ở đây
tôi chỉ đề cập đến tác động của sự thay đổi tỷ giá giữa USD và VND.
2
NGUYỄN THỊ HOÀNG DIỄM 102_T01
1. Khái niệm chung:
1.1.Khái niệm:
Tỷ giá hối đoái (thường được gọi tắt là tỷ giá) là sự so sánh về mặt giá cả
giữa hai đồng tiền của hai nước khác nhau. Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái là giá
của một đồng tiền này tính bằng giá của một đồng tiền khác.
Chế độ tỷ giá hối đoái là cách thức một đất nước quản lý đồng tiền của
mình liên quan đến các đồng tiền nước ngoài và quản lý thị trường ngoại hối. Chế
độ tỷ giá hối đoái ở mỗi nước và mỗi thời kỳ có thể khác nhau, song về cơ bản gồm
chế độ tỷ giá "thả nổi" theo đó thị trường quy định những biến động của tỷ giá hối
đoái, hoặc ngược lại hoàn toàn là chế độ tỷ giá hối đoái "cố định" theo đó nhà nước
sẽ can thiệp để tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền của nước mình với đồng tiền nước
khác không đổi, hoặc là một chế độ nằm giữa hai giải pháp góc đó (thả nổi có điều
tiết).
1.2. Thực trạng về vấn đề tỉ giá ở VN hiện nay:
ngoài sẽ dùng ít hàng nhập khẩu hơn. Hoạt động xuất khẩu giảm sút, làm cho cung
ngoại tệ trên thị trường giảm; đây cũng là nguyên nhân làm tỷ giá hối đoái tăng.
Như vậy, lạm phát ảnh hưởng đến cả cung và cầu ngoại tệ theo hướng tăng giá
ngoại tệ, tác động cộng gộp làm cho tỷ giá hối đoái tăng nhanh hơn. Trên thị trường
tiền tệ, lạm phát làm đồng tiền mất giá, người dân sẽ chuyển sang nắm giữ các tài
sản nước ngoài nhiều hơn, cầu ngoại tệ gia tăng đẩy tỷ giá hối đoái tăng. Trong
trường hợp các quốc gia đều có lạm phát thì những tác động trên sẽ phụ thuộc vào
tỷ lệ lạm phát tương đối giữa các quốc gia. Quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao hơn,
đồng nội tệ quốc gia đó sẽ mất giá một cách tương đối và tỷ giá hối đoái tăng. Đối
với nước ta hiện nay, lạm phát đang ở mức cao nên việc tăng tỷ giá là điều không
thể tránh khỏi.
Tuy nhiên, áp lực lạm phát ở Việt Nam trong năm 2011 chủ yếu đến từ các
nguồn khác chứ không phải từ việc điều chỉnh tỷ giá vừa rồi:
Thứ nhất, việc điều chỉnh giá điện (tăng 15.28% so với mức giá năm 2010)
bắt đầu từ 1.3.2011 và việc cho phép các hàng hóa năng lượng quan trọng như xăng,
dầu, than “vận hành theo cơ chế thị trường” chắc chắn sẽ là một cú hích đáng kể đối
với lạm phát.
Thứ hai, xu thế giá thế giới của các hàng hóa cơ bản (đặc biệt là năng lượng,
thực phẩm, vật tư nông nghiệp và kim loại) tiếp tục tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến
mặt bằng giá trong nước vì nền kinh tế của chúng ta đã trở nên rất mở. Không
những thế, như một hiện tượng có tính quy luật, giá hàng hóa cơ bản ở các nước
đang phát triển (trong đó có Việt Nam) một khi đã tăng thì thường tăng cao hơn
nhiều so với các nước phát triển. Chẳng hạn như trong năm 2010, chỉ số giá hàng
hóa cơ bản ở các nước đang phát triển là 31% trong khi trên toàn thế giới chỉ là
19%.
Thứ ba, trong năm 2010, với tốc độ tăng cung tiền và tín dụng đều ở mức
trên 25% và tỷ lệ đầu tư trên 40% trong khi tốc độ tăng trưởng GDP thực chỉ là
6,8% thì lạm phát tiền tệ sau một độ trễ nhất định sẽ được thể hiện trong chỉ số giá.
