Tác động của tỷ giá đến nền kinh tế việt nam - Pdf 95

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Chuyên để tốt nghiệp :
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TỶ
GIÁ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn: Ths TỪ THỊ KIM THOA
Sinh viên thực hiện: Trần Thanh Xuân
TCDN8 – K31
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 5/2009
- 2 -
LỜI MỞ ĐẦU 4
PHỤ LỤC 6
TGHĐ: Tỷ giá hối đoái 6
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 7
1.1. Các khái niệm về TGHĐ 7
1.2. Khái niệm về TGHĐ 7
1.3. TGHĐ danh nghĩa và TGHĐ thực 7
1.4. Các loại TGHĐ 8
1.5. TGHĐ cố định 8
1.6. TGHĐ thả nổi 9
1.7. TGHĐ tổng hợp 12
1.8. TGHĐ chính thức và song song 17
1.9. TGHĐ song phương và hiệu lực 17
1.10. TGHĐ danh nghĩa và thực tế 17
1.11. Các yếu tố tác động lên TGHĐ 17
1.12. Mối quan hệ cung- cầu về ngoại tệ 17
1.13. Lạm phát giữa các nước 18
1.14. Tác động của TGHĐ đến nền kinh tế 18
1.15. Lạm phát 19
1.16. Cán cân xuất – nhập khẩu 19

3.4. Xử lý tốt mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá: 59
3.5. Nâng cao hiệu quả quản lý ngoại hối: 59
3.5. Nâng cao hiệu quả quản lý ngoại hối: 59
3.6. Định hướng hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái trong thời gian tới 59
3.6. Định hướng hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái trong thời gian tới 59
KẾT LUẬN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
- 4 -
LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, tỷ giá hối đoái là một công cụ kinh tế vĩ mô chủ yếu
để điều tiết cán cân thương mại quốc tế theo mục tiêu đã định trước của một quốc
gia. Tỷ giá hối đoái có lịch sử gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của
thương mại quốc tế và quan hệ kinh tế quốc tế.
Khi Việt Nam gia nhập WTO cũng là lúc thị trường tiền tệ còn khá non trẻ
của Việt Nam phải chịu rất nhiều áp lực về chính sách ổn định tỷ giá và chiến lược
phát triển thị trường này trong thời gian tới. Quá trình quản lý tỷ giá trong thời
gian vừa qua có thể nói là khá thành công đối với các nhà hoạch định chính sách,
không những giúp cho thị trường tiền tệ tránh được những cú sốc do khủng hoảng
kinh tế tài chính trong khu vực mà ngày càng cải thiện uy tín của đồng tiền Việt
Nam trên thị trường thế giới.
Sau 20 năm đổi mới, Việt Nam đã có những biến đổi sâu sắc, đạt được
thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, trong đó những đổi mới về chính sách tài
chính- tiền tệ và tỷ giá hối đoái đã có tác động tích cực, góp phần tạo nên sự ổn
định môi trường kinh tế- xã hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên đây chỉ
là những thành tựu đạt được bước đầu, nhìn chung vẫn chưa theo kịp với sự phát
triển kinh tế và những đòi hỏi của thực tiễn đất nước trong tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế. Trong điều kiện nước ta hiện nay, việc đúc kết những kinh nghiệm quý
giá từ những thành công và cả những thất bại của các nước và lựa chọn một chính
sách tỷ giá hối đoái phù hợp, thực sự có hiệu quả, cùng với một số chính sách kinh
tế vĩ mô khác thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững là một vấn đề hết sức quan

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI
ĐOÁI
1.1. Các khái niệm về TGHĐ
1.2. Khái niệm về TGHĐ
Tỷ giá hối đoái (thường được gọi tắt là tỷ giá) là tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng
tiền của hai nước. Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái là giá của một đồng tiền này tính
bằng một đồng tiền khác.
