lạm phát và tác động của lạm phát đến nền kinh tế - Pdf 28

lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế
A - Mở đầu
Bất kỳ nền kinh tế nào, từ mô hình tập trung quan liêu bao cấp đến kinh
tế thị trờng, muốn phát triển vững mạnh đều phải quan tâm đặc biệt tới tam
giác: tăng trởng, thất nghiệp và lạm phát. Chúng liên kết hay đối lập, chúng
liên hợp những nhịp độ của tăng trởng, sự tăng lên hay tụt xuống của những
lớp thất nghiệp dới làm sóng lạm phát. Lạm phát, đó là hiện tợng mất cân
bằng kinh tế phổ biến, là căn bệnh kinh niên của kinh tế thị trờng. Lạm phát
đợc coi là con quỷ gớm nhất trên trái đất, ít nhất là xét về triển vọng chính
sách kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên lạm phát cũng có tính chất hai mặt của nó. Một
mặt nó kích thích nền kinh tế phát triển nếu tốc độ tăng của nó phù hợp với
tốc độ tăng trởng kinh tế. Mặt khác, nếu tốc độ lạm phát tăng cao sẽ gây ra
những biến động kinh tế hết sức nghiêm trọng, nh biến dạng cơ cấu sản xuất
về việc làm, thu nhập bất bình đẳng, tỷ lệ thất nghiệp tăng....
Vì vậy, để có thể ổn định kinh tế ở một mức nhất định, lạm phát cần
giảm xuống ở mức có thể chấp nhận đợc. Và thực tế là xu hớng giảm lạm
phát gây ra tình trạng thiểu phát, đây cũng là biểu hiện của nền kinh tế trì trệ
khủng hoảng. Nên muốn ổn định đất nớc cả về kinh tế và xã hội, để đảm bảo
quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi ngời dân thì vấn đề tăng trởng kinh tế và chống
lạm phát phải đợc thực hiện một cách thống nhất. Đây là một vấn đề vĩ mô
lớn, một mảng quan trọng của chính sách kinh tế .... vì vậy đòi hỏi chúng ta
phải nắm vững lý luận chung về lạm phát. Chỉ có thấu hiểu một cách khoa
học về lý thuyết lạm phát thì mới có thể đạt đợc hiệu quả phát triển kinh tế xã
hội. Trong thực tế lạm phát là gì? Nguyên nhân gây ra lạm phát có đa dạng
không? Nền kinh tế bị cơn sóng lạm phát tác động nh thế nào? Chúng ta làm
thế nào để phòng chống và khắc phục hậu quả của nó?.. Hy vọng là với đề án
Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế có thể phần nào trả lời
đợc các câu hỏi này.
1
Dọc chiều dài lịch sử, đã có rất nhiều các nhà kinh tế học nghiên cứu về
lạm phát. Mỗi nhà kinh tế học, mỗi trờng phái đều có quan điểm khác nhau về

của cải xã hội có lợi cho giai cấp thống trị dới chế độ TBCN, là phơng pháp
để tăng cờng bóc lột lao động. Biểu hiện của lạm phát là giá cả tăng một cách
tự phát, nhất là các giá cả hàng tiêu dùng thông thờng. Nội dung lạm phát là
sự liên tục tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian. Nhà kinh tế học
Samuelson thì cho rằng lạm phát biểu thị một sự tăng lên trong mức giá cả
chung. Theo ông lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng-
giá bánh mì, dầu xăng, xe ôtô tăng, tiền lơng, giá đất, tiền thuê t liệu sản xuất
tăng. Milton Friedman đã có câu phát biểu nổi tiếng lạm phát bao giờ và ở
đâu cũng là một hiện tợng tiền tệ . Theo ý kiến của ông những biến động
3
tăng lên trong mức giá cả là một hiện tợng tiền tệ khi và chỉ khi những biến
động tăng lên đó từ một quá trình kéo dài. Định nghĩa lạm phát là việc giá cả
tăng nhanh và kéo dài đợc đa số nhà kinh tế phái tiền tệ hay phái Keynes
đồng ý với Friedman.
Nh vậy, lạm phát là một vấn đề không mấy xa lạ đối với nền kinh tế
hàng hoá, và hầu hết quảng đại quần chúng đều có thể chứng kiến hay trải
qua thời kỳ lạm phát ở những mức độ khác nhau. Nhng hiểu chính xác lạm
phát là gì thì không dễ cũng nh khó có thể đi đến một định nghĩa thống nhất.
Theo tiếng Latinh Inflatio xuất phát từ chữ Inflare, nghĩa là một chỗ sng
phồng. Nếu một cơ bắp bị căng phồng hoặc một phủ tạng bị sng to đều không
phải là biểu hiện của bệnh beó bệu, thì mọi sự tăng trởng của một khối lợng
kinh tế lại càng không phải là lạm phát. Lạm phát là một sự phình ra gồm 2
đặc tính bất thờng và gây tổn thất cho nền kinh tế. Khẳng định coi lạm phát là
một sự tăng phổ biến của giá cả cần nắm rõ 4 điểm sau:
- Tính từ phổ biến phải đợc hiểu một cách hợp lý: không phải mọi giá
đều tăng lên. Trong khung cảnh chung giá đang tăng lên, có những giá vẫn
ổn định thậm chí lại có những giá hạ xuống. Cũng không phải là các giá tăng
lên cùng một lúc và với tỉ lệ % giống nhau. Trong mọi động thái phổ biến của
giá cả thì sự phân tán là quy luật.
- Việc ớc tính tỷ lệ lạm phát là khó khăn. Nó có giá trị nh giá trị các trị

