LUẬN VĂN:
Hoạt động của nhà nước trong nền
kinh tế Việt Nam Lời mở đầu
Trong thời gian vừa qua ở Việt Nam, cải cách các chính sách kinh tế đã có ảnh hưởng
tích cực tới tăng trưởng và cấu trúc lại nền kinh tế. Sự kết hợp giữa các biện pháp ổn định hoá
kinh tế và các biện pháp tự do hoá, giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của Chính phủ Trung ương
đối với các hoạt động kinh tế dựa trên thước đo của thị trường, thực hiện chính sách mở cửa
trong quan hệ kinh tế quốc tế đã tạo nên những chuyển biên rõ nét về tốc độ tăng trưởng kinh
tế và ổn định môi trường kinh tế vĩ mô. Cùng với các chính sách cải cách đó, hoạt động của
nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể.
Tuy nhiên, triển vọng phát triển kinh tế xã hội trong những năm tới ở Việt Nam có lẽ sẽ
phụ thuộc rất nhiều vào việc giải quyết các vấn đề cơ bản mà nội dung của chúng có liên
quan đến chính sự tiếp tục quá trình cơ cấu lại nền kinh tế. Vấn đề nổi bật trong số đó là xác
Những mặt ưu của thị trường và cơ chế thị trường:
- Thừa nhận công dụng xã hội của sản phẩm và lao động chi phí sản xuất ra nó. Do đó
nó kích thích những người sản xuất trao đổi hàng hoá giảm chi phí sản xuất và lưu thông cải
tiến chất lượng, quy cách, mẫu mã, hình thức cho phù hợp nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng.
Sản xuất hàng hoá là việc riêng của từng người có tính độc lập đối với người sản xuất khác.
Nhưng hàng hoá của họ có đáp ứng nhu cầu xã hội về chất lượng, hình thức thị hiếu người
tiêu dùng không? Chỉ trên thị trường và thông qua thị trường các vấn đề trên mới được khẳng
định và có lời giải đáp. Ngoài chức năng là nơi kiểm nghiệm sự chấp nhận của người tiêu
dùng, thì thị trường còn có chức năng là đóng vai trò như một đòn bẩy, nó kích thích và hạn
chế sản xuất và tiêu dùng. Trên thị trường mọi hàng hoá đều mua bán theo giá cả thị trường.
Cho nên người sản xuất luôn tìm cách hạ giá thành sản xuất ít hơn giá cả thị trường, không
những không giảm mà còn tăng chất lượng sản phẩm. Điều này tạo điều kiện cho người sản
xuất có một thế mạnh trên thị trường và làm ăn có lãi. Dẫn đến làm phát triển sự tiến bộ xã
hội. Cạnh tranh cung - cầu làm cho giá cả thị trường biến đổi thông qua sự biến đổi đó thị trường có tác dụng kích thích hoặc hạn chế sản xuất đối với người sản xuất, kích thích hoặc
hạn chế tiêu dùng đối với người tiêu dùng. Ngoài ra thị trường còn cung cấp thông tin cho
người sản xuất và người tiêu dùng. Thị trường cho biết những biến động về nhu cầu xã hội,
số lượng giá cả, cơ cấu và xu hướng thay đổi của nhu cầu các loại hàng hoá dịch vụ. đó là
những thông tin cực kỳ quan trọng đối với người sản xuất hàng hoá, giúp họ điều chỉnh sản
xuất cho phù hợp với thông tin của thị trường.
Cơ chế thị trường hoạt đồng theo các quy luật của nền kinh tế thị trường. Đó là quy luật giá
trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ Thông qua các hoạt động
trao đổi mua bán hàng hoá cơ chế thị trường với sự dẫn dắt của giá cả đã có tác dụng trực tiếp
điều tiết sản xuất, tiêu dùng và đầu tư. Chính bàn tay vô hình này làm cho cơ cấu sản xuất, cơ cấu
hàng hoá phù hợp với khối lượng và chất lượng nhu cầu. Samelson đã nói rằng “cơ chế thị
trường không phải là sự hỗn độn mà là trật tự kinh tế. Một nền kinh tế thị trường là một cơ chế
tinh vi phối hợp một cách, không tự giác, nhân dân và doanh nghiệp thông qua hệ thống giá cả và
thị trường. Nó là một phương tiện giao tiếp để tập hợp tri thức và hành động của Đảng trên các cá
nhưng lại xem nhẹ lợi ích xã hội, lợi ích tập thể. Nó chỉ phản ánh những nhu cầu trước mắt
mà không vạch ra nhu cầu tương lai. Những chỉ số kinh tế như giá cả lợi nhuận thường xuyên
biến động làm cho người sản xuất và lưu thông hàng hoá khó định hướng, thường bị động đối
phó, nhiều lúc gây ra sự lãng phí lao động xã hội.
