LUẬN VĂN: vai trò quan trọng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường potx - Pdf 10


LUẬN VĂN:

vai trò quan trọng của Nhà nước
trong nền kinh tế thị trường
ĐHKTQD, việc nghiên cứu tìm hiểu vấn đề này là một điều rất có ý nghĩa chính vì thế
mà em đã chọn đề tài này
A. Mở bài
Chúng ta đã từng xây dựng mô hình kinh tế của đất nước theo mô hình kinh tế
tập trung hoá. Xong những gì chúng ta đạt được đó là nền kinh tế luôn trong tình trạng
xuống dốc, lạm phát gia tăng, cuộc sống nhân dân ngày càng khổ cực Từ đó đặt ra
cho Đảng và Nhà nước ta cần phải đổi mới tư duy cũng như cần phải xây dựng một
mô hình kinh tế mới.
Trong vài năm trở lại đây chúng ta đã chuyển đổi từ mô hình kinh tế tập trung
sang mô hình kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Nhưng khi chuyển sang
nền kinh tế mới đã tạo ra nhiều câu hỏi. Chúng ta sử dụng kinh tế thị trường như một
công cụ để xây dựng CNXH hay không? Nếu sử dụng kinh tế thị trường là từ bỏ
CNXH.
Nhưng đại hội biểu toàn quốc lần thứ VII và lần thứ VIII đã khẳng định rõ.
Chúng ta xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường thực chất là xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN. Và sản xuất hàng
hoá không đối lập với CNXH mà là trình tự phát triển của nền văn minh nhân loại tồn
tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng XHCN và cả khi CNXH đã được
xây dựng và cũng theo quan điểm của Lênin, người nói “trong một đất nước tiểu nông,
trước hết các đồng chí bắc chiếc cầu nhỏ vứng chắc, để xuyên qua CNTB Nhà nước
tiến lên CNXH” (Toàn tập NXB tiến bộ Matxcơva 1978- tập 4. Tr 189). Đây cũng là
bước lùi chiến lược và trở lại con đường phát triển hợp với quy luật kinh tế của nền
kinh tế này, chúng ta gặp không ít những nhược điểm của nền kinh tế này cũng như
thất bại của thị trường. Vì khi ta xác định xây dựng đất nước theo cơ chế thị trường, thì
sẽ có sự tự do trao đổi buôn bán chuyển nhượng và cũng vì lợi nhuận tối đa mà các
nhà kinh doanh có thể bất chấp thủ đoạn ra sức bóc lột nhân dân, tước loại các tư liệu
sản xuất, chèn ép các doanh nghiệp nhỏ và đẩy họ trở thành những kẻ làm thuê và

Từ hai trường phái trên đã xuất hiện một trường phái “hỗn hợp” nổi bật quan
điểm “kinh tế hỗn hợp” của Paul Samuelson một nhà kinh tế người Mỹ. Ông cho rằng:
Điều hành một nền kinh tế không phải cả Chính phủ lẫn thị trường và cơ chế thị
trường xác định giá cả và sản lượng, trong khi đó Chính phủ điều tiết thị trường bằng
các chương trình thuế, chỉ tiêu và luật lệ, và ông cho rằng cả hai đều có tính thiết yếu.
Đó là những quan điểm vai trò Nhà nước nhằm xây dựng một nền kinh tế thị
trường đạt hiệu quả cao nhất. Đối với nước ta thì sao? Nhà nước cần phải làm gì?.
Nhằm xây dựng một nền kinh tế hàng hoá có sự quản lý của Nhà nước đạt hiệu quả
cao nhất? Và thực hiện biện pháp gì? Thông qua công cụ gì? Đó là hàng loạt các câu
hỏi đặt ra cho Nhà nước ta trong thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế hiện nay.
Từ đó ta cũng thất tính bức xúc của vai trò Nhà nước. Và sau đây em xin được
trình bày và làm rõ một vấn đề cơ bản về “Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế
thị trường địng hướng XHCN ở nước ta hiện nay”.