Thông thường tỷ giá hối đoái được biểu diễn thông qua tỷ lệ bao nhiêu đơn
vị đồng tiền nước này (nhiều hơn một đơn vị) bằng một đơn vị đồng tiền của nước
kia. Ví dụ: tỷ giá hối đoái giữa Đồng Việt Nam và Dollar Mỹ là 16045 VND/USD
hay giữa Yen Nhật và Dollar Mỹ là 116,729 JPY/USD hay giữa Dollar Mỹ và
Euro là 1,28262 USD/Euro. Đồng tiền để ở số lượng một đơn vị trong các tỷ lệ
như những ví dụ trên gọi là đồng tiền định danh hay đồng tiền cơ sở. Vì thế, khi
cần thể hiện một cách nghiêm ngặt và chính xác, người ta thường nói: "Tỷ giá hối
đoái giữa Đồng Việt Nam và Dollar Mỹ trên thị trường ngoại hối định danh bằng
Dollar Mỹ là 16045 Đồng bằng 1 Dollar" hoặc "Tỷ giá hối đoái giữa Đồng Việt
Nam và Dollar Mỹ trên thị trường ngoại hối định danh bằng Đồng Việt Nam là
0,0000624 Dollar bằng 1 Đồng".
1.3. TGHĐ danh nghĩa và TGHĐ thực
TGHĐ danh nghĩa là giá của một đơn vị ngoại tệ tính theo nội tệ và chưa
tính đến sức mua của đồng tiền.
TGHĐ thực là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh theo giá tương đối
giữa các nước. Tỷ giá này tăng lên đồng tiền trong nước được coi là bị giảm giá
thực so với đồng tiền nước ngoài và khi tỷ giá này giảm thì đồng tiền trong nước
được coi là bị tăng giá thực so với đồng tiền nước ngoài. TGHĐ hiệu quả thực là
tỷ giá được điều chỉnh theo một số các tỷ giá thực của các nước đối tác thương
mại. Tỷ giá này được xem là thước đo hữu hiệu khả năng cạnh tranh của một nước
trong quan hệ thương mại với các nước khác bởi nó xét đến tỷ giá thực giữa đồng
tiền của một nước với nhiều nước tham gia trao đổi thương mại với nước đó.
- 8 -

+ Đặc biệt, nó làm cho các quốc gia dễ rơi vào tình trạng "nhập khẩu lạm
phát" không mong muốn.
1.6. TGHĐ thả nổi
Trong một hệ thống tỷ giá thả nổi tự do, tỷ giá sẽ được các lực thị trường ấn
định mà không có sự can thiệp của chính phủ. Theo hệ thống này, các công ty đa
quốc gia sẽ cần phải dành nhiều thời gian đáng kể cho việc tính toán và quản lý
các rủi ro do dao động tỷ giá. Trong một hệ thống tỷ giá cố định, các công ty này
sẽ ít phải bận tâm về việc lên xuống hàng ngày của tỷ giá.
Các điểm thuận lợi của một hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi tự do:
Từ một quan điểm vĩ mô, liên quan đến sự ổn định của toàn thế giới, một
hệ thống thả nổi tự do có thể được ưa thích hơn một hệ thống tỷ giá hối đoái cố
định. Để minh họa, giả dụ rằng chỉ có hai quốc gia trên thế giới: Mỹ và Anh. Hai
quốc gia này mua bán thường xuyên với nhau. Bây giờ giả sử rằng hệ thống tỷ giá
hối đoái giữa hai nước cố định. Nếu Mỹ có mức lạm phát cao hơn ở Anh, chúng ta
có thể dự kiến người tiêu dùng Mỹ mua nhiều hàng của Anh hơn và người tiêu
dùng Anh giảm bớt việc nhập khẩu hàng Mỹ (do giá hàng Mỹ cao hơn). Phản ứng
này sẽ làm cho sản xuất của Mỹ giảm và thất nghiệp tăng. Nó cũng có thể làm cho
lạm phát ở Anh tăng do nhu cầu hàng hóa của Anh vượt mức cung hàng hóa do
Anh sản xuất. Nói tóm lại, lạm phát cao ở Mỹ có thể gây ra lạm phát cao ở Anh.