Nhận thức được những đặc điểm đó Nhà nước có thể sử dụng lực lượng dự trữ về kinh
tế và những chính sách phù hợp như kế hoạch, thuế, hợp đồng kinh tế để cùng với thị trường
điều khiển sự hoạt động của nền kinh tế theo định hướng và mục tiêu xác định.
Trước đây ta đã phân tích những mặt tích cực những chức năng to lớn của nền kinh tế
thị trường đem lại. Nước là một nước đang yếu kém về mặt quản lý cũng như nền kinh tế nên
chúng ta không thể không áp dụng nền kinh tế thị trường được. Tuy rằng chúng ta đi lên theo
hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chủ nghĩa tư bản, nhưng chúng ta không phải bỏ đi
toàn bộ mọi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Mà chúng ta bỏ qua kinh tế hàng hoá hay
kinh tế thị trường. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải áp dụng như thế nào để không hạn chế
những mặt tích cực của nền kinh tế thị trường và khai thác triệt để nó. Mà phải loại trừ những
mặt trái, mặt tiêu cực của nó. Để loại bỏ được những khuyết tật của nền kinh tế thị trường thì
không có cách nào khác đó là phải có sự quản lý điều tiết của Nhà nước. Sự quản lý của Nhà
nước đối với nền kinh tế thị trường không phải chỉ là để loại bỏ những khuyết tật của nó, mà
còn là sự định hướng phát triển của nó đi đúng với đường lối mà Nhà nước ta đề ra. Sự cần thiết của Nhà nước trong sự quản lý thị trường.
Sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất, sự dao động thường xuyên của các
nhân tố tự nhiên, xã hội, kinh tế, chính trị làm cho các quan hệ tỷ lệ đó luôn luôn biến động.
Theo quan hệ tỷ lệ đó, cơ chế phù hợp với yêu cầu khách quan của các quy luật và tính quy
luật vận động phát triển kinh tế, xã hội và tạo điều kiện cho nền kinh tế đó có thể tăng trưởng
và ngược lại các quan hệ tỷ lệ đó có thể không hợp và làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng
trì trệ, yếu kém. Đặc biệt là khi các quan hệ kinh tế quốc tế được hình thành và phát triển thì
các hoạt động kinh tế trong và ngoài nước tác động lẫn nhau, các nguồn lực bên trong và bên
ngoài có thể di chuyển phù hợp hay không phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế trong nước,
quy mô và cơ cấu kinh tế có thể dịch chuyển theo hướng tiến bộ hợp lý tối ưu hay lạc hậu,
như các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác của nền kinh tế quốc dân. Các mục tiêu vĩ mô này là
những định hướng không thể thiếu được cho các hoạt động kinh tế của cá nhân, cơ sở và các
ngành, vùng trong cả nước. Bộ phận điều hành vĩ mô ở đây không ai khác ngoài vai trò của
Nhà nước - chủ thể kinh tế của nền kinh tế quốc gia.
Hai là: Trong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, các hoạt động sản xuất kinh
doanh, các hành vi giao dịch đều tiến hành thông qua thị trường và tuân theo các quy luật của
thị trường. Bên cạnh những hàng hoá, dịch vụ, chi phí bỏ ra và lợi nhuận thu về của từng cá
nhân thường khác với chi phí và lợi ích thực tế của toàn xã hội với tư cách là một tổng thể như
các loại hàng hoá, dịch vụ công cộng mà chi phí sản xuất phải bỏ ra nhiều nhưng lợi nhuận thu
về rất thấp, chỉ đem lại lợi ích cho xã hội. Mặt khác, những hàng hoá, dịch vụ công cộng quan
trọng như quốc phòng, an ninh thì không thể giao cho tư nhân được mà Nhà nước cần đứng ra
sản xuất.