B. Nội dung.
I. Cơ sở lý luận của việc hình thành vai trò kinh tế Nhà nước.
1. Cơ sở lý luận.
Nhà nước bằng những hình thức nhất định của mình có một vị trí đặc biệt quan
trọng đối với cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Kiến trúc thượng tầng chính là
công cụ của giai cấp thống trị về mặt chính trị và tư tưởng đối với giai cấp bị trị. Kiến
trúc thượng tầng cũ, xây dựng và bảo vệ, củng cố phát triển cơ sở hạ tầng mới. Vì khi
một điều lệ ra đời nó tác động đến các mối quan hệ sản xuất và ngược lại khi quan hệ
sản xuất phát triển cao thì Nhà nước cần ban hành các (xác lệnh) chính sách các điều
lệ phù hợp với sự phát triển của quan hệ sản xuất.
Từ cơ sở lý luận đó nó sẽ được chứng minh trong quá trình lịch sử. Khẳng định
rằng sự ra đời của vai trò của Nhà nước đối với nền kinh tế là tất yếu. Bất cứ một Nhà
nước nào cũng có vai trò và chức năng kinh tế. C.Mac coi quyền lực của Nhà nước
như “vai trò bà đỡ cho xã hội cũ thai nghén xã hội mới”. ở các thời kỳ khác nhau ở các

Tây.
ở Trung Quốc từ học thuyết “bình dân kinh tế chủ nghĩa” Mạnh Tử cho rằng
chính sách kinh tế của Nhà nước phải làm cho dân giàu và chỉ có dân giàu thì nước
mới mạnh.
Song dù có tiến bộ và cải cách hơn chế độ chủ nô, với sự phát triển của chế độ
xã hội nên chế độ phong kiến (Nhà nước phong kiến) vẫn phải sụp đổ để thay vào đó
một Nhà nước tiến bộ hơn. Đó là Nhà nước TBCN.
ở Nhà nước TBCN. Nền kinh tế mới ra đời các quan hệ sản xuất cũng được đổi
mới. Nhằm nhanh chóng xây dựng một nền kinh tế phát triển. Nhà nước tư bản nhanh
chóng có nhứng chính sách giúp đỡ các nhà kinh doanh, tạo ra sự tích luỹ tư bản.
Trong giai đoạn đầu của CNTB. Nhà nước đã ban hành và xây dựng các bộ luật
nhằm tạo ra sự tích luỹ cao nhất và giúp các doanh nghiệp trong nước khỏi sự chèn ép
của các tập đoàn doanh nghiệp nước ngoài. Nhưng khi kinh tế TBCN phát triển Nhà
nước chỉ đóng vai trò là người giám sát và tạo ra các cơ sở tiền đề cho sự phát triển
kinh tế.
Qua các thời kỳ lịch sử cho thất rõ hơn khi mà lực lượng sản xuất trong chế độ
đó phát triển ở một mức độ nào đó, nó sẽ kéo theo mối quan hệ sản xuất đó cũng dần
thay đổi để phù hợp và khi quan hệ sản xuất ngày càng được nâng cao và mở rộng thì
nó đòi hỏi phải có một thể chế mới nhằm đáp ứng nhu cầu cho các mối quan hệ sản
xuất phát triển. Cho nên ròng lịch sử đã chứng minh cho chúng ta rất rõ. Trong chế độ
chiếm hữu nô lệ, khi mức quan hệ sản xuất phát triển tức họ đã đòi các quyền về sự
phân phối sản phẩm cần phải có quan hệ tổ chức về quản lý và quyền sở hữu đối với tư
liệu sản xuất. Song thể chế lúc bấy giờ chỉ coi tầng lớp lao động (nô lệ) chỉ là những
công cụ sản xuất. Và quan hệ cũng như các chính sách của Nhà nước không đáp ứng
được nhu cầu sản xuất. Cho nên như một tất yếu khách quan các quan hệ sản xuất đã
đấu tranh và thay đổi một kiểu Nhà nước mới. Sang thơi kỳ phong kiến. Thời kỳ này
cũng tương tự như vậy, tuy đã được cải cách nhiều song còn lạc hậu với các quan hệ

đưa nước ta tiến nhanh lên CNXH.