Điều chỉnh tỷ giá và tăng giá điện đều là những việc không thể không làm để giảm
sự méo mó trong giá thị trường, vốn là một điều kiện cần để nền kinh tế có thể giảm
Về lý thuyết, việc tăng tỷ giá USD/VND sẽ hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu,
làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng việt xuất đi nước ngoài. Chẳng hạn hàng thủ
công mỹ nghệ, hàng nông lâm thủy hải sản. Trong tháng 1/2011, Việt Nam xuất
khẩu gạo thu về được 194 triệu USD. Với tỷ giá mới, số tiền VND tăng thêm là
269,5 tỷ đồng. Tương tự, cao su xuất được 337 triệu USD, số tiến tăng thêm nhờ tỷ
giá mới tới 468,3 tỷ đồng; Thủy sản xuất được 400 triệu USD, số tiền tăng thêm
nhờ tăng tỷ giá tới 586 tỷ đồng. Nhờ vậy, doanh nghiệp có thể nâng giá mua cho
nông dân hoặc điều chỉnh linh hoạt giá bán ra thị trường nước ngoài. Tất nhiên, tỷ
giá tăng có hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu nhưng để tăng xuất khẩu doanh nghiệp
còn phải và tìm kiếm bạn hàng, quảng bá sản phẩm và bảo đảm chất lượng sản
phẩm chứ không chỉ dựa vào lợi thế do tỷ giá đem lại. Vì vậy, việc tăng tỉ giá
USD/VND có tác động làm cải thiện cán cân thương mại. Thâm hụt thương mại
hàng hóa 2010 lên tới 12,4 tỷ USD (chiếm 12%GDP), bằng 17.3% kim ngạch xuất
khẩu. Cán cân thương mại của Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với tỷ giá, và việc
điều chỉnh tỷ giá lần này sẽ có tác dụng tích cực trong việc cải thiện thâm hụt
thương mại. Đồng nội tệ giảm giá sẽ làm cho các doanh nghiệp xuất khẩu gặp nhiều
thuận lợi hơn khi hàng hóa sản xuất có sức cạnh tranh hơn, trong khi đó nhập khẩu
sẽ giảm đi và cán cân thương mại được cải thiện.
Việc tăng tỷ giá với tỉ lệ khá cao vào tháng 2/2011 có thể là một biện pháp
đau đớn, song cần thiết và bất khả kháng trong tình hình hiện nay nhằm làm cho
nhập khẩu trở nên đắt đỏ hơn, xuất khẩu có thể thuận lợi hơn và qua đó, có thể giảm
nhập siêu ở mức độ nhất định. Xuất khẩu có thể có lợi nếu tỉ lệ giá trị gia tăng của
sản phẩm cao (như gạo, hải sản) trong khi tác động thúc đẩy hạn chế hơn đối với
các sản phẩm lắp ráp điện tử vì tỉ lệ hàng nhập lên đến 90% giá thành. Tuy nhiên,
những hệ lụy đối với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô thì cần phải bàn thêm.
Trước hết, với mức nhập khẩu lên đến 84 tỉ USD trên GDP 102 tỉ USD năm
2010 (chiếm 82%GDP), trong đó chỉ 10% là hàng tiêu dùng, 20% là trang thiết bị,
máy móc, còn lại khoảng 70% là đầu vào cho hoạt động kinh tế như xăng dầu, sắt
thép, bông sợi , nền kinh tế nước ta quá phụ thuộc vào nhập khẩu và việc điều
chỉnh tỉ giá mạnh như lần này sẽ dẫn đến tăng giá đáng kể các mặt hàng nhập khẩu
mới đây nhất là lần điều chỉnh tăng thêm 9,3% (11.2.2011). Ông Bùi Kiến Thành
cho rằng: Các nhà nghiên cứu, cũng như các chuyên gia đã nhiều lần nói về việc
muốn cạnh tranh xuất khẩu thì phải hạ giá tiền VND xuống. Để cho VND rẻ đi và
giá hàng xuất khẩu của Việt Nam rẻ hơn để thúc đẩy xuất khẩu. Nhưng theo ông, đó
là những bài học này có tính chất giáo điều, không áp dụng cho Việt Nam được. Bởi
vì, tại Việt Nam chỉ nhìn hai ngành xuất khẩu chủ lực là da giày và may mặc thì hơn
90% là nguyên liệu nhập khẩu. Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 11 tháng
đầu năm 2010, da giày xuất khẩu 4,56 tỉ USD, dệt may xuất khẩu được 5,52 tỉ
USD. Tổng cộng lại là 10,8 tỉ USD. Trong khi đó, nhập khẩu của hai mặt hàng này
là 8,8 tỉ USD. Như vậy, xuất ròng của hai sản phẩm chiến lược trên chỉ còn 1,2 tỉ
USD thôi. Đây là vấn đề của nền kinh tế gia công chủ yếu nhập khẩu, còn phần giá
trị gia tăng chủ yếu là lao động. Vì thế, nếu đồng bạc VN rẻ đi thì nguyên liệu nhập
khẩu sẽ đắt lên. Như vậy giá thành sản phẩm sẽ tăng lên chứ không phải giá thành
sẽ rẻ hơn để xuất khẩu. Tỉ giá chỉ ổn định khi cán cân thanh toán cân bằng và cán
cân thương mại nghiêng về xuất chứ không phải nhập.
