LUẬN VĂN LÃI SUẤT, NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH
HƯỞNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT
ĐẾN NỀN KINH TẾ VIÊT NAM
1/10/2008
1/1/2009
1/4/2009
1/7/2009
NGÀY
GIÁ TRỊ (%)
LS cơ bản
LS chiết khấu
LS tái cấp vốn
LỜI NÓI ĐẦU
s
Lãi suất là một trong những biến số quan trọng trong nền kinh tế
vĩ mô, được theo dõi một cách chặt chẽ bởi các chủ thể trong nền kinh tế từ
các hộ gia đình, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, đến các ngân hàng vì nó
trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của chúng ta và có những hệ
quả quan trọng đối với sức khoẻ của nền kinh tế . Nó tác động đến những
quyết định cá nhân như chi tiêu hay để dành ,mua nhà hay mua trái phiếu
hay giửi vốn vào một tài khoản tiết kiệm. Lãi suất cũng tác động đến những
chỉ số của nền kinh tế vĩ mô như CPI , cán cân xuất nhập khẩu, tỷ giá hối
đoái và GDP…
Cùng với mục tiêu theo đuổi chính sách tự do lãi suất của chính
phủ, lãi suất không còn là 1 công cụ mang tính mệnh lệnh hành chính, cứng
nhắc. Ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ tác
động đến nhóm các mục tiêu trung gian, từ đó cho phép lãi suất biến động
đáp ứng được những thay đổi của tiêu dùng và đầu tư nhằm đạt được các
mục tiêu cuối cùng trong chính sách tiền tệ như ổn định giá cả , tăng trưởng
bền vững.
Với nhũng lý do trên việc phân tích những tác động của chính
sách tiền tệ đến lãi suất, và những nguyên nhân làm thay đổi lãi suất trong
từng thời kỳ của nền kinh tế là hết sức quan trọng. đồng thời nắm được
TÓM TẮT BÀI TIỂU LUẬN Để giúp người đọc dễ hiểu, cũng như nắm bắt được các ý chính.
Nhóm làm tiểu luận xin trình bày bài thành 3 phần chính, bao gồm :
Phần I : Những hiểu biết chung về lãi suất.
Phần II : Nội dung lãi suất.
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất đồng thời đánh giá
những tác động của lãi suất đến nền kinh tế.
Kinh tế việt nam giai đoạn 2007-2009
Phần III : Gải pháp và định hướng cơ chế lãi suất tại Việt Nam trong
tương lai.
Sau đây là những ý chính trong từng phần :
Phần I : Phần II :
Những yếu tố tác động và những ảnh hưởng của lãi suất (trang 13 đến
19)
Những hiểu biết chung nhất về lãi suất: (trang 5 đến trang 8)
Khái niệm và phân lọai lãi suất. (5-7)
Nguyên tắc xác định lãi suất . (8)
25
30
1/1/2008
1/3/2008
1/5/2008
1/7/2008
1/9/2008
1/11/2008
1/1/2009
1/3/2009
1/5/2009
1/7/2009
Tỷ lệ lạm phát Như chúng ta đã biết trong năm 2008, Việt Nam phải đối mặt với 2
cuộc khủng hoảng diễn ra liên tiếp. Đó là lạm phát kỷ lục trong giai đoạn 9
tháng đầu năm 2008, và khi vấn đề lạm phát bắt đầu hạ nhiệt thì Việt Nam
tiếp tục phải hứng chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế bùng nổ vào
tháng 9 năm 2008. Trong cùng một năm Việt Nam đã phải hai lần thay đổi
mục tiêu ưu tiên với những chính sách phù hợp.
Trong mỗi giai đoạn nhóm tiểu luận đều phân tích
một cách rõ ràng những nhân tố kinh tế đã gây đến những thay đổi trong
chính sách tiền tệ của NHTW, những ảnh hưởng của chính sách đó tới vấn
đề lãi suất. Rồi phân tích đánh giá những ảnh hưởng của lãi suất đến :
Các cá nhân nhà đầu tư.
Các doanh nghiệp.
Các ngân hàng.
Thị trường tài chính.