Cho nên sau khi hoà bình chúng ta vẫn áp dụng nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung để xây dựng đất nước. Nhưng trong quá trình xây dựng mô hình này thì nó đã
dần bộc lộ những nhược điểm cơ bản là nó thiếu động lực cho sự phát triển. Điều này
nó thể hiện những mặt hạn chế sau:
nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung không gắn chặt giữa người lao
động và tư liệu sản xuất và sản phẩm của họ làm ra. Việc sản xuất tốt hay xấu không
liên quan gì đến quyền lợi của người lao động, chính vì thế mà người lao động không
quan tâm đến sản xuất, xã hội trở nên thiếu động lực.
Vì sản xuất và tiêu thụ theo mệnh lệnh nên người lao động và các cơ sở sản
xuất kinh doanh không cần thiết phải nghiên cứu ứng dụng các thành tựu mới. Bởi vật
cơ sở vật chất kỹ thuật của nên kinh tế vốn đã lạc hậu lại càng lạc hậu hơn.
Cũng vì làm theo kế hoạch và mệnh lệnh nên người lao động và cơ sở kinh
doanh trở nên thụ động, tính sáng tạo của họ ngày càng bị thui chột. Sở dĩ nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung có nhiều tiêu cực là do chính cơ chế quản lý của nó.
Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành
chính là chủ yếu điều đó thể hiện ở sự chi tiết hoá quá đáng. Các cơ quan hành chính
kinh tế can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ
sở, nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về các quyết định của mình. Cơ chế kế hoạch
hoá tập trung quan liêu coi thường quan hệ hàng hoá - tiền tệ và hiệu quả quản lý kinh
tế.
Những hậu quả của nền kinh tế này mang lại là: kinh tế đất nước luôn trong tình
trạng suống dốc, lạm phát gia tăng, làm nảy sinh sự trì trệ cuộc sống nhân dân ngày
càng khổ cực.
Nhưng sau sự đổ vỡ của Liên Xô, chúng ta không thể cứ tiếp tục xây dựng nền
kinh tế của nước ta theo mô hình này. Vấn đề được đặt ra là phải đổi mới sâu sắc cơ
chế quản lý cũ (cơ chế tập trung quan liêu bao cấp). Theo hướng căn bản của sự đổi

ra cơ sở vật chất kỹ thuật là một yếu tố quan trọng. Cho nên một số năm trở lại đây
chúng ta đang xây dựng một mô hình kinh tế mới đó là nền kinh tế nhiều thành phần
theo định hướng XHCN.
Thực tế nhằm đưa nước ta thoát khỏi khủng khoảng & trì trệ suốt những năm
bao cấp và cải thiện, nâng cao dần đời sống nhân dân. Và cũng để ứng dụng tốt công
nghệ khoa học tạo ra cơ sở vật chất cho công cuộc đổi mới ở nước ta.
Và thực chất của công cuộc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là so mối quan hệ trong xã hội
đòi hỏi Nhà nước phải có những chính sách cải thiện đặc biệt là trong kinh tế. Đứng
trước thực trạng đó Nhà nước không thẻ giữ mãi các mối quan hệ sản xuất cũ mà cần
phải có những chính sách mới phù hợp với những quan hệ sản xuất đang phát triển. Và
nhằm phù hợp với thực trạng của đất nước và sự phát triển của thế giới.
Chính vì vậy nước ta đã chọn con đường mới. Chuyển toàn bộ nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
2. Vai trò của Nhà nước trong quá trình xây dựng nền kinh tế nhiều thành
phần ở nước ta hiện nay.
2.1. Sự cần thiết tất yếu phải có vài trò của Nhà nước.
Trong điều kiện hiện nay của đất nước, khi mà đất nước đang xoá bỏ dần nền
kinh tế kế hoạch hoá tập trung để xây dựng nền kinh tế mới, nền kinh tế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước. Thì vai trò của Nhà nước ngày càng lớn lao hơn.
Chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường. Mà chúng ta đã biết đây là một
nền kinh tế CNTB mà bản chất của phương thức sản xuất này là giá trị thặng dư, vì
mục đích lợi nhuận tối đa con người có thể làm mọi thứ. “Mục đích của sản xuất
TBCN làm giàu, là nhân giá trị lên, là làm tăng giá trị, do đó bảo tồn giá trị trước kia
và tạo ra giá trị thặng dư” (C.Mac: các học thuyết giá trị thặng dư). sản xuất ra giá trị
thặng dư (lợi nhuận) là một động lực thúc đẩy con người sản xuất bằng mọi cách nhằm
tạo ra lợi nhuận lớn nhất. Mà chúng ta đang xây dựng đất nước tiến lên CNXH, nhưng

Như vậy, để đạt được những mục tiêu đó Nhà nước ta phải có những chức năng
gì?
Các chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước: gồm 4 chức năng sau
a. Định ra khuôn khổ hoạt động cho các tổ chức hoạt động kinh doanh
chức năng này bao gồm vô số các luật lệ, quy tắc buộc các doanh nghiệp, người
tiêu dùng và bản thân Chính phủ phải theo. Chẳng hạn như xác định môi trường kinh
doanh, các quy tắc hợp đồng
Chức năng này nhằm phân bố tài nguyên, nhân lực sao cho vừa đảm bảo hiệu
quả kinh tế vĩ mô, vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế vi mô. Tránh tình trạng thiếu đày đủ
các bộ luật, chính sách dẫn đến những quan hệ sai trái, làm yếu đI các quy luật của thị
trường gây nên sự phồn vinh giả tạo trong đời sống kinh tế xã hội.
Bởi vậy mà sự hình thành thị trường văn minh với các quan hệ thị trường lành
mạnh và sử dụng có hiệu quả của những hoạt động tự phát và phải là kết quả của toàn
bộ hoạt động kinh tế và luật pháp của Nhà nước.
Samuelson Nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng “một thất bại của thị trường dẫn
đến sản xuất không hiệu quả và ở đây Chính phủ có thể đóng vài trò chữa lệnh”.
b. Chức năng hiệu quả kinh tế.
Chức năng này thực sự là sự sửa chữa thất bại, những thất bại của thị trường
dẫn đến sản xuất không hiệu quả hay tiêu dùng lãng phí. Về thất bại của thị trường sảy
ra trong các trường hợp sau:
cạnh tranh không hoàn hảo tồn tại nếu như trên thị trường chưa có đủ số lượng
doanh nghiệp hoặc chưa đạt đến mức độ cạnh tranh để không một doanh nghiệp nào
gây được ảnh hưởng đến giá cả hàng hoá. Do vậy để dành lợi thế trong kinh doanh
doanh nghiệp áp dụng kỹ thuật mới nhất và tìm cách độc chiếm kỹ thuật, tình trạng
này làm cho giá cả cao hơn mức hiệu quả và làm biến dạng về cầu sản xuất, xuất hiện
siêu lợi nhuận có thể dẫn đến độc quyền, có thể dẫn đến mức khủng hoảng suy thoái,
chính vì thế mà Nhà nước cần phải đưa ra các biện pháp chống độc quyền nhằm đạt
hiệu quả kinh tế cao hơn.
Thất bại thứ 2 là do tác động bên ngoài của thị trường làm hoạt động kinh tế
không hiệu quả.

làm suy thoái sản xuất. Ngược lại, kích thích đầu tư, xuất khẩu phát triển sản xuất phải
chấp nhận lạm phát ở một mức độ nào đó. Tóm lại, thực hiện chức năng này, Nhà
nước chỉ có khả năng hạn chế ở mức độ của các thăng trầm kinh tế bằng cách sử dụng
chính sách tài chính, chính sách tiền tệ tác động có lợi đến sản lượng, việc làm, thu
nhập và giá cả của nền kinh tế tạo nên sự phát triển nhịp nhàng năng động, cân đối và
đạt hiệu quả cao.
2.3. Đánh giá thực hiện vai trò của Nhà nước trong quá trình xây dựng kinh tế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Đại hội VII đã đề ra mục tiêu tổng quát cho những năm tới là “vượt qua khó
khăn thử thách, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy
lùi tiêu cực và bất công xã hội đưa nước ta cơ bản thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng
hiện nay”.
Để đạt được mục tiêu trên , về cơ chế kinh tế, Đại hội đã khẳng định: tiếp tục
xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và đổi mới quản lý kinh tế cơ chế vận
hành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN là cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công
cụ khác.