6
NGUYỄN THỊ HOÀNG DIỄM 102_T01
2.3.Tỷ giá với đầu tư nước ngoài
Theo Thống đốc NHNN, tháng 2/2011 là thời điểm thích hợp và thuận lợi để
điều chỉnh tỷ giá do nguồn ngoại hối dồi dào, các khoản vốn đầu tư trực tiếp, gián
tiếp, ODA cũng đang giải ngân tốt qua đó, sẽ giúp thị trường ngoại hối ổn định,
không bị xáo trộn.
Thế nhưng, cũng tồn tại một thực tế khác. Đó là từ hơn nửa năm nay, tỷ giá
trên thị trường phi chính thức luôn luôn vượt trần, có khi tới trên 10%. Bên cạnh đó,
dòng vốn nước ngoài (FDI, ODA và kiều hối) tuy lớn nhưng không đủ bù đắp thâm
hụt thương mại cũng như khoản “sai số và thiếu sót” (mà nguyên nhân là do người
dân và doanh nghiệp chuyển danh mục tiền tệ sang vàng và đô la). Kết quả là cán
cân thanh toán luôn bị thâm hụt và dự trữ ngoại hối tụt xuống mức thấp nhất kể từ
năm 2005 dù tính theo con số tuyệt đối hay tính theo số tuần nhập khẩu. Như vậy,
áp lực giảm giá tiền đồng tích tụ suốt nhiều tháng qua đã buộc NHNN phải “buông”
nước, làm cho cung ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái giảm. Đầu tư ra nước ngoài ròng
7
NGUYỄN THỊ HOÀNG DIỄM 102_T01
là hiệu số giữa luồng vốn chảy ra và luồng vốn chảy vào một nước. Khi đầu tư ra
nước ngoài ròng dương, luồng vốn chảy vào trong nước nhỏ hơn dòng vốn chảy ra
nước ngoài,tỷ giá hối đoái tăng. Tỷ giá hối đoái sẽ giảm trong trường hợp ngược lại,
đầu tư ra nước ngoài ròng âm. Theo quy luật tối ưu hoá, luồng vốn sẽ chảy đến nơi
nào có lợi nhất, tức là hiệu suất sinh lời cao nhất. Một nền kinh tế sẽ thu hút được
các luồng vốn đến đầu tư nhiều hơn khi nó có môi trường đầu tư thuận lợi, nền
chính trị ổn định, các đầu vào sẵn có với giá rẻ, nguồn lao động dồi dào có tay nghề,
thị trường tiêu thụ rộng lớn, lãi suất cao và sự thông thoáng trong chính sách thu hút
đầu tư nước ngoài của Chính phủ.
Điều chỉnh tỷ giá lần này là một bước nhằm lành mạnh hóa thị trường ngoại
tệ, giúp tăng tính thanh khoản, cân bằng cung cầu ngoại tệ từ đó hỗ trợ việc thực thi
chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, kèm theo đó phải là một loạt biện pháp mạnh mẽ kiên
quyết hạn chế đầu tư công, cơ cấu lại kinh tế theo hướng hiệu quả hơn từ đó tăng
năng suất, giảm chỉ số ICOR hơn nữa…Những biện pháp như vậy mới làm tăng giá
trị nội tệ nhờ tăng trưởng kinh tế một cách chắc chắn, thực chất. Đó là cách lâu dài
ổn định tỷ giá, ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam.