Các chỉ số của nền kinh tế vĩ mô.
Và ở cuối mỗi giai đoạn nhóm sẽ tổng kết các vấn đề
về lãi suất để giúp người đọc có cái nhìn về cơ cấu tác động cũng như ảnh
hưởng của lãi suất trên phương diện lý thuyết.
Phần III : Phần này nhóm tập trung đánh giá chính sách lãi suất của
NHTW trong giai đoạn biến động trên của nền kinh tế. Đồng thời là những
giải pháp cho vấn đề lãi suất ở Việt Nam. (23-35)
Phân tích những dấu hiệu cho thấy chính phủ đang theo đuổi cơ
chế tự do hóa lãi suất.
Những ưu điểm của cơ chế tự do hóa lãi suất.
Những bất cập trong quá trình tiến tới tự do hóa lãi suất.
PHẦN I : NHỮNG HIỂU BIẾT CHUNG VỀ LÃI SUẤT
Những nhân tố gây ra tình trạng lạm phát những tháng đầu năm 2008. (19-21)
Giai đoạn lạm phát cao. (21-26)
để được quyền sử dụng vốn, nó vận động tuân theo quy luật cung cầu, xác
định trên cơ sở cân bằng giữa nhu cầu về vốn và cung về vốn trên thị trường.
Như vậy, lãi suất chính là tín hiệu thị trường tham gia vào việc nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn và phân bổ nguồn vốn một cách hợp lý.
Lãi suất – công cụ của chính sách tiền tệ
Ở trên là khái niệm lãi suất theo nguyên tắc thị trường, song lãi suất còn
được hiểu là công cụ chủ yếu của chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia, nó do
ngân hàng trung ương - cơ quan thay mặt nhà nước thực thi chính sách tài
chính tiền tệ - nắm giữ, và sử dụng nhằm điều chỉnh và can thiệp vào thị
trường giúp hạn chế và khắc phục những yếu kém của nền kinh tế.
II. Phân biệt lãi suất và 1 số khái niệm khác
Tiểu luận tài chính tín dụng Nhóm tiểu luận Anh 1/ K4
- 7 -
Lãi suất và tỷ suất lợi tức :
Như ta đã biết, lãi suất phản ánh mức sinh lời của người đầu tư
(người cho vay). Nhưng có một vấn đề đặt ra, nếu thời gian nắm giữ ngắn
hơn thời hạn của công cụ nợ thì mức sinh lợi của người đầu tư là bao nhiêu.
Từ đó hình thành nên khái niệm tỷ suất lợi tức : Tỷ suất lợi tức là tỷ lệ %
giữa thu nhập mà người đầu tư nhận được từ một khoản đầu tư so với giá trị
của khoản vốn đầu tư ban đầu.
Chẳng hạn đối với 1 khoản cho vay thông thường thì thu nhập
của người cho vay chỉ là tiền lãi của khoản cho vay, nhưng nếu đầu tư vào
trái khoán thì thu nhập của nhà đầu tư không chỉ là tiền lãi thu được trong
thời gian lưu giữ trái khoán mà còn cộng với sự thay đổi giá của trái khoán.