Từ thực tiễn vận động của nền kinh tế quá trình đổi mới và và hình thành cơ
chế quản lý ở nước ta có thể thấy rằng phải hướng vào các lĩnh vực ưu tiên: quản lý
kinh tế vĩ mô, cơ sở pháp lý tổ chức cho một nền kinh tế thị trường. Đổi mới quản lý
hành chính của Chính phủ, cải cách quản lý xí nghiệp và phát triển kinh tế đối ngoại,
sử dụng có hiệu quả vay nợ của nước ngoài và viện trợ. Đó là một quá trình tìm kiếm
& thử nghiệm đầy khó khăn phức tạp, song chúng ta đã đạt được những thành tựu
quan trọng bước đầu và ngày càng được bổ xung, hoàn chỉnh hơn về nội dung và cũng
như biện pháp thực hiện, nhằm làm cho cơ chế phù hợp với điều kiện cụ thể của nước
ta về kinh tế, chính trị xã hội cũng như với tình hình quốc tế hiện nay. Nhằm giải
phóng năng lực sản xuất, tạo ra công ăn việc làm, tạo ra các động lực thúc đẩy các đơn

lưu thông và tăng năng xuất lao động, phát triển sản xuất nâng cao đời sống nhân dân,
xác định chính sách kết hợp lợi ích xã hội với lợi ích của tập thể và cá nhân. Khuyến
khích người lao động hăng hái sản xuất
Những chủ trương đó được đông đảo quần chúng nhân dân, các ngành, các cấp
hưởng ứng mạnh mẽ làm cho đời sống kinh tế phát triển mạnh sôi động hẳn lên, ngay
trước đại hội V của Đảng, chấm dứt thời kỳ sản xuất lưu thông giảm sút trong các năm
trước đó.
Hai là: Đại hội V của Đảng (1982) đánh giá cao và khẳng định nghị quyết hội
nghị ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (khóa IV) và đòi hỏi: xác lập chế độ
quản lý kế hoạch hoá đúng đắn,đổi mới cơ chế quản lý & kế hoạch hoá hiện hành, xoá
bỏ cơ chế quan lý hành chính, quan liêu bao cấp; kế hoạch hoá phải thấu suốt nguyên
tắc hạch toán kinh tế và kinh doanh XHCN.
Thực hiện tinh thần nghị quyết trên những năm từ 1981 và sau đạI hội lần thứ V
của Đảng, phong trào quần chúng làm kinh tế xuất hiện và bước đầu lớn mạnh với chỉ
thị 100 của ban Bí Thư Trung ương Đảng về khoán sản phẩm trong nông nghiệp;
quyết định 25 Chính phủ về quyền tự chủ của xí nghiệp, chủ trương đổi mới kế hoạch
hoá với 3 cấp làm chủ, 4 nguồn cân đối; chính sách khuyến khích xuất nhập khẩu,
theo hướng mở rộng quyề chủ động, sáng tạo của cơ sở và địa phương dưới sự quản lý
tập trung thống nhất của Trung ương về những mặt cơ bản, khuyến khích mạnh mẽ
người lao động hăng hái sản xuất.
Ba là: Đại hội VI (1986) của đảng đã khẳng định quyết tâm chiến lược đổi mới
cơ chế quản lý kinh tế. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật. ĐạI hội VI
đã phân tích sâu sắc, chỉ rõ những điều kiện cơ bản cùng những hậu quả tiêu cực của
cơ chế cũ: khẳng định quyết tâm xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch
toán kinh doanh XHCN và nguyên tắc tập trung dân chủ; giao quyền sử dụng lâu dài
về ruộng đất, tạo môi trường pháp lý hành chính thích hợp cho các khu vực kinh tế, kể
cả tư nhân, hoạt động có hiệu quả.

- Ngân sách Nhà nước có thể đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu thường xuyên.
- hiệu quả chung của nền kinh tế được nâng cao hơn trước rất nhiều.
- Đã tạo được hành lang cho qua trình kinh doanh và cạnh tranh theo pháp luật.