Ba là: Nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường không thể tách khỏi môi
trường chính trị, kinh tế và xã hội. Nếu môi trường chính trị, kinh tế và xã hội không ổn định,
thường xuyên có sự đụng độ và xung đột giữa các giai cấp trong xã hội thì gân nên những
hiện tượng tiêu cực làm cho nền kinh tế không phát triển. Cơ chế thị trường - cơ chế điều
chỉnh hành vi của người sản xuất lẫn người tiêu dùng theo mệnh lệnh giá cả, khi đó sẽ bị méo
mó. Những nhược điểm của cơ chế thị trường sẽ lan rộng và đẩy môi trường kinh tế, chính trị
và xã hội vào tình trạng rối loạn và khủng hoảng.
Cơ chế thị trường rất cần có môi trường ổn định và lành mạnh để hoạt động song những
nhược điểm và khuyết tật của nó lại để ra những xu hướng phủ định chính những điều kiện
hoạt động của bản thân nó như: do chạy theo lợi nhận đã đưa đến sự phân bố và sử dụng các nguồn lực không hợp lý, vì lợi ích kinh tế cá nhân, cục bộ mà chà đạp lợi ích chung, phá hoại
môi sinh, làm ô nhiễm môi trường, do mỗi người đều tìm cách tối đa hoá lợi ích của mình nên
tất yếu dẫn đến sự phân hoá giầu nghèo, bất đồng trong xã hội, cạnh tranh tất yếu dẫn đến
độc quyền Trong những biểu hiện trên, biểu hiện có tác động sâu sắc nhất là mâu thuẫn về
lợi ích kinh tế giữa các giai cấp và tầng lớp trong xã hội.
Cơ chế thị trường - bàn tay vô hình khắc phục được những mâu thuẫn đòi hỏi phải có sự
nước trong từng thời kỳ nhất định.
Sáu là: Đối với các nước bước vào giai đoạn phát triển kinh tế hàng hoá vận động theo
cơ chế thị trường từ một trình độ kinh tế chưa phát triển, sản xuất nhỏ, tự túc tự cấp là phổ
biến lại chịu ảnh hưởng nhiều năm của cơ chế hành chính bao cấp như nước ta thì Nhà nước
giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong công việc hình thành và phát triển các quan hệ thị trường
và việc sử dụng cơ chế thị trường. ở các nước này, Nhà nước phải gánh vác các mục tiêu kinh
tế vĩ mô và thực hiện nhiều mục tiêu xã hội vừa có tính cơ bản, vừa có tính cấp bách như
phân bố sản xuất, lao động vào các ngành, các vùng mới, huy động mọi tiềm năng vào phát
triển và lưu thông hàng hoá, tổ chức phân công lại lao động và giải quyết các nhu cầu khác
của đời sống kinh tế xã hội. Chúng ta tiến hành mở rộng các quan hệ thị trường, cơ chế thị
trường trong điều kiện luật pháp, chính sách chưa đầy đủ và kế thừa những thành tựu của các
nước đi trước.
Đối với những nước đang phát triển, việc hoàn thiện và thường xuyên tăng cường các
biện pháp hành chính - pháp lý và hành chính kinh tế cùng với việc phát triển hệ thống các cơ
sở kinh tế của Nhà nước trong các ngành và lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân là
những công cụ vĩ mô vô cùng quan trọng trong việc hình thành và mở rộng, định hướng các
quan hệ thị trường và sử dụng cơ chế thị trường theo phương hướng mục tiêu đã định. Trong
việc quản lý, Nhà nước không được xem nhẹ hay coi nặng bất cứ một công cụ nào mà phải sử
dụng nhịp nhàng một cách đồng bộ bởi vì mỗi loại công cụ đều có một tác dụng riêng của nó
tuỳ theo từng điều kiện, hoàn cảnh mà mỗi công cụ phát huy thế mạnh của nó.
Từ sự phân tích trên ta thấy rằng việc Nhà nước can thiệp vào kinh tế là một tất yếu
khách quan để sửa chữa những khuyết tật, hạn chế của cơ chế thị trường, Nhà nước thực hiện
chức năng quản lý kinh tế là nhu cầu khách quan, nội tại của nền kinh tế hàng hoá vận động
theo cơ chế thị trường. Còn việc điều tiết, khống chế và định hướng các hoạt động kinh tế của
các cơ sở thuộc các thành phần kinh tế theo phương hướng và mục tiêu như thế nào phụ
thuộc vào bản chất các hình thức Nhà nước và con đường của mỗi quốc gia lựa chọn. Đất nước Việt Nam ta muốn đạt tới mục tiêu XHCN cần phải chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế,
song cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước là một tất yếu khách quan. Nhà
các doanh nghiệp xây dựng và quyết định dựa theo kế hoạch của Nhà nước và sự vận động
của cơ chế thị trường. Kế hoạch kinh doanh phải đạt mục tiêu vừa thoả mãn nhu cầu xã hội,
vừa thu được lợi nhuận tối đa.