Cho dù có sự khác nhau về bản chất nhưng lãi suất và tỷ suất lợi
tức có sự tương quan. Sự tương quan đó thể hiện qua sự tác động của lãi suất
hàng)
Lãi suất tiền gửi ngân hàng : là lãi suất ngân hàng trả
cho các kho
ản tiền gửi v
ào ngân hàng
Lãi suất tín dụng ngân hàng : là lãi suất người đi vay
tr
ả cho ngân h
àng
Với các NHTM 2 lãi
suất này hình thành
khoản thu nhập và chi
phí chủ yếu của ngân
hàng
Tiểu luận tài chính tín dụng Nhóm tiểu luận Anh 1/ K4
- 8 -
Lãi suất liên ngân hàng : là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng cho nhau
vay trên thị trường liên ngân hàng
Được hình thành qua quân hệ cung – cầu vốn vay trên thị trường liên
ngân hàng
Chịu sự chi phối bỏi lãi suất cho các ngân hàng trung gian vay của
NHTW
Mức độ chịu sự chi phối phụ thuộc vào :
Sự phát triển của hoạt động thị trường mở
Tỷ trọng sử dụng vốn vay NHTW của các ngân hàng trung gian ( rõ
ràng là nếu tỷ trọng sử dụng vốn vay NHTW cao thì các ngân hàng
trung gian sẽ phụ thuộc lớn vào lãi suất mà NHTW cho các ngân hàng
này vay)
Lãi suất tái chiết khấu : là lãi suất NHTW cho các NHTM vay dưới hình
thức tái chiết khấu các giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến kỳ thanh toán mà các
NHTM đã chiêt khấu
Lãi suất tái chiết khấu do NHTW ấn định, vì hoạt động cung ứng vốn
cho các NHTM nên thường nhỏ hơn lãi suất chiết khấu (cung ứng tiền mặt)
Nhưng trong các trương hợp cần hạn chế khả năng mở rộng tín dụng
của ngân hàng tức giảm tiền mặt trong lưu thông ( đẩy lùi lạm phát )
NHTW có thể ấn định lãi suất tái chiết khấu lớn hơn lãi suất chiết khấu
Lãi suất cơ bản : đối với VN lẫi suất cơ bản do NHTW ấn định và từ đó các NHTM
ấn định lãi suất cho ngân hàng mình với biên độ dao động do NHTW ấn định
Lãi suất danh nghĩa : là lãi suất trên hợp đồng và là lãi suất chưa loại trừ gộp lãi và tỷ
lệ lạm phát
Lãi suất thực trả : là con số đã tính đến yếu tố lãi mẹ đẻ lãi con nhưng
chưa tính đến tỷ lệ lạm phát
1,0
11001
32
0
tn
t
n
i
pp
Lãi suất thực:
Là lãi suất đã tính đến tỷ lệ lạm phát
Lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực + tỷ lệ lam phát
Tiểu luận tài chính tín dụng Nhóm tiểu luận Anh 1/ K4
- 9 -
B. CƠ CHẾ VÀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT QUA CÁC
GIAI ĐOẠN Ở VIỆT NAM
1. Trước tháng 3/1989:
Là thời kì điều hành theo cơ chế lãi suất âm
Tuy từng thời gian ngân hàng nhà nước có điều chỉnh lãi suất, nhưng do
lạm phát phi mã, lãi suất luôn trong tình trạng âm. Điều này có nghĩa là:
- Lãi suất tiền gửi thấp hơn mức lạm phát.
Căn cứ cơ chế thị trường :
Lãi suất tiền gửi nhỏ hơn lãi suất tín dụng
Lãi suất tín dụng nhỏ hơn lợi nhuận bình quân
Lãi suất phi kinh tế (không kích thích sản xuất, tăng trưởng kinh tế)
lãi suất tín dụng cao hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân
lãi suất tiền gửi lớn hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân
Theo luật định:
Đối với lãi suất tiền gửi
Lãi suất tiền gửi không kỳ hạn nhỏ hơn lãi suất có kỳ hạn
Lãi suất tiền gửi của các tổ chức kinh tế nhỏ hơn lãi suất tiền gửi
các khu vực dân cư
Với lãi suất tín dụng:
Lãi suất cho vay ngắn hạn nhỏ hơn lãi suất cho vay dài hạn
Lãi suất cho vay với các ngành kinh doanh nhỏ hơn các ngành
d
ịch vụ
Tiểu luận tài chính tín dụng Nhóm tiểu luận Anh 1/ K4
- 10 -
- Lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất huy động và thấp hơn mức lạm phát.
áp dụng lãi suất thoả thuận.
Hạn chế
Thời kì cho vay theo lãi suất thoả thuận, các ngân hàng đạt được mức
chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động rất cao, phổ biến là từ 0,7 –
1%/tháng, cho nên hầu hết các ngân hàng thương mại đều có mức lợi nhuận
cao trong khi các doanh nghiệp và hộ nông dân lại gặp khó khăn về tài
chính. Từ thực trạng này, quốc hội khoá IX, kì họp thứ 8 tháng 10/1995 đã
thông qua nghị quyết bỏ thuế doanh thu hoạt động tín dụng ngân hàng, đồng
Tiểu luận tài chính tín dụng Nhóm tiểu luận Anh 1/ K4
- 11 -
thời khống chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động
0,35%/tháng.