Các kết quả sẽ không nhất thiết giống như vậy trong một môi trường tỷ giá
hối đoái thả nổi tự do. Do lạm phát ở Mỹ cao, việc gia tăng nhu cầu của Mỹ đối
với hàng hóa Anh sẽ gây áp lực tăng giá trị đồng bảng Anh. Là kết quả thứ hai của
mức lạm phát cao ở Mỹ, việc mức cầu của Anh đối với hàng hóa Mỹ giảm sẽ hàm
ý mức cung đồng bảng Anh để bán (chuyển đổi thành đô la) cũng giảm. Đến lượt
mình, sự giảm này cũng sẽ gây áp lực tăng giá trị đồng bảng Anh. Đồng bảng Anh
sẽ tăng giá do các lực thị trường này (trong một hệ thống tỷ giá hối đoái cố định
đồng bảng Anh sẽ không được phép tăng giá). Sự tăng giá này sẽ làm cho hàng
hóa của Anh đắt hơn đối với người tiêu dùng Mỹ- đắt như hàng hóa Mỹ ngay cả
khi các nhà sản xuất Anh không tăng giá hàng của mình. Giá cả hàng hóa cao hơn
- 10 -

sách này sẽ duy trì được tỷ giá trong vòng các biên độ quy định hay không. Cuối
cùng, nếu tỷ giá không được phép thả nổi, các nhà đầu tư sẽ đầu tư vốn của mình
vào bất cứ nước nào có lãi suất cao nhất. Điều này có thể sẽ làm cho chính phủ của
các nước có lãi suất thấp hạn chế vốn của các nhà đầu tư đem ra khỏi nước mình.
Như vậy, sẽ có nhiều hạn chế dòng vốn và hiệu quả của thị trường tài chính sẽ bị
sút giảm.
Các điểm bất lợi của một hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi:
Trong các thí dụ trước, nước Anh có phần nào được cách ly khỏi những vấn
đề mà Mỹ gặp phải nhờ hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi tự do. Trong khi đây là
một lợi điểm trong việc bảo vệ nước mình (Anh) thì nó có thể là một điểm bất lợi
cho nước kia đang gặp những khó khăn về kinh tế. Chẳng hạn, nếu Mỹ đang có
lạm phát cao, đồng đô la Mỹ có thể giảm giá, qua đó cách ly Anh khỏi lạm phát
như đã trình bày trước đây. Tuy nhiên, đứng trên quan điểm của Mỹ, một đồng đô
la yếu sẽ làm cho giá nhập khẩu tăng cao hơn. Điều này có thể làm tăng giá
nguyên vật liệu và sẽ làm tăng giá cả thành phẩm của Mỹ. Thêm vào đó, giá cả
hàng ngoại nhập cao hơn (trên quan điểm của Mỹ) có thể buộc người tiêu dùng
Mỹ mua các sản phẩm nội địa. Khi các nhà sản xuất Mỹ nhận ra rằng cạnh tranh
của hàng nước ngoài giảm do đồng đô la giảm giá, họ có thể tăng giá hàng của
mình một cách dễ dàng mà không sợ mất khách hàng do cạnh tranh của nước
ngoài.
Thí dụ thứ hai, ta xem một trường hợp mà mức thất nghiệp của Mỹ đang
gia tăng. Việc này có xu hướng buộc giá trị của đồng đô la tăng do nhu cầu hàng
nhập khẩu giảm. Một đồng đô la mạnh hơn lúc đó sẽ khơi nguồn trở lại ước muốn
tiêu dùng hàng ngoại nhập, vì có thể mua hàng rẻ. Tuy nhiên một phản ứng như
vậy có thể thực sự tai hại cho Mỹ trong suốt các thời kỳ mức thất nghiệp cao. Các
thí dụ trên minh họa các vấn đề của một quốc gia có thể bị tăng thêm tác hại do
các tỷ giá thả nổi tự do. Mặt khác, các thí dụ trước đây cho thấy rằng trong một
môi trường tỷ giá hối đoái thả nổi cố định các vấn đề của một quốc gia có thể lây
lan sang các quốc gia khác. Hệ thống nào được ưa thích hơn có thể tùy thuộc vào
- 12 -

Theo thể thức này, đồng bảng sẽ được phép biến động ± 6% so với tỷ giá 2,95
mark Đức mỗi bảng.
Các tỷ giá trung tâm của vài đồng tiền ràng buộc với đồng ECU đã được
điều chỉnh nhiều lần giữa năm 1986 và 1991. Thí dụ, tháng 4 năm 1986 đồng franc
Pháp giảm giá so với các đồng tiền khác nhằm gia tăng nhu cầu xuất nhập khẩu
của Pháp. Ngoài ra, giá trị của đồng mark Đức và đồng guilder Hà Lan tăng so với
các đồng tiền khác có tương quan với đồng ECU. Trong tháng giêng năm 1990,
đồng lire của Ý giảm giá so với các đồng tiền khác.
