LUẬN VĂN:
Bản chất và vai trò của lợi nhuận
trong nền kinh tế thị trường
Lời mở đầu
Lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cao nhất, là điều kiện tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Với tư cách là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh cả về mặt
lượng và chất toàn bộ kết quả và hiệu quả của quá trình sản xuất, kinh doanh, lợi
nhuận là vấn đề được đặt lên hàng đầu đối với các doanh nghiệp trước khi họ đưa ra
các quyết định sản xuất-kinh doanh. Doanh nghiệp là người sản xuất, cung cấp các
hàng hoá và dịch vụ cho thị trường, họ phải bỏ vốn ra để tiến hành sản xuất – kinh
doanh. Họ đều mong muốn chi phí cho các đầu vào thật thấp và bán được các hàng
sao cho hợp lý để cho việc phát triển kinh tế phải đi đôi với việc ổn định và thực
hiện công bằng xã hội.
Phần nội dung
I. Nguồn gốc và bản chất lợi nhuận
1. Quan điểm lợi nhuận của các trường phái trước và sau Mark
Phạm trù lợi nhuận đã xuất hiện từ lâu và được hầu hết các nhà kinh tế học
quan tâm nghiên cứu. Trong số họ, có nhiều người ủng hộ sự có mặt của lợi nhuận
như là một tất yếu, coi lợi nhuận là tốt đẹp ; nhưng cũng có nhiều người không thừa
nhận lợi nhuận, coi nó là xấu xa, là nguyên nhân của những tệ nạn xã hội. Trong
lịch sử, chỉ có Karl Mark là người thành công nhất trong nghiên cứu về phạm trù lợi
nhuận. Trước Mark, các nhà kinh tế học mới chỉ dừng lại ở chỗ lý thuyết về tiến
công chứ chưa đưa ra được những luận chứng về nguồn gốc và bản chất của lợi
nhuận.
Những nhà trọng thương, trên quan điểm đánh giá cao vai trò của tiền tệ và
thương nghiệp, cho rằng lợi nhuận là do lĩnh vực lưu thông tạo ra, nó là kết quả của
việc bán nhiều mua ít, mua rẻ bán đắt mà có.
Các nhà trọng nông ở Pháp, tiêu biểu là A.R.J.Turgot, trên cơ sở lý thuyết
sản phẩm thuần tuý đã đưa ra lý thuyết tiền lương và lợi nhuận. Theo Turgot, tiền
lương của công nhân là thu nhập theo lao động, còn sản phẩm thuần tuý là thu nhập
của nhà tư bản và được gọi là lợi nhuận. Lợi nhuận là thu nhập không lao động của
nhà tư bản do công nhân lao động tạo ra.
A.Smith(1723-1790), nhà kinh tế học người Anh nổi tiếng với lý thuyết
“Bàn tay vô hình”, dựa trên lý thuyết giá trị lao động đã cho rằng lợi nhuận là khoản
khấu trừ thứ hai vào sản phẩm của người lao động ; Lợi nhuận và địa tô có chung
một nguồn gốc là lao động không được trả công của người lao động. Ông cũng đã
Họ cho rằng “lợi nhuận là tiền công trả cho năng lực điều hành và tổ chức sản xuất
của nhà tư bản, cho việc họ chịu mạo hiểm khi bỏ vốn ra đầu tư” (Marshall), hay
“lợi nhuận đó là kết quả của mọi sự cách tân”(J.Schompeter)
Như vậy, sau gần 200 năm ngày ra đời của khoa học kinh tế, các nhà kinh
tế học vẫn chưa thống nhất được với nhau về cách chứng minh nguồn gốc, bản chất
của lợi nhuận và sự chiếm hữu lợi nhuận. Tuy nhiên, những đóng góp của họ cho hệ
thống lý luận kinh tế cũng thật quý báu, đặc biệt là sự đóng góp của Karl Mark.
2.Lý luận lợi nhuận của Mark
Karl Mark (1818 - 1883) là một nhà tư tưởng vĩ đại của giai cấp vô sản thế
giới. Dựa trên lý luận giá trị thặng dư, Karl Mark là người đầu tiên đã nghiên cứu
một cách khoa học và phân tích sâu sắc về nguồn gốc, bản chất lợi nhuận cùng các
hình thức biểu hiện của lợi nhuận. Mark đã chỉ ra rằng lợi nhuận doanh nghiệp, địa
tô của địa chủ, lợi tức của nhà tư bản cho vay đều là các hình thức chuyển hoá
của bộ phận giá trị thặng dư do lao động của người công nhân tạo ra. Như vậy, để
tìm hiểu về nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận ta tìm hiểu nguồn gốc và bản chất
của giá trị thặng dư.