Như vậy, kế hoạch kinh tế - xã hội không hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường và có thể
điều tiết thị trường. Còn kế hoạch sản xuất kinh doanh phải gắn chặt với thị trường, coi thị
trường là mệnh lệnh, đối tượng của kế hoạch.
c. Chính sách tài chính.
Chính sách tài chính chủ yếu thể hiện ở hai nội dung: thu và chi tiêu của Chính phủ từ
đó tác động vào tổng cung và tổng cầu, sản lượng, giá cả và việc làm.
Khi chính sách tài chính được áp dụng để giảm hoặc thoát khỏi suy htoái kinh tế gọi là
chính sách tài chính mở rộng, nó tác động thông qua hai con đường:
- Tăng chi tiêu của Chính phủ như đẩy mạnh sản xuất hàng hoá công cộng, tăng đơn đặt
hàng mua và những khoản chi khác. Như vậy sẽ làm tăng tổng cầu và qua đó tác động, kích
thích làm tăng tổng cung. Vì vậy ta có thể giải quyết tốt vấn đề suy thoái và thất nghiệp.
- Giảm thuế sẽ kích thích tiêu dùng và đầu tư. Do vậy sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo
điều kiện giải quyết việc làm.
Khi chính sách tài chính được áp dụng để giảm lạm phát thì chính sách tài chính thắt chặt.
Nó cũng tác động đến các biến cố của nền kinh tế vĩ mô theo hai con đường:
Thứ nhất: Giảm chi tiêu của Chính phủ như: giảm đầu tư sản xuất hàng công cộng và
đơn đặt hàng. Kết quả dẫn đến giảm cầu quá mức, bình ổn vật giá, hạn chế lạm phát và đương
nhiên cũng hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai: Tăng thuế cũng có thể làm giảm thu nhập, giảm tiêu dùng, giảm đầu tư và
giảm nhu cầu xã hội quá mức khiến giá cả đi vào ổn định.
d, Chính sách tiền tệ: Cùng với chính sách tài chính, tiền tệ là nhân tố quan trọng tác động đến sản lượng, thất
nghiệp và lạm phát trong nền kinh tế quốc dân. Sự tác động của nền kinh tế theo ba logíc.
- Những thay đổi trong mức cung về tiền tệ tác động đến lãi suất cùng khối lượng và
điều kiện tín dụng.
mình lên cơ chế thị trường và ngày càng hoàn thiện dần nhưng đất nước ta với nền kinh tế
còn phân tán, cán bộ quản lý chưa có kinh nghiệm, cơ sở hạ tầng còn non kém nên việc chỉ
đạo của Nhà nước đóng một vai trò quan trọng, là kim chỉ nam cho việc phát triển đúng
hướng mà chúng ta đã đề ra sự can thiệp đó phải được thể hiện bằng hệ thống pháp luật bảo
vệ quyền tự do dân chủ, công bằng xã hội trong phân phối kinh tế và mở rộng phúc lợi xã hội
cho toàn dân bằng hệ thống hàng hoá công cộng. Ngay từ đầu nhà nước phải xác định đúng
mục tiêu của mình, có như vậy mới có được sự thành công trong công cuộc đổi mới cơ chế
quản lý.
Bước sang thiên niên kỷ mới, nhiều thời cơ mới vận hội mới cho đất nước. Nhà nước ta
một lần nữa khẳng định phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN
có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, đưa đất nước tiến lên CNXH, thực hiện dân giàu nước
mạnh xã hội công bằng văn minh.
Tài liệu tham khảo
1. Tạp chí phát triển kinh tế số 98-99
2. Vai trò quản lý kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường – Kinh nghiệm của các
nước ASEAN
3. Giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế - ĐH KTQD- NXB giáo dục 1999
4. Giáo trình kinh tế chính trị (Mác-Lênin Tập II) ĐH KTQD – NXB Giáo dục 1999
5. Tài liệu tham khảo Kinh tế học của Samuelson ( Về vai trò của Chính phủ)
6. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần VII- NXB Sự thật – 1996.
7. Một số tạp chí có liên quan.