Mỗi đồng tiền ràng buộc với đồng ECU được phân bổ một tỷ giá gọi là tỷ
giá hối đoái trung tâm tương ứng với đồng ECU. Từ các tỷ giá này ta có thể xác
định tỷ giá trung tâm giữa hai đồng tiền bất kỳ nào đó. Thí dụ, giả dụ rằng các tỷ
giá hối đoái trung tâm của đồng mark Đức và đồng franc Pháp tương ứng với đồng
ECU là 6,9 và 2,06. Từ thông tin này, chúng ta có thể xác định rằng tỷ giá trung
tâm giữa đồng mark Đức (DEM) và đồng franc Pháp (FRF) là 35,3
06,2
9,6
==
Hoặc tỷ giá trung tâm của đồng mark trong các đơn vị cho mỗi franc có thể
được ấn định bằng cách đảo ngược tỷ lệ trên bằng 0,298.
Với tỷ giá trung tâm của hai đồng tiền này, có thể xác định các giới hạn trên
và dưới bằng cách áp dụng biên độ ± 2,25%. Thí dụ, các giới hạn trên và dưới của
đồng franc Pháp trong các đơn vị cho mỗi mark là:
Giới hạn trên FRF/DEM = tỷ giá trung tâm x (1+ 0,025)
= 3,35 x 1,025= 3,425
Giới hạn dưới FRF/DEM = tỷ giá trung tâm x( 1-0,025)
Tỷ giá trung tâm của FRF trong các =
đơn vị cho mỗi DEM

1 2 3
2,0
1,98
- 15 -
hối quốc gia suy yếu, giá trị ngang giá của đồng tiền sẽ được phá giá một cách
chính thức với một tỷ lệ phần trăm nhỏ. Tất nhiên khi giá trị ngang giá thay đổi thì
biên độ 1% sẽ áp dụng cho ngang giá mới.
Một ví dụ cách điệu về hệ thống tỷ giá con rắn tiền tệ thể hiện trên hình
trên. Đường đậm thể hiện mức trần và sàn gắn liền với con rắn, đường chấm thể
hiện dáng đi thực sự của tỷ giá. Lưu ý rằng tỷ giá thực sự nằm giữa mức sàn và
mức trần cho đến điểm A. Tỷ giá trần sau A chỉ có thể được duy trì bằng việc sử
dụng các khoản dự trữ ngoại hối quốc gia; nhưng việc sử dụng tiếp tục dự trữ
ngoại hối sẽ châm ngòi cho một sự thay đổi của ngang giá, thể hiện ở dải băng cao
hơn (phản ánh đồng nội tệ bị phá giá) sau điểm B. Quá trình này sẽ tiếp diễn ở
điểm C và D. Sau đó, nếu dự trữ ngoại hối quốc gia tăng lên có thể tạo ra một sức
ép làm tăng giá trị ngang giá trở về điểm F và sau đó là điểm G, vì thế con rắn sẽ
xu hướng trườn xuống.
Để ngăn chặn khả năng đầu cơ gây mất ổn định trong tỷ giá hối đoái, chính
phủ có thể điều chỉnh lãi suất ngắn hạn để cách ly bất kỳ các khoản lợi nhuận nào
có thể có do những thay đổi trong tỷ giá đã được thông báo trước hoặc nhà đầu cơ
có thể dự đóan được từ bản chất của hệ thống tỷ giá này. Chẳng hạn một thông
báo phá giá tiền tệ 2% phải đi kèm theo 2% tăng lên trong lãi suất ngắn hạn, mặc
dù điều này có thể ảnh hưởng đến việc điều hành chính sách tiền tệ của chính phủ.
Những người ủng hộ hệ thống con rắn tiền tệ cho rằng ít nhất về mặt lý
thuyết sự hiện hữu của mức trần và sàn tỷ giá có thể tạo ra tính kỷ luật trong chính
sách tiền tệ. Ngoài ra, tỷ giá thay đổi một cách định kỳ cũng có nghĩa là vai trò của
chính sách tỷ giá đối với việc điều chỉnh cán cân thanh toán sẽ được duy trì. Cuối
cùng, bởi vì chỉ có mỗi thay đổi với tỷ lệ nhỏ cho nên ít có nguy cơ dẫn đến đầu cơ
tiền tệ. Vào tháng 9/1996 Chilê và Nicaragua đã áp dụng thành công chế độ tỷ giá
con rắn tiền tệ.

Chế độ tỷ giá chuẩn tiền tệ.