Cac doanh nghiệp Nhà nước được thành lập và đã trở thành một hệ thống kinh tế do
Nhà nước quản lý từ Tung ương đến tỉnh, huyện, đang từng bước hoà nhịp với cộng
đồng quốc tế. Các doanh nghiệp Nhà nước có mặt hầu khắp trong tất cả các lĩnh vực
và các ngành chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, một nguồn quan trọng trong việc tạo
ra công ăn việc làm và tạo ra sản phẩm. Cả nước hiện có trên 12.084 xí nghiệp quốc
doanh trong đó có khoảng 1.695 xí nghiệp trực thuộc Bộ. Trong lĩnh vực sản xuất
công nghiệp có 3.020 xí nghiệp quốc doanh, thì có khoảng 660 xí nghiệp với quy mô
lớn hơn. Đồng thời kỹ thuật nhanh chóng được đổi mới kéo theo chất lượng sản phẩm
được nâng cao phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và người sản xuất có quyền lựa
chọn mặt hang dịch vụ phù hợp với tiêu dùng, tránh cho xã hội những tổn thất về
việc sản xuất không phù hợp với người tiêu dùng.
- Đời sống phần lớn lao động được cải thiện đáng kể trên nhiều chỉ tiêu tiêu
dùng cá nhân. Thu nhập bình quân của người dân tăng nhanh đặc biệt đối với một số
thành phố lớn thu nhập bình quân từ 500 đến 1000 USD/năm.
Đó là những thành tựu mà 10 năm đổi mới qua chúng ta đã đạt được. Xong
không thể không kể đến những khó khăn phức tạp, những tồn tại và thiếu sót trong quá
trình đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường.
Tình hình chủ yếu là do chúng ta chưa xây dựng được một CNXH theo một mô
hình kinh tế mang nặng tính cơ chế quan lý tập trung quan liêu, bao cấp và cơ chế mới
hình thành chưa đồng bộ. Nó thể hiện trên các mặt chính: bố trí cơ cấu kinh tế, cơ cấu
đâù tư, về phát triển công nghiệp nặng theo quy mô lớn, và xây dựng tràn lan; nóng
vội xoá bỏ các hình thức kinh tế dựa trên chế độ sỏ hữu về tư liệu sản xuất, phát triển
kinh tế quốc doanh và tập thể mang nặng về hình thức; hệ thống quản lý dựa trên cơ
chế kế hoạch hoá tập trung bằng mệnh lệnh và hành chính và quan hệ hiện vật; bộ máy

- Xem nhẹ sản xuất, kể cả chất lượng sản phẩm, mở rộng kinh doanh, chưa coi
trọng việc tăng năng xuất lao động, hạ giá thành, mà tìm kiếm thu nhập qua thị trường
bán và tiêu dùng, kể cả trong bộ máy Nhà nước.
- Đặt lợi ích cá nhân, cục bộ lợi ích Nhà nước và của tập thể.
- Pháp luật, kỷ cương của Nhà nước không được chấp hành nghiêm chỉnh cấp
dưới không phục tùng cấp trên.
- Chuyên chính vô sản bị buông lỏng, không kiên quyết ngăn chặn các tiêu cực
xã hội, trừng trị bọn đầu cơ buôn lậu phá hoại.
Sự đổi mới cơ chế quản lý tiến hành chậm, sự chỉ đạo điều hành thiếu kỷ cương
và chưa đúng pháp luật, trì trệ bảo thủ trong công tác cán bộ đồng thời có nguồn gốc
sâu xa của nền sản xuất nhỏ, tình trạng yếu kém mất cân đối, thiếu ổn định.
Chính vì vậy mà Nhà nước cần phải tăng cường vai trò quản lý kinh tế của
mình hơn nữa bằng những công cụ chính sách cụ thể để cơ chế thị trường thực sự đem
lại sức sống cho nền kinh tế.
III. Các giải pháp
1. Các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
Để thực hiện tốt những mục tiêu và chức năng đã nêu trên. Nhà nước ta cần sử
dụng một số công cụ sau:
a. Kế hoạch hoá nền kinh tế.
Kế hoạch hoá là một hoạt động có hướng đích của Chính phủ hay hộ gia đình,
doanh nghiệp.