4. Từ 01/01/1996:
a) Ngân hàng nhà nước đã quyết định điều hành chính sách lãi suất theo
trần lãi suất nhằm khống chế lãi suất cho vay tối đa và các ngân hàng
thương mại chỉ được hưởng chênh lệch 0,35%/tháng thay cho việc quy định
các mức lãi suất tiền gửi cụ thể và xoá bỏ lãi suất cho vay thoả thuận.
Ưu điểm:
- Việc quy định chênh lệch lãi suất đã thúc đẩy các tổ chức tín dụng đi vào
cạnh tranh trong kinh doanh tiền tệ. Thay vì sự quy định từng loại lãi suất cụ
thể như trước đây, ngân hàng nhà nước chỉ khống chế mức chênh lệch giữa
lãi suất cho vay bình quân và lãi suất huy động bình quân, các tổ chức tín
dụng được tự chủ trong việc ấn định các mức lãi suất huy động cụ thể.
Hạn chế:
- Việc ấn định mức chênh lệch lãi suất 0,35%/tháng gây khó khăn cho hoạt
động của ngân hàng và các biện pháp để giám sát sự thực hiện quy định này
Việc chuyển hướng này có nhiều lí do, song về cơ bản là bởi lãi
suất trần đã trở thành một công cụ chỉ còn tính hình thức, xơ cứng mất hết
tác dụng đối với nền kinh tế. Nền tảng kinh tế vĩ mô trong nước chưa cho
phép thực hiện tự do hoá lãi suất, do vậy thực hiện chính sách lãi suất theo
lãi suất cơ bản là bước chuyển giao từ việc điều hành hành chính sang việc
để thị trường xác định và nhà nước chỉ tác động qua các công cụ kinh tế.
Nội dung chủ yếu của cơ chế điều hành lãi suất mới :
Lãi suất cơ bản được hình thành trên cơ sở nguyên tắc thị trường nhưng
với bước đi thích hợp thận trọng, phù hợp với điều kiện thực tế của thị
trường tiền tệ, xử lý lãi suất đồng Việt Nam trong mối quan hệ với lãi suất
ngoại tệ và chính sách tỷ giá, quản lý ngoại hối. Cụ thể là:
Đối với lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam : Ngân hàng nhà nước bãi
bỏ quy định trần lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng với khách hàng,
chuyển sang xác định và công bố lãi suất cơ bản và tỷ lệ biên độ %.
Lãi suất cho vay và huy động của tổ chức tín dụng gắn với lãi suất cơ bản.
Theo đó lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng cao nhất = lãi suất cơ bản
+ tỷ lệ %. Lãi suất cơ bản và biên độ được công bố hàng tháng, trường hợp
cần thiết ngân hàng nhà nước sẽ công bố điều chỉnh kịp thời.
Đối với lãi suất cho vay bằng đồng ngoại tệ :
- Cho vay bằng đồng đô la Mỹ : Bỏ việc quy định trần lãi suất cho vay của
ngân hàng thương mại đối với khách hàng, chuyển sang cơ chế lãi suất linh
hoạt phù hợp với thị trường quốc tế nhưng vẫn còn sự kiểm soát của nhà
nước.
Như vậy, so với cơ chế trần lãi suất tín dụng, cơ chế lãi suất cơ
bản có một số ưu việt sau:
- Tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng và khách hàng gửi, vay vốn có thể
thị trường.
PHẦN II : NỘI DUNG LÃI SUẤT
A. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
LÃI SUẤT
I. Các nhóm yếu tố tác động
Tiểu luận tài chính tín dụng Nhóm tiểu luận Anh 1/ K4
- 14 -
Căn cứ vào cơ chế lãi suất từ tháng 8/2000 đến nay của nhà nước, điều
hành chính sách lãi suất bằng lãi suất cơ bản, lãi suất được hình thành trên
cơ sở cung – cầu thị trường dưới sự điều hành của nhà nước. Ta có thể chia
những nhân tố tác động đến lãi suất thành hai nhóm chính bao gồm : Nhóm
yếu tố thuộc lực lượng thị trường và nhóm yếu tố thuộc chính sách tiền tệ.