Đây là một hệ thống tỷ giá hối đoái đặc biệt đã và đang áp dụng ở các nước
Achentina, Hong Kong, Estonia, Bungari và Lithuania để tạo niềm tin cho các nhà
- 17 -
đầu tư và chống lại những chi tiêu quá mức làm thâm hụt ngân sách dẫn đến lạm
phát cao.
1.8. TGHĐ chính thức và song song
Tỷ giá chính thức là tỷ giá do nhà nước công bố ( thường là NHTW hoặc
do cả thị trường và NHTW quy định ).
Tỷ giá hối đoái song song ( hay tỷ giá chợ đen) do thị trường quyết định.
1.9. TGHĐ song phương và hiệu lực
Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền được gọi là tỷ giá hối đoái song phương.
Còn tỷ giá hối đoái hiệu lực là tỷ lệ trao đổi giữa một đồng tiền X với nhiều đồng
tiền khác cùng lúc (thông thường là đồng tiền của các bạn hàng thương mại lớn).
Tỷ giá này được tính dựa trên giá trị bình quân gia quyền của các tỷ giá song
phương giữa đồng tiền X với từng đồng tiền kia. Tỷ giá hối đoái hiệu lực cũng có
loại danh nghĩa và loại thực tế.
1.10. TGHĐ danh nghĩa và thực tế
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá hối đoái không xét đến tương quan giá
cả hay tương quan lạm phát giữa hai nước.
Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá hối đoái có xét đến tương quan giá cả giữa hai
nước hoặc tương quan tỷ lệ lạm phát giữa hai nước.
Quan hệ giữa hai loại tỷ giá này được thể hiện qua cách tính sau:
Tỷ giá hối đoái thực tế = Tỷ giá hối đoái danh nghĩa x Giá nước
ngoài / Giá nội địa
= Tỷ giá hối đoái danh nghĩa x Tỷ lệ lạm
phát nước ngoài / Tỷ lệ lạm phát trong nước.
1.11. Các yếu tố tác động lên TGHĐ
Sự hình thành TGHĐ là quá trình tác động của nhiều yếu tố chủ quan và
khách quan. Nhưng nhìn chung, có ba yếu tố chính tác động đến tỷ giá. Đó là mối

1.14. Tác động của TGHĐ đến nền kinh tế
- 19 -
TGHĐ chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau nhưng đồng thời nó cũng
tác động tới nhiều mặt khác nhau của nền kinh tế trong đó quan trọng nhất là tới
lạm phát, hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư và tín dụng quốc tế.
1.15. Lạm phát
Việc giảm giá đồng nội tệ sẽ làm tăng giá các mặt hàng nhập khẩu tính
bằng nội tệ. Các hộ gia đình trong nước phải trả hàng tiêu dùng nhập khẩu với
mức giá tăng cùng với tỷ lệ phá giá. Tương tự như vậy, các nhà xuất khẩu sử dụng
các đầu vào nhập khẩu bao gồm nguyên, nhiên, vật liệu máy móc, thiết bị cũng bị
tổn thất vì phải chịu mức giá cao hơn. Kết quả là mức giá chung của nền kinh tế
trở nên cao hơn, đặc biệt trong trường hợp một nền kinh tế nhỏ, mở cửa với thế
giới bên ngoài có xuất khẩu và nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao so với GDP. Tác động
tăng giá ban đầu này có thể khởi động các phản ứng phòng vệ của các nhóm xã
hội, những người tìm cách bảo vệ mức sống của mình. Như vậy việc giảm giá
đồng nội tệ có thể châm ngòi cho sự gia tăng lạm phát, tùy theo bản chất và cơ chế
tác động trong cơ cấu kinh tế xã hội. Ở những nơi xảy ra hiện tượng này, tác dụng
thực tế của biện pháp phá giá tỷ giá hối đoái danh nghĩa sẽ nhanh chóng mất tác
dụng và chẳng bao lâu tỷ giá hối đoái thực tế chẳng còn thấp nữa và khả năng
cạnh tranh quốc tế của hàng hóa trong nước cũng không được cải thiện.
1.16. Cán cân xuất – nhập khẩu
Có thể nói, tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là những công cụ
kinh tế vĩ mô chủ yếu để điều tiết cán cân thương mại quốc tế theo mục tiêu định
trước của một nước.