Kế hoạch hoá theo nghĩa rộng thường là một phương thức hành động đựơc
chuẩn bị trước để đưa ra thực hiện, đồng thời nó cũng có ý nghĩa là phương án làm
việc, phương án quản lý có kế hoạch. Do vậy Nhà nước XHCN cần dùng công cụ ké
hoạch hoá để điều tiết nền kinh tế.
Nhà nước sử dụng công cụ kế hoạch hoá tập trong việc hoạch địng các trương
trình phát triển kinh tế xã hội. Mỗi trương trình là một cơ hội đầu tư mở rộng phát triển

Hệ thống thuế ở nước ta hiện nay chưa đồng bộ và chưa hợp lý. Hoàn thiện hệ
thống thuế phù hợp với cơ chế quản lý mới là công việc rất phức tạp. Trên cơ sở tổng
kết kinh nghiệm những năm qua với vận dụng kinh nghiệm của các nước phù hợp với
điều kiện của nước ta để cải cách hệ thống theo hướng phân định rõ chức năng và qua
đó làm rõ nội dung kinh tế của từng loại thuế. Đây là căn cứ để điều chỉnh mức thuế và
miễn giảm thuế khi cần thiết.
Yêu cầu của cải cách hệ thống thuế là thúc đẩy và kích thích phát triển sản xuất
hàng hoá, mở rộng lưu thông hàng hoá, nhất là các sản phẩm thuộc trọng tâm của
chiến lược và kế hoạch và điều tiết các bất hợp lý trong sản xuất và tiêu dùng. Bảo
đảm nguồn thu hợp lý vào ngân sách Nhà nước; đảm bảo công bằng xã hội đối với các
tầng lớp nhân dân, giải quyết đúng đắn quan hệ lợi ích Nhà nước; đơn giản, thuận tiện
cho việc thực hiện để kiểm tra và chống thất thu. Thực trạng thu thuế ở nước ta hiện
nay vẫn còn bị thất thoát nhiều do chưa tự giác và luật pháp Nhà nước về thuế còn
lỏng lẻo.
c. Chính sách tài chính và tín dụng.
Hiện nay nền kinh tế nước ta gặp phải nhiều khó khăn. Việc ổn định nền kinh tế
đòi hỏi phải có chính sách vĩ mô và sự phối hợp giữa các chính sách như: chính sách
tiền tệ, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại.
Chính sách tài chính tín dụngthể hiện ở hai nội dung thu và chi của Chính phủ
từ đó tác động vào tổng cung, sản lượng, giá và việc làm.
Chính sách tài chính có hai loại: chính sách tài chính mở rộng và chính sách tài
chính thắt chặt.
Chính sách tài chính mở rộng để áp dụng để giảm hoặc thoát khỏi suy thoái
kinh tế thông qua con đường tăng chi tiêu của Chính phủ như đẩy mạnh sản xuất hàng
hoá công cộng, tăng đơn đặt hàng mua và các khoản chi khác. Như vậy làm tăng cầu
và kích thích tổng cung tăng lên. Vì vậy giải quyết được vấn đề suy thoái và thất
nghiệp.

Tóm lại, khi và chỉ khi nào Nhà nước nắm lấy và sử dụng có hiệu quả các công
cụ kế hoạch hoá, thuế, chính sách tài chính tín dụng, chính sách trợ giá và dự trữ quốc
gia, thì mới có thể hi vọng thực hiện được mục tiêu xã hội chủ nghĩa của mình.