1. Nhóm yếu tố thuộc lực lượng thị trường :
Như đã biết lãi suất cũng là một loại giá cả, lãi suất được xác định do tình
hình cung cầu thị trường, trong bài này xin nêu ảnh hưởng của cung cầu vốn
vay đối với lãi suất.
Các nhân tố ảnh hưởng cung vốn
Tăng Ảnh hưởng
cung vốn
Lý do
Tài sản và
thu nhập
Tăng Trong giai đoạn đang tăng trưởng kinh tế, tìa sản của các
Chính
phủ(chủ yếu
Các gia đình
Nư
ớc ngo
ài
NHTM
LÃI SUẤT
NHTW
Tiểu luận tài chính tín dụng Nhóm tiểu luận Anh 1/ K4
- 15 -
Lạm phát dự
tính
Tăng Như ta đã biết, chi phí thực của việc vay tiền
được đo một cách chính xác hơn bằng lãi
suất thực là lãi suất danh nghĩa trừ đi lạm
phát dự tính. Do đó một lãi suất cho trước,
khi lạm phát dự tính tăng lên, chi phí thực
hiện việc vay tiền giảm xuống nên cầu tiền
vốn vay tăng lên.
Ngân sách
chính phủ
Tăng Chính phủ đi vay bù vào thâm hụt ngân sách
lớn, làm tăng cầu về vốn vay.
Phân tích mô hình:
ốn
Làm lợi tích dự tính từ việc cho vay so
với các phương án đầu tư khác giảm , làm
cung vốn giảm
i tăng
lên
Khả năng sinh lời
tăng ,dẫn đến cầu
tăng
Tài sản tăng , dẫn
đến cung tăng
Nếu cung tăng ít
hơn cầu thì , I tăng
Nếu cung tăng nhiều
hơn cầu thì , I giảm
Tiểu luận tài chính tín dụng Nhóm tiểu luận Anh 1/ K4
- 16 -
Các học thuyết , nghiên cứu về cơ chế điều hành lãi suất chỉ ra rằng,
NHTƯ có thể trực tiếp (sử dụng các công cụ manh tính mệnh lệnh hành
chính) hoặc gián tiếp tác động (thông qua sử dụng các công cụ thị trường)
lên lãi suất.
Với cơ chế lãi suất ở Việt Nam từ tháng 8/2000 đến nay, sử dụng công
cụ lãi suất cơ bản để điều hành lãi suất, nhà nước chủ yếu tác động một cách
gián tiếp đến lãi suất. Phần này chủ yếu sẽ phân tích ảnh hưởng của các công
cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ ảnh hưởng thế nào đến lãi suất.
Cơ chế tác động gián tiếp: NHTƯ sử dụng công cụ gián tiếp- mang
tính thị trường- của chính sách tiền tệ để tác động đến lãi suất thông qua
hành vi của hệ thống ngân hàng.
thương mại giảm dự trữ và hạ lãi suất cho vay, do đó mà hạ lãi suất thị
trường.
Nghiệp vụ thị trường mở: nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua
bán chứng khoán (thường là chứng khoán nhà nước) trên thị trường tiền tệ
ngắn hạn. NHTƯ muốn đẩy mạnh tăng trưởng, mở rộng tín dụng, bằng cách
mua vào các chứng khoán có giá làm cho cung về tiền tệ tăng lên, dẫn tới
làm giảm lãi suất.
Ngược lại, khi NHTƯ muốn thu hẹp tín dụng bằng cách bán ra các
chứng khoán có giá làm cho cung tiền tệ giảm xuống dẫn tới tăng lãi suất
trên thị trường tiền tệ.
Hợp đồng mua lại: hợp đồng mua lại là hợp đồng bán những chứng
khoán, trong đó người bán cam kết sẽ mua lại chứng khoán này vào một
thời điểm trong tương lai với mức giá được xác định trước trong hợp đồng.