2.4.Lãi suất
Lãi suất và tỷ giá hối đoái là 2 trong số những công cụ quan trọng để Chính
phủ điều hành nền kinh tế vĩ mô của một nước. Tuy là 2 công cụ khác nhau nhưng
giữa chúng có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau.
Xét trường hợp đồng VND và USD (các yếu tố khác không đổi):
Khi lựa chọn nắm giữ đồng tiền nội tệ và đồng ngoại tệ, người ta sẽ xem xét
mức lãi suất thực tế của 2 đồng tiền này:
Khi lãi suất của VND cao hơn lãi suất của USD, người ta sẽ có xu
hướng chuyển từ nắm giữ USD sang nắm giữ VND. Điều này làm cho nhu cầu
VND tăng lên, cầu về USD giảm đi, từ đó giá USD sẽ giảm đi so với VND, hay tỷ
giá giảm tới một mức mới mà cung cầu USD - VND trở nên cân bằng. Khi đó, lãi
suất cho USD. Khi NHNN muốn tăng cung tiền và tín dụng nhanh chóng như mấy
tháng vừa qua để làm giảm lãi suất VND, tác dụng thực tế lại ngược lại, vì tăng tiền
lại làm tăng kỳ vọng lạm phát cũng như gây thêm áp lực lên tỷ giá trên thị trường tự
do. Ngoài ra, lãi suất huy động trên USD lại tăng trong những tháng đầu năm 2011
do nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế, đô la hóa đang rất cao, kết quả là lãi suất huy
động trên VND vẫn khó giảm xuống ở hiện tại.
Ngoài ra, việc sử dụng vốn không hiệu quả và các khó khăn tài chính của các
tập đoàn lớn trong thời gian qua làm suy giảm lòng tin của nhà đầu tư trong và
ngoài nước. Điều này cũng làm cho lãi suất trái phiếu khó điều chỉnh giảm.
Nói chung nếu áp lực lên tỷ giá không được ngăn chặn bởi sự giảm bớt tăng
cung tiền và tín dụng sẽ khó lòng giải quyết được các bế tắc hiện tại của thị trường
tín dụng và hệ thống lãi suất để "khai thông" cho các thị trường chứng khoán và nhà
đất cũng như của cả nền kinh tế năm 2011. Chưa kể là tỷ giá của VND nếu lại vượt
qua xa mức tâm lý 21.000 đồng/USD có thể làm niềm tin của dân cư, nhất là giới
đầu tư, sa sút và có thể tạo ra các thiệt hại tài chính lớn hơn nhiều do "dòng xoáy"
lạm phát - tỷ giá gây ra.
Việc thay đổi tỉ giá cũng có tác động tới lãi suất USD. Nhìn lại lần tăng giá
ngày 18/8/2010, sau khi tỉ giá USD/VND liên ngân hàng (NH) tăng thêm 2,09%, tỉ
giá ngoại tệ tại các NH tăng hết biên độ cho phép 3%, cán mức 19.500 đồng/USD,
lập tức lãi suất USD của một số NH bắt đầu tăng theo tỉ giá. Tình hình tương tự khi
tỉ giá mới được công bố (2/2011), tuy nhiên điều này làm cho thị trường sẽ dần ổn
định, nguồn cung USD sẽ thông thoáng hơn. Thực tế khi tăng lãi suất là đã hỗ trợ
giá trị tiền Đồng, trong khi lượng ngoại tệ đang được nắm giữ trong người dân và
doanh nghiệp được cho là khá lớn, việc thu hút lượng ngoại tệ này đưa vào lưu
thông trên thị trường sẽ giải tỏa lớn được căng thẳng ngoại tệ như hiện nay. Chính
vì vậy, khi giá trị tiền Đồng được ổn định, lãi suất tiền gửi hấp dẫn thì lượng lớn
ngoại tệ trên sẽ được cung ra thị trường để nắm giữ tiền Đồng, mục tiêu ổn định tỷ
9
NGUYỄN THỊ HOÀNG DIỄM 102_T01
giá, thỏa mãn nguồn ngoại tệ phục vụ thanh toán quốc tế Doanh nghiệp sẽ mạnh
Mặt khác, giá ngoại tệ rất nhạy cảm với thông tin cũng như các chính sách của
chính phủ. Nếu có tin đồn rằng Chính phủ sẽ hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu
để giảm thâm hụt thương mại, mọi người sẽ đồng loạt bán ngoại tệ và tỷ giá hối
đoái sẽ giảm nhanh chóng.( khi thâm hụt thương mại giảm, thì cầu về USD giảm,
giá USD sẽ giảm trong tương lai)
Việc điều chỉnh tỷ giá vào tháng 2/2011 về sát với thị trường tự do sẽ khiến
người dân và doanh nghiệp có ngoại tệ sẽ mạnh tay bán ngoại tệ cho ngân hàng.