2. Các biện pháp đổi mới và tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước.
Cho đến nay mọi người đều phải thừa nhận rằng: chuyển sang nền kinh tế thị
trường là con đường duy nhất để nâng cao hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên sự can thiệp
trực tiếp của Nhà nước vào quản lý kinh tế không sửa chữa được những khuyết tật của
thị trường mà lại làm cho nền kinh tế suy sụp nghiêm trọng. Bởi vậy với mục đích
khắc phục nhược điểm của thị trường khiến nó trở thành hoàn hảo thì Nhà nước phải
đưa ra các biện pháp cụ thể để có thể phát huy được ưu điểm của thị trường. Tất nhiên
các biện pháp này chỉ ở mức độ vĩ mô, không can thiệp trực tiếp vào hoạt động của bất
kỳ doanh nghiệp nào. Phát triển quan điểm kinh tế của Đại hội VI: “phát triển kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần là một chủ trương chiến lược lâu dài của thời kỳ quá độc
tiến lên CNXH” ta đã đạt được một số thành tựu tuy nhiên vẫn còn ở mức hạn chế. Do
đó với tình hình hiện nay để nền kinh tế có thể phát triển mạnh mẽ hơn nữa và nâng
cao vai trò quản lý của Nhà nước, ta cần áp dụng các biện pháp sau:
Một là: Xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước và chức năng quản lý hành chính,
kinh tế và các đơn vị kinh tế đóng vai trò là các chủ thể kinh tế có tư cách pháp nhân
trong hoạt động kinh tế và có chức năng quản lý sản xuất kinh doanh. Thực chất của
mối quan hệ này là ràng buộc và chi phối lẫn nhau về quyền và nghĩa vụ giữa Nhà
nước với cá nhân, những đơn vị làm kinh tế. Mối quan hệ này là lợi ích của người lao
động, của doanh nghiệp, của Nhà nước, của xã hội do đó Nhà nước cần phải xác lập cơ
chế thị trường. Cơ chế đó phải có khả năng phối hợp với một cách tự giác với mức độ
ngaỳ càng tăng giữa người tiêu dùng và người sản xuất kinh doanh và dịch vụ thông
qua hệ thống giá cả thị trường là chính. Hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chỉ nên ở mức độ
tối thiểu. Đồng thời phải giảm mạnh các tầng lớp trung gian để tránh gây sức ì, sự trì
trệ trong sản xuất, sự lãng phí lớn về kinh tế làm cho nền kinh tế bị quan liêu hoá- kế
hoạch hoá chỉ giữ ở mức cần thiết, phù hợp với tư tưởng chủ đạo về thừa nhận thị
trường và cạnh tranh trên thị trường là một yếu tố khách quan.


nền kinh tế nói chung.
Hai là: Cần phải thúc đẩy quá trình hợp tác liên kết giữa các doanh nghiệp
trước hết là các doanh nghiệp sản xuất và xuất nhập khâủ. Hợp tác doanh nghiệp trong
nước tạo thành một khối thống nhất để khi hợp tác với nước ngoài tránh bị ép giá
Ba là: Xây dựng một khuôn khổ pháp luật đồng bộ và ổn định sẽ tạo hành lang
cho phép doanh nghiệp tiến hành cạnh tranh một cách làng mạnh tránh tình trạng buôn
lậu, chốn thuế, làm hàng giả, hàng quán bừa bãi bung ra gây ô nhiễm làm mất mỹ quan
và ách tắc giao thông. Có thể nói nguyên nhân chính của tình trạng cạnh tranh lộn xộn
trên thị trường do luật pháp chưa đẩy đủ và ổn định nên chưa đáp ứng được yêu cầu
của thị trường.
Bốn là: Để khắc phục tình trạng cho vay nặng lãi ở nông thôn, Nhà nước nên
có chính sách tổ chức hệ thống ngân hàng mở rộng diện cho vay đến hộ gia đình, đặc
biệt là nông dân nghèo
Năm là: phát triển các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại : đài phát thanh,
vô tuyến truyền hình nên có kênh riêng về công tác thông tin, quảng cáo cho các
doanh nghiệp. Mặt khác để tạo điều kiện mở rộng cho việc giao lưu kinh tế điều hoà
lưu thông trên thị trường được tốt, giao thông vận tải phát triển. Vì thế Nhà nước cần
đầu tư xây dựng cầu cống, đường xá, thu hồi vốn đầu tư nước ngoài. Khuyến khích
doanh nhân thâm nhập sâu vào vùng nông thôn, miền núi vùng biển Điều quan trọng
cuối cùng là để đạt được tất cả những điều trên phải có một nền tảng kiến thức, một xã
hội lành mạnh. Muốn như vậy, Nhà nước phải đầu tư vào giáo dục, vào y tế bằng cách
khuyến khích các sinh viên vào những ngành như kinh tế, sư phạm, y học giảm học
phí với những người nghèo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status