CPI t =
P
t
gạo
x 100 x
phần chi
cho gạo
+
p
t
chất đốt
x 100 x
phần chi
cho chất
+
Những thay đổi của
giá cả đợc tính với
p
0
gạo p
0
chất đốt
Trong đó:
CPI
t
: giá trị của CPI trong năm t
pt gạo : giá gạo trong năm t
p
o
gạo : giá gạo trong năm gốc

những năm gốc thành bấp bênh. Đặc biệt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hoá
nh hiện nay, chỉ số giá tiêu dùng khác nhau từ nớc này sang nớc kia, còn chỉ
số giá sản xuất chỉ mang tính bộ phận và đầu cơ. Do vậy, cái chuẩn tốt nhất
có lẽ là chỉ số giá các sản phẩm công nghiệp thờng đợc dùng làm hàng trao
đổi rộng rãi giữa các quốc gia. Bởi nó biểu thị rõ những biến động của chi phí
sản xuất cũng nh những biến động trong sức mua của ngời tiêu dùng.
6
Tỷ lệ lạm phát là thớc đo chủ yếu của lạm phát trong một thời kỳ. Quy
mô và sự biến động của nó phản ánh xu hớng và quy mô của lạm phát.
Tỉ lệ lạm phát đợc tính theo công thức:
%x
I
I
gp
p
p
1001
1








=

Trong đó:
gp: tỷ lệ lạm phát(%)

phát thế giới bao trùm một nhóm nớc và lạm phát cục bộ chỉ phát triển trong
phạm vi một nớc.
- Phổ biến là phân loại lạm phát về mặt định lợng. Tuỳ theo mức độ của
tỉ lệ % lạm phát tính theo năm mà ngời ta chia lạm phát thành ba loại sau:lạm
phát vừa phải(một con số mỗi năm), lạm phát phi mã (hai con số mỗi năm) và
siêu lạm phát.
Lạm phát vừa phải.
Lạm phát này xảy ra khi giá cả tăng lên chậm ở mức một con số hay ở
mức dới 10%/năm. Hiện ở phần lớn các nớc t bản chủ nghĩa đang có lạm phát
vừa phải. Trong điều kiện lạm phát vừa phải giá cả tăng chậm thờng xấp xỉ
bằng mức tăng tiền lơng hoặc cao hơn một chút. Do vậy đồng tiền không bị
mất giá hoặc mất giá không lớn. Lạm phát ở mức độ này không gây ra những
tác động đáng kể đối với nền kinh tế. Lạm phát vừa phải chính là mức lạm
phát mà nền kinh tế chấp nhận đợc.
Lạm phát phi mã
Lạm phát phi mã xảy ra khi giá cả tăng tơng đối nhanh với tỷ lệ 2 con số
trong một năm. Mức lạm phát 2 chữ số thấp (11, 12, 13%/năm) nói chung
những tác động tiêu cực của nó là không đáng kể, nền kinh tế vẫn có thể chấp
nhận đợc. Nhng khi tỷ lệ tăng giá ở mức 2 con số cao, lạm phát sẽ trở thành
kẻ thù của sản xuất và thu nhập. Lạm phát sẽ gây ra những biến dạng kinh tế,
gây mất ổn định XH nghiêm trọng. Khi các hợp đồng kinh tế đợc ký kết theo
các chỉ số giá hoặc theo một đồng ngoại tệ mạnh nào đó, nếu lạm phát xảy ra
với sự tăng lên rất nhanh của chỉ số giá cả làm cho đồng tiền mất giá so với
các chỉ số giá hoặc đồng ngoại tệ đó sẽ làm cho các chủ doanh nghiệp, các
chủ hợp đồng. . . có thể phất lên và trái lại cũng có các chủ doanh nghiệp,
các ngành nghề suy sụp thậm chí phải chuyển hớng sản xuất kinh doanh.
Siêu lạm phát
Siêu lạm phát xảy ra khi lạm phát đột ngột tăng lên với tốc độ cao vợt xa
lạm phát phi mã, ở mức 3 con số. Siêu lạm phát thờng gây ra những thiệt hại
nghiêm trọng và sâu sắc. Nó phá vỡ quy luật lu thông tiền tệ, lu thông hàng