Trước hết, tỷ giá và những biến động của tỷ giá có ảnh hưởng trực tiếp đến
mức giá cả hàng hoá dịch vụ xuất nhập khẩu của một nước. Khi tỷ giá thay đổi
theo hướng làm giảm sức mua đồng nội tệ, thì giá cả hàng hoá dịch vụ của nước
đó sẽ tương đối rẻ hơn so với hàng hoá dịch vụ nước khác ở cả thị trường trong
nước và thị trường quốc tế. Dẫn đến cầu về xuất khẩu hàng hoá dịch vụ của nước
đó sẽ tăng, cầu về hàng hoá dịch vụ nước ngoài của nước đó sẽ giảm và tạo ra sự

Đầu tư gián tiếp là loại hình đầu tư thông qua hoạt động tín dụng quốc tế
cũng như việc mua và bán các loại chứng khoán có giá trị trên thị trường. tổng lợi
tức nhận được từ việc đầu tư quốc tế bao gồm hai bộ phận:
- Lợi tức nhận được từ tài sản tính bằng ngoại tệ.
- Khoản lãi vốn (hay lỗ vốn) phát sinh do việc giảm giá (hay tăng giá)
của đồng nội tệ trong thời gian đó
Lợi tức từ khoản cho vay bằng ngoại tệ = lãi suất ngoại tệ + giảm giá đồng
nội tệ
Trong một thế giới có sự luân chuyển vốn quốc tế tự do, sẽ xảy ra tình trạng
là luồng vốn nước ngoài mỗi khi tổng lợi tức từ khoản cho vay bằng ngoại tệ lớn
hơn lãi suất trong nước, chẳng hạn khi mọi người dự tính đồng nội tệ sẽ giảm giá
trong tương lai. Và khi lãi suất trong nước lớn hơn tổng lợi tức từ khoản cho vay ở
nước ngoài thì sẽ có luồng vốn lớn đổ vào trong nước.
Như vậy muốn tìm ra một môi trường đầu tư ổn định nhằm mục tiêu phát
triển kinh tế, đòi hỏi các quốc gia cần xây dựng và điều chỉnh một chính sách tỷ
giá ổn định, hợp lý. Sự mất ổn định của tỷ giá hối đoái đồng nghĩa với việc gia
tăng về mức độ rủi ro trong lĩnh vực đầu tư và gây tổn hại đến vốn đầu tư nước
ngoài.
1.18. Tín dụng quốc tế
Nếu tỷ giá hối đoái đồng Việt Nam hạ, đồng ngoại tệ tăng, thì khoản trả nợ
của Ngân sách Nhà nước của doanh nghiệp sẽ phải tăng nhưng xuất khẩu hàng
hoá, dịch vụ lại có lợi, đó là một bài toán khó, phải tính xem lợi ích do xuất khẩu
mang lại cho phát triển kinh tế có bù lại được thiệt hại của số tiền ngân sách nhà
nước và doanh nghiệp phải trả nợ cao hơn không?
Thực tế việc điều chỉnh tỷ giá làm tăng gánh nặng nợ nước ngoài. Tính đến
tháng 10/1998, so với mức nợ nước ngoài 22 tỷ USD, sự thay đổi của tỷ giá đã
làm cho nó tăng thêm 42,86 triệu USD, cộng với 17,86 triệu USD tiền lãi, tổng
cộng là 60,72 triệu USD đã gây khó khăn lớn cho các doanh nghiệp có vốn vay
nước ngoài, thậm chí đẩy thêm nhiều doanh nghiệp vào tình trạng thua lỗ.
- 22 -

Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng sự can thiệp của một chính phủ không có
tác động lâu dài đối với các biến động tỷ giá hối đoái. Trong nhiều trường hợp, sự
can thiệp này bị các lực thị trường áp đảo. Tuy nhiên, các ngân hàng trung ương
hoạt động dựa trên lý thuyết là tiền tệ sẽ có thể biến động nhiều hơn nếu không có
can thiệp.
1.20. Biện pháp trực tiếp
(Mua hay bán đô la trong thị trường ngoại hối)
Phương pháp can thiệp trực tiếp của hệ thống dự trữ liên bang để buộc đồng
đô la giảm giá là bán đô la ra thị trường, đổi đô la lấy các ngoại tệ khác trong thị
trường ngoại hối. Phương pháp này gọi là “làm tràn ngập thị trường bằng đô la”
này sẽ gây áp lực giảm giá đồng đô la.