Trước đây, bán 100 USD cho ngân hàng thiệt hơn vì tỷ giá thấp hơn thị trường tự
do, nay chênh lệch chỉ còn vài chục ngàn đồng nên người có ngoại tệ đỡ thiệt hơn.
Nên có thể hy vọng ngân hàng sẽ mua được nhiều ngoại tệ hơn. Bằng việc kéo tỷ
giá sát thị trường, tâm lý kỳ vọng đồng nội tệ mất giá sẽ được giải quyết, từ đó nhu
cầu ảo mua để găm giữ ngoại tệ sẽ giảm bớt làm giảm sức ép lên quan hệ cung cầu
ngoại tệ. Cung cầu cân bằng hơn, tính thanh khoản ngoại tệ tăng lên, thị trường
10
NGUYỄN THỊ HOÀNG DIỄM 102_T01
ngoại hối sẽ ổn định hơn. Trong quý 4/2010, do chênh lệch tỷ giá chính thức và thị
trường tự do tới 10% đã phát sinh tình trạng 2 tỷ giá trong các ngân hàng thương
mại. Doanh nghiệp có nhu cầu mua ngoại tệ đã không thể mua được theo tỷ giá
chính thức mà phải chấp nhận thêm chi phí để có được ngoại tệ. Tính ra cũng sát thị
trường tự do nhưng khoản chi phí phát sinh lại không được hạch toán vào đâu. Việc
kéo tỷ giá chính thức sát với thị trường lần này đã giúp cho việc mua bán ngoại tệ ở
ngân hàng minh bạch hơn, lành mạnh hơn. Với việc điều chỉnh lần này, ít nhất tỷ
giá VND/USD sẽ ổn định trong một thời gian.
Hơn nữa, việc thay đổi tỷ giá theo hướng giá trị đồng nội tệ hạ thấp sẽ
khuyến khích dòng vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp đổ vào Việt Nam,
giúp cải thiện trước mắt cán cân thanh toán quốc gia. Khi cán cân thương mại được
cải thiện (do tỷ giá ngoại tệ cao hỗ trợ xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu) cùng với
cán cân thanh toán vững lên sẽ củng cố dự trữ ngoại tệ quốc gia, từ đó tạo yếu tố
tâm lý cũng như kỹ thuật ổn định giá trị đồng nội tệ của Việt Nam.
Theo ông Hồ Bá Tình, điều chỉnh tỷ giá là một việc làm cần thiết để ổn định
trường tiền tệ quốc tế đã và đang hỗ trợ tích cực cho sự ôn hòa của giá vàng trong
thời gian gần đây.
Có thể nói việc điều chỉnh linh hoạt tỷ giá là động thái cần thiết, bình thường
trong đời sống kinh tế thị trường đầy biến động, nhất là trong bối cảnh có sự gia
tăng cuộc chiến tiền tệ với sự dịch chuyển liên tục thị giá các đồng tiền trên thế giới
thời kỳ hậu suy thoái toàn cầu và chấm dứt bản vị vàng trong chính sách tiền tệ
quốc gia và quốc tế.