Như vậy, thực chất hợp đồng mua bán lại là hợp đồng cho vay có thế chấp,
trong đó chứng khoán đóng vai trò thế chấp. Khi mua thế chấp (tức cho vay
), NHTƯ bơm tiền vào thị trường tài chính và do vậy làm giảm lãi suất
ngắn hạn.
Khi bán thế chấp từ tài khoản của mình NHTƯ rút tiền ra khỏi thị
trường tiền tệ và do đó tạo ra sức ép làm tăng lãi suất ngắn hạn. II. Các tác động của lãi suất
Lãi suất là một trong những biến số được theo dõi một cách chặt chẽ
nhất trong nền kinh tế. Diễn biến của nó được đưa tin hầu như hàng ngày
trên báo chí vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của mỗi
người chúng ta và có những hệ quả quan trọng đối với sức khoẻ của nền
kinh tế.
rộng sản xuất do thiếu vốn, lãi suất cao hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân làm
cầu vốn giảm dẫn đến đình đốn sản xuất, sụt giảm kinh tế.
2. Lãi suất với quá trình đầu tư
Quá trình đầu tư của doanh nghiệp vào tài sản cố định được thực hiện
khi mà họ dự tính lợi nhuận thu được từ tài sản cố định này nhiều hơn số lãi
phải trả cho các khoản đi vay để đầu tư. Do đó khi lãi suất xuống thấp các
hãng kinh doanh có điều kiện tiến hành mở rộng đầu tư và ngược lại. Trong
môi trường tiền tệ hoàn chỉnh, ngay cả khi một doanh nghiệp thừa vốn thì
chi tiêu đầu tư có kế hoạch vẫn bị ảnh hưởng bởi lãi suất, bởi vì thay cho
việc đầu tư vào mở rộng sản xuất doanh nghiệp có thể mua chứng khoán khi
lãi suất có xu hướng giảm hay gửi vào ngân hàng nếu lãi suất của nó cao.
Đặc biệt trong thời kỳ nền kinh tế bị đình trệ, hàng hoá ứ đọng và
xuống giá, có dấu hiệu thiếu vốn và áp lực lạm phát thấp cần phải hạ lãi suất
vì nguyên tắc cơ bản là lãi suất phải nhỏ hơn lợi nhuận bình quân của đầu tư,
sự chênh lệch này sẽ tạo động lực cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô
đầu tư.
3. Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm:
Theo lý thuyết tài chính chúng ta có thể đưa ra phương trình về thu
nhập như sau :
Thu nhập = Tiêu dùng + Tiết kiệm.
Tiểu luận tài chính tín dụng Nhóm tiểu luận Anh 1/ K4
- 19 -
Tỷ lệ phân chia này phụ thuộc vào nhiều nhân tố như thu nhập, vấn
đề hàng hoá lâu bền và tín dụng tiêu dùng, hiệu quả của tiết kiệm, trong đó
lãi suất có tác dụng phân chia tỷ lệ tiêu dùng và tiết kiệm.
Khi lãi suất thấp chi phí tín dụng tiêu dùng thấp, người ta vay nhiều
cho việc tiêu dùng hàng hoá nghĩa là tiêu dùng nhiều hơn. Khi lãi suất cao
đem lại thu nhập từ khoản tiền để dành nhiều hơn sẽ khuyến khích tiết kiệm,
kinh doanh. Mặt khác lãi suất thấp khuyến khích vay vốn để đầu tư máy móc
trang bị sản xuất kinh doanh. Điều này làm cung cầu vốn trên thị trường mất
cân bằng, các ngân hàng không thể đạt được hiệu quả cao nhất.
Tiểu luận tài chính tín dụng Nhóm tiểu luận Anh 1/ K4
- 20 -
Ngựợc lại, khi lãi suất tăng cao sẽ khuyến khích gửi tiền vào ngân
hàng nhưng lại giảm cầu về vốn, làm tăng dư nợ của các ngân hàng, làm
tăng chi phí của ngân hàng từ những khoản trả lãi cho những khoản huy
động vốn, làm giảm lợi nhuận ngân hàng.