1.2.1. Lạm phát do tiền tệ
1.2.1.1. Lý thuyết về lợng của tiền tệ
- Hình thức hoá thông thờng nhất của lý thuyết đó là công thức Irving
Fisher: M. V=P. T
Trong đó M là khối lợng tiền tệ lu thông
V là tốc độ lu thông của tiền tệ
P là mặt bằng chung của giá cả
T là khối lợng giao dịch phải bảo đảm
ý nghĩa của công thức đó là mọi sự tăng tiền tệ cao hơn tăng sản xuất thực tế
đều đợc thể hiện (đối với một tốc độ lu thông không đổi của tiền tệ) ra bằng
sự hiệu chỉnh giá cả chung, sao cho giá trị tổng thể của trao đổi bằng giá trị
của khối lợng tiền tệ mới đang lu thông. Trong thời han ngắn hoặc trong tr-
ờng hợp bộ máy sản xuất không đáp ứng đợc nhu cầu tăng lên, biến động của
giá cả sẽ tỷ lệ thuận với biến động của khối lợng tiền tệ.
- Một cách diễn đạt mới của quan hệ về lợng đợc gọi là Phơng trình
Cambridge _ gắn với các công trình của Marshall: M = k. P. Y
Trong đó M là khối lơng tiền tệ lu thông
Y là thu nhập thực tế của quốc gia
P là mặt bằng chung của giá cả
k là hệ số biểu thị tỉ số giữa khối lợng tiền tệ và thu nhập phụ thuộc vào
nhiều yếu tố không đơn thuần là một hệ số kỹ thuật.
Sự tiếp cận này là lý thuyết về lợng với ý nghĩa độ lớn của khối lợng
tiền tệ quyết định giá trị của thu nhập quốc gia, nhng nếu nó tìm cách đa tiền
tệ vào nền kinh tế thì lại bỏ qua các quan hệ giữa cung và cầu của tiền tệ .
1.2.1.2. Cung ứng tiền tệ và lạm phát
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, sự tiếp cận của các nhà tiền tệ học bớc
vào thời kỳ mới, đặc biệt với công trình của Friedman. Ông đã định rõ nhu
cầu tiền tệ nhờ hàm Md/P = f(y, w, RM, RB, RE, Gp, u). Trong đó
Md biểu thị nhu cầu tiền tệ
10

n
Y
1
3
2

2
1
1

A D
1
A D
2
A D
3
A S
1
A S
2
A S
3
Y
( T ổ n g s ả n p h ẩ m )
( T ổ n g m ứ c g i á )
0
AS1 và đờng tổng cầu AD1). Khi cung tiền tệ tăng lên đều đặn dần dần trong
suốt cả năm, thì đờng tổng cầu di chuyển sang phải đến AD2. Trong một thời
gian rất ngắn, nền kinh tế sẽ chuyển động đến điểm 1 và sản phẩm tăng lên
trên mức tỷ lệ tự nhiên, tức là đạt tới Y1(Y1>Yn). Điều đó đã làm giảm tỷ lệ

trởng tiền tệ cao.
1.2.2. Lạm phát do nhu cầu
1.2.2.1. Tiền tệ và nhu cầu quá mức
Quan hệ tiền tệ và nhu cầu quá mức đặc biệt chặt chẽ khi thừa nhận định
luật Say cổ xa. Theo định luật này, sự cung cấp sản phẩm tạo ra nhu cầu chính
nó, nghĩa là nhu cầu tổng thể đợc tạo nên bởi toàn bộ thu nhập đợc phân phối
vào dịp sản xuất. Nhu cầu quá mức chỉ có thể có do sự tăng không kiểm soát
đợc các phơng tiện chi trả trong tay những ngời có nhu cầu.
Tính đặc thù của quan điểm giải thích lạm phát do nhu cầu, so với quan
điểm của phái tiền tệ là ở chỗ việc phát hành tiền tệ chỉ dẫn đến lạm phát
trong trờng hợp bộ máy sản xuất không thể đáp ứng mức tăng của nhu cầu.
Thế là hiệu chỉnh cung-cầu đợc thực hiện bằng giá cả thay cho số lợng. Lạm
phát xảy ra khi khi nhu cầu quá mức lại nảy sinh và không có yếu tố
nào(năng lực sản xuất vật chất tăng, tuyển thợ mới, thêm nguyên liệu mới)
can thiệp vào để làm tăng mức cung ứng tổng thể đủ để thoả mãn nhu cầu.
1.2.2.2. Lạm phát cầu kéo
Trong chính sách kinh tế vĩ mô, Chính phủ vì muốn đạt đợc mục đích
của mình(công ăn việc làm cao) nên phải áp dụng một tỷ lệ tăng trởng tiền tệ
cao và xảy ra lạm phát. Chính các nhà hoạch định theo đuổi các chính sách
làm đờng tổng cầu di chuyển ra dẫn đến lạm phát cầu kéo.
Ngay cả khi công ăn việc làm đầy đủ, thất nghiệp lúc nào cũng tồn tại
do những xung đột trên thị trờng. Vì vậy tỷ lệ thất nghiệp khi có công ăn việc
làm ổn định-tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên sẽ lớn hơn không. Sự ấn định tỷ lệ thất
nghiệp dới mức tự nhiên dẫn tới diễn biến nh thế nào?Chúng ta sẽ chỉ ra điều
đó thông qua phân tích đồ thị tổng cung tổng cầu sau đây
13

Trích đoạn Những biện pháp cơ bản chiến lợc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status