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta đã bị đô la hóa ở mức đáng kể, vàng và
USD không chỉ được sử dụng như phương tiện cất giữ mà còn được tham gia vào
quá trình thanh toán thì việc ổn định kinh tế vĩ mô và tăng niềm tin vào đồng tiền
VN đòi hỏi phải có các biện pháp hữu hiệu, đồng bộ trong chính sách tài khóa và
chính sách tiền tệ như giảm bội chi ngân sách, cắt giảm các công trình đầu tư kém
hiệu quả, tăng hiệu quả đầu tư Nhà nước, minh bạch cơ chế quản lý doanh nghiệp
Nhà nước Chính bội chi ngân sách, đầu tư công kém hiệu quả đã gây ra hậu quả
mà chính sách tiền tệ, tín dụng phải gánh chịu, dẫn đến lạm phát và giảm sức mua
của đồng tiền VN. Như vậy, có thể thấy do chính sách tài khóa khập khiểng, không
hợp lí dẫn tới chính sách tiền tệ phải điều chỉnh liên tục, chồng chéo, mâu thuẫn đã
gây các hiệu ứng tâm lý không tốt dẫn tới nhiều bất cập trong nền kinh tế hiện nay.
Điều người dân đang mong đợi ở Chính phủ là kiềm chế lạm phát và nâng cao hiệu
quả nền kinh tế sẽ trở thành hiện thực sớm.
3.Nguyên nhân và giải pháp cho thực trạng về tỉ giá ở VN hiện nay
3.1.Nguyên nhân về thực trạng tỉ giá bất cập ở VN
Khác với những lần trước, mặc dù lần này tỷ giá chính thức giữa đô la và
tiền đồng tăng tới 9,3% (2/2011) nhưng chỉ một tuần sau khi điều chỉnh, chênh lệch
giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường gần như trở về trạng thái trước khi điều
chỉnh.
Hình 3.2.Tỷ giá liên ngân hàng USD/VND đến ngày 8/4 (Nguồn: SBV)
12
NGUYỄN THỊ HOÀNG DIỄM 102_T01
Nguyên nhân đầu tiên khiến tỷ giá tăng trở lại là do sự điều hành của Ngân
vọng giảm giá tiền đồng, còn trong trung và dài hạn phải lớn hơn mức chênh lệch
lạm phát giữa Việt Nam và Mỹ.
3.2.Một số giải pháp
Thực hiện sự đánh đổi trong năm 2011 là để đạt mục tiêu ổn định vĩ mô, chúng ta
phải chấp nhận tăng trưởng kinh tế chậm lại. Cần phải có sự phối hợp đồng bộ
nhiều chính sách chứ không thể hy vọng vào một biện pháp kỹ thuật đơn lẻ làm cứu
cánh.
Chính phủ cần cung cấp cho thị trường những thông điệp chính sách kịp thời, rõ
ràng và nhất quán. Tuyên bố và hành động chính sách phải đi đôi với nhau.
Cần phải duy trì chính sách tỷ giá cao để bình ổn giá cả thị trường và ngăn chặn tình
trạng bán ra VND. Từ đó mới điều hành tỷ giá một cách linh hoạt và đối phó với
tình trạng nhập siêu thay vì áp dụng chính sách tỷ giá cố định trong thời gian dài.
Cần giảm ngay lãi suất USD tránh tình trạng đầu cơ.
13
NGUYỄN THỊ HOÀNG DIỄM 102_T01
Điều hành linh hoạt tỷ giá phù hợp với Cung - Cầu ngoại tệ, đáp ứng nhu cầu ngoại
tệ cho nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu, ban hành các cơ chế, chính sách đồng bộ
nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và của NHTM.
Có các giải pháp phát triển thị trường, sử dụng các công cụ phái sinh nhằm góp
phần điều hành tỷ giá linh hoạt, hỗ trợ cho thực thi chính sách tiền tệ chủ động; tạo
điều kiện cho doanh nghiệp và ngân hàng chủ động cân đối và phòng ngừa rủi ro
ngoại tệ.
Thực hiện chặt chẽ các biện pháp về quản lý, sử dụng ngoại tệ, kiểm soát chặt chẽ
cả việc cho vay và bán ngoại tệ để thanh toán cho nhập khẩu các mặt hàng thuộc
Danh mục các mặt hàng nhập khẩu không thiết yếu, không cấp bách.
14
NGUYỄN THỊ HOÀNG DIỄM 102_T01
TÀI LIỆU THAM KHẢO
/>do-tin-don-tang-ti-gia.chn
/>viet-nam.chn