Do vậy, các NHTM phải xác định được một mức lãi suất phù hợp dựa
trên lãi suất cơ bản mà NHTW công bố để có thể kinh doanh một cách tốt
nhất
6. Lãi suất với lạm phát
Lý luận và thực tiễn đã thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa lãi suất
và lạm phát. Fishes chỉ ra rằng lãi suất tăng cao trong thời kỳ lạm phát, do
đó lãi suất được sử dụng để điều chỉnh lạm phát. Cụ thể tăng lãi suất, thu hẹp
được lượng tiền trong lưu thông, lạm phát được kìm chế.
Tuy nhiên, dùng lãi suất để chống lạm phát không thể duy trì lâu dài
vì nó sẽ làm giảm đầu tư, tổng cầu, sản lượng. Do vậy phải kết hợp nó với
các công cụ khác.
7. Lãi suất với tăng trưởng kinh tế
Trong bối cảnh kinh tế sụt giảm, NHTW giảm lãi suất cơ bản, sử dụng
các công cụ chính sách tiền tệ làm giảm lãi suất trên thị trường, khuyến
khích vay vốn để đầu tư, sản xuất mở rộng kinh doanh.
Tuy nhiên, lãi suất giảm khiến luồng tiền huy động được của các
NHTM giảm, vì vậy nhà nước thường kết hợp nó với các công cụ khác.
toàn xã hội năm 2007 khoảng 493,6 nghìn tỉ đồng, chiếm 43%. Tổng chi
ngân sách nhà nước đạt 399,3 nghìn tỉ đồng, vượt khoảng 11,7% so với dự
toán năm. Bội chi ngân sách nhà nước 56,5 nghìn tỉ đồng, bằng 4,95% GDP.
Thâm hụt cán cân thương mại là 14,12 tỉ USD, bằng 29% tổng kim ngạch
xuất khẩu, tăng gấp hơn 2,5 lần so với năm 2006. Tổng cầu tăng nóng vượt
quá khả năng của một nền kinh tế còn tồn tại nhiều vấn đề "thắt cổ chai" liên
quan tới hạ tầng kinh tế, xã hội và pháp luật đã làm gia tăng áp lực lạm phát.
Nhóm nguyên nhân thứ hai có nguồn gốc từ các yếu tố bên
ngoài, đó là giá cả các loại hàng hóa trên thế giới đã tăng nhanh, tỷ lệ nghịch
với sự mất giá danh nghĩa của đồng USD đẩy mặt bằng giá nguyên nhiên vật
liệu đầu vào, đặc biệt là dầu thô, lên cao gấp 2 đến 3 lần so với năm 2003.
Giá dầu lửa đã tăng từ 53,4 USD/thùng tháng 1-2007 lên 89,4 USD/thùng
tháng 12-2007, và đạt đỉnh mới 125,96 USD/thùng vào ngày 9-5-2008. Tốc
độ tăng giá năng lượng, đặc biệt là giá lương thực trong nửa cuối năm 2007
Tiểu luận tài chính tín dụng Nhóm tiểu luận Anh 1/ K4
- 22 -
và đầu năm 2008 là nguyên nhân dẫn tới tình trạng lạm phát trên diện rộng ở
tất cả các nước trên thế giới.
Nhóm nguyên nhân thuộc yếu tố tiền tệ với tốc độ tăng trưởng
tín dụng của Việt Nam tăng quá nhanh trong những năm vừa qua. Trong ba
năm từ 2005 đến 2007, cung tiền tăng 135% nhưng GDP chỉ tăng 27%. Tốc
độ tăng tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng năm 2007 tăng gấp
đôi so với tốc độ tăng của năm 2006. Tính đến 31-12-2007, tổng phương
tiện thanh toán tăng 46,7% so với 31-12-2006. Tổng dư nợ cho vay của nền
kinh tế năm 2007 tăng 57,53% so với năm 2006.