Can thiệp trực tiếp thường có hiệu quả nhất là khi có một nỗ lực phối hợp
giữa các NHTW. Nếu tất cả các ngân hàng cùng đồng thời cố gắng tăng giá hay
giảm giá đồng đô la theo cách vừa mô tả trên, họ có thể áp đặt một lực lớn hơn đối
với giá trị đồng đô la.
1.21. Biện pháp gián tiếp
Ngân hàng dự trữ liên bang có thể tác động đến đô la một cách gián tiếp
bằng cách tác động đến các yếu tố có ảnh hưởng đến đồng đô la. Thí dụ, ngân
hàng dự trữ liên bang có thể cố gắng hạ thấp lãi suất ở Mỹ để làm nản lòng các
nhà đầu tư ngoại quốc trong việc đầu tư vào chứng khoán Mỹ, do đó tạo áp lực
giảm giá đồng đô la. Hay để tăng giá đồng đô la, ngân hàng dự trữ liên bang có thể
cố gắng tăng lãi suất. Ngân hàng dự trữ liên bang đã sử dụng chiến lược này trong
suốt những năm 2000 cùng với việc can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối.
Một nghiên cứu mới đây của Batten và Thornton tìm thấy rằng một vài thay
đổi trong suất chiết khấu của ngân hàng dự trữ liên bang đã tạo nên một phản ứng
quan trọng trong các thị trường hối đoái. Điều này cho thấy những người tham gia
thị trường hối đoái nên theo dõi các hành động của ngân hàng dự trữ liên bang để
dự đoán xem những hành động này sẽ tác động thế nào đến các biến số kinh tế có
ảnh hưởng đối với tỷ giá hối đoái (như lãi suất thị trường). Do những người tham
- 24 -

đoái (như lãi suất, lạm phát…)
Áp đặt các hàng rào đối với ngoại thương hay đầu tư để tác động đến các
điều kiện cung và cầu một đồng tiền.
Tất cả các phương pháp này có thể được dùng để tác động một cách có chủ
định đến biến động tỷ giá hối đoái. Chính phủ cũng có thể vô tình tác động đến tỷ
giá hối đoái. Thí dụ, khi thâm hụt ngân sách lớn chính phủ bắt buộc phải vay nhiều
ở các thị trường tài chính, điều này sẽ tạo áp lực tăng lãi suất. Chẳng hạn lãi suất
cao hơn sẽ hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài vào chứng khoán Mỹ, làm tăng nhu cầu
đối với đồng đô la và vì vậy làm tăng giá đồng đô la.
Một trong những vấn đề chính trước cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 1984
là thâm hụt ngân sách liên bang đã bóp nghẹt xuất khẩu nông phẩm của Mỹ và làm
tăng nhập khẩu nông phẩm như thế nào. Lãi suất tương đối cao đã thu hút một
lượng lớn đầu tư nước ngoài vào Mỹ, tạo áp lực tăng giá đồng đô la. Đồng đô la
mạnh đã làm cho người tiêu dùng nước ngoài không muốn mua nông phẩm của
Mỹ và đã khuyến khích người tiêu dùng Mỹ mua nông phẩm ngoại quốc.
Một vài nhà kinh tế tin rằng mức vay nợ cao của chính phủ đã làm cho nhà
đầu tư nước ngoài dự đoán lãi suất Mỹ sẽ tăng cao và vì vậy đã bán trái phiếu Mỹ
do họ nắm giữ (vì cho là giá trị thị trường của những trái phiếu này sẽ giảm khi lãi
suất tăng) và đem tiền tái đầu tư ở các nước khác. Phản ứng này đã giúp đưa đến
sự giảm giá của đồng đô la. Ngoài ra, một vài nhà kinh tế cũng cho là thâm hụt
ngân sách lớn phản ánh thuế suất đánh trên người tiêu dùng và công ty Mỹ thấp
hơn mức thích hợp. Do đó, họ tin rằng chi tiêu của Mỹ quá cao, và một phần của
chi tiêu này dành cho hàng ngoại quốc. Chi tiêu này tạo áp lực hạ giá đồng đô la.
Nhật Bản đã chỉ trích Mỹ vì lý do này, để đáp lại chỉ trích này của Mỹ là Nhật đã
quá hạn chế nhập khẩu làm cho đồng đô la bị giảm giá.
1.23. Điều chỉnh tỷ giá
Chính phủ của bất kỳ nước nào cũng có thể thực hiện các chính sách thuế
khóa và tiền tệ riêng của mình để kiểm soát nền kinh tế mình. Ngoài ra, chính phủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status