Bảng 1 - Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm từ 1997 - 2007 (%)
Năm
1997
1998
9,48 10,48
10,22
10,69
10,37
10,4
DV 7,14 5,08 2,25 5,32 6,10 6,54 6,45 7,26 8,48 8,29 8,5
Nguồn: Niên giám Thống kê năm 2006, tr 69)
Tốc độ tăng truởng kinh tế tăng cao, đồng nghĩa với nhu cầu vốn ngày
càng lớn, đòi hỏi một sự gia tăng về phương tiện thanh toán để đảm bảo tính
thanh khoản cho nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng tăng lên rất cao, từ 25,4%
(năm 2006) lên hơn 50% tính đến tháng 11 năm 2007. Trong giai đoạn mà
tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu của quốc gia, để đáp ứng được nhu
cầu của thị trường, nhà nước phải tăng lượng cung ứng tiền trong một thời
gian dài. Đây là một trong những nhân tố gây đến tình trạng bất ổn của nền
kinh tế, nguyên nhân cơ bản của lạm phát.
II. Giai đoạn lạm phát cao
Với những nguyên nhân như trên, nền kinh tế Việt Nam bước vào năm
2008 với những khó khăn to lớn. Bài toán lạm phát trở lên nhức nhối hơn
bao giờ hết với mức lạm phát kỷ lục trong vòng những năm trở lại đây. Lạm
phát tiếp tục trở thành chủ đề nóng bỏng trong tình hình kinh tế vĩ mô. Theo
Tổng cục Thống kê, giá tiêu dùng tháng 3/2008 so với tháng 12/2007 đã
tăng tới 9,19%. Chính phủ đã phải điều chỉnh lại mục tiêu lạm phát cho năm
2008 ở mức không cao hơn năm 2007 (12,6%). Tính bình quân 3 tháng đầu
năm 2008 so với cùng kỳ năm trước chỉ số giá tiêu dùng cũng đã tăng tới
Tiểu luận tài chính tín dụng Nhóm tiểu luận Anh 1/ K4
- Không kỳ hạn và dưới 12
tháng
+ VND 10 11 10
+ Ngoại tệ 10 11 9
- Từ 12 -24 tháng
+ VND 4 5 4
+ Ngoại tệ 4 5 3
Biện pháp chiết khấu, tái chiết khấu: Bắt đầu từ tháng 2/2008,
NHTW nâng mức lãi suất chiết khấu từ mức 6% năm lên đến 13%
năm.
Tiểu luận tài chính tín dụng Nhóm tiểu luận Anh 1/ K4
- 24 -
2) Tác động của chính sách tiền tệ đối với lãi suất:
Với việc thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, NHTW đã tác động
một cách gián tiếp đến lãi suất, trong đó có việc đảm bảo lãi suất thực
dương, nhằm đảm bảo lợi ích của các thành viên của thị trường tiền tệ (ngân
hàng, người gửi tiền, người vay tiền).
Yếu tố thị trường : việc thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ của
NHTW thông qua công cụ dự trữ bắt buộc, phát hành tín phiếu bắt buộc đã
tác động trực tiếp đến thị trường tiền tệ và hoạt động kinh doanh của các
NHTM, theo hướng làm giảm quy mô nguồn vốn; giảm khả năng cho vay.
Quá trình này tác động làm tăng chi phí kinh doanh, tăng lãi suất cho vay
của các NHTM và trực tiếp đến thanh khoản của các NHTM trong thời gian
này.
Yếu tố chủ quan: Lãi suất tăng nhanh và tăng cao ngoài yếu tố
mang tính khách quan, còn do yếu tố chủ quan đó là quá trình khai thác và
sử dụng nguồn vốn của các NHTM chưa hợp lý. Trong đó việc tăng trưởng
nhất định. Lãi suất huy động VND có kỳ biến động mạnh nhất từ trước tới
nay. Cuộc chạy đua bùng phát trong tháng 5 và tạo những đỉnh điểm nóng
sốt trong tháng 6. Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất ghi nhận kỷ lục
“treo” tới 43%/năm; nhiều thành viên đồng loạt đẩy mức huy động trong dân
cư lên tới trên 19%/năm, cá biệt có trường hợp áp tới 20%/năm.
Đó cũng là thời điểm mà hoạt động cho vay của nhiều ngân hàng