2.1.Nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư. Quá trình sản xuất giá trị
thặng dư.
a.Công thức chung của tư bản và mâu thuẫn của nó.
Ta đã biết, mọi tư bản lúc đầu đều được biểu hiện dưới hình thái một số tiền
nhất định. Nhưng bản thân tiền không phải là tư bản, tiền chỉ biến thành tư bản
trong những điều kiện nhất định, đó là khi tiền tệ ấy được sử dụng để bó lột sức lao
động của người khác.
Tiền với tư cách là tiền và tiền với tư cách là tư bản lúc đầu chỉ khác nhau
về hình thức lưu thông. Nếu tiền được dùng để mua bán hàng hoá thì nó là phương
tiện giản đơn của lưu thông hàng hoá và vận động theo công thức Hàng-Tiền-Hàng
giá trị là không có giới hạn. Công thức T-H-T ’ được gọi là công thức chung của tư
bản, vì mọi tư bản đều biểu hiện trong lưu thông dưới dạng khái quát đó, cho dù là
tư bản công nghiệp, tư bản thương nghiệp, hay tư bản cho vay. Một vấn đề đặt ra ở
đây là sự xuất hiện của T; ta thấy rằng số tiền T bỏ vào lưu thông khi trở về tay
nhà tư bản lại tăng thêm một lượng là T. Tại sao lại như vậy ? Các nhà kinh tế
học tư sản cổ điển đều cho rằng đó là do bản chất của lưu thông tạo ra, lưu thông đã
làm tăng thêm giá trị, đã tạo ra giá trị thặng dư. Nhưng thực chất không phải như
vậy, ta hãy xem xét trong lĩnh vực lưu thông:
Nếu hàng hoá được trao đổi ngang giá thì chỉ diễn ra sự thay đổi hình thái
của giá trị, hai bên trao đổi chỉ được lợi về mặt giá trị sử dụng, còn tổng số giá trị
cũng như phần giá trị thuộc về mỗi bên trước, trong và sau khi trao đổi đều không
thay đổi gì.
Trong trường hợp trao đổi không ngang giá, nếu hàng hoá được bán cao hơn
giá trị thì cái mà người bán hàng được lợi khi là người bán cũng chính là cái anh ta
mất đi khi là người mua; còn khi hàng hoá được bán thấp hơn giá trị thì những gì
mà người mua hàng hoá được lợi với tư cách là người mua cũng chính là cái mà
người ấy sẽ mất khi là người bán.
Bây giờ,ta giả định có một lớp người chuyên mua được hàng hóa với
giá rẻ và bán được hàng hoá đó với giá đắt, thì điều này cũng chỉ giải thích được sự
làm giàu của các thương nhân cá biệt chứ không thể giải thích được sự làm giàu của
toàn bộ giai cấp các nhà tư bản. Giai cấp các nhà tư bản không thể tự làm giàu được
trên lưng của chính mình .
Như vậy, dù trao đổi ngang giá hay không ngang giá thì cũng không
tạo ra giá trị thặng dư . Lưu thông không tạo ra giá trị thặng dư . Nhưng nếu nhà tư
bản có tiền mà lại đứng ngoài lưu thông, không tiếp xúc gì với lưu thông thì cũng
không thể làm cho tiền của mình lới lên được .
Như vậy, quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá trình
sản xuất giá trị và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư.
“Sản xuất ra giá trị thặng dư chỉ là việc sản xuất ra giá trị kéo dài quá một
điểm nào đó. Nếu quá trình lao động chỉ kéo dài đến cái điểm mà ở đó giá trị sức
lao động do nhà tư bản trả tiền lại được thay thế bằng một vật ngang giá mới thì chỉ
có sản xuất giá trị giản đơn thôi. Khi quá trình lao động vượt quá điểm đó thì có sản
xuất giá trị thặng dư”
(1)
Nhà tư bản có thể tiến hành sản xuất giá trị thặng dư bằng hai cách: sản xuất
gia trị thăng dư tuyệt đối bằng cách kéo dài ngày lao động của người công nhân
trong kinh doanh thời gian lao động cần thiết không đổi, sản xuất giá trị thặng dư
tương đối, bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết trong điều kiện độ dài
ngày lao động không thay đổi.
2.2.Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa. Lợi nhuận.
Để sản xuất ra hàng hoá, xã hội phải hao phí một lượng lao động xã hội nhất
định. Chi phí thực tế để tạo thành giá trị của hàng hoá là : gt =c+v+m, trong đó c là
giá trị của tư liệu sản xuất, v+m là giá trị mới do lao động tạo ra. Đối với nhà tư
bản, ông ta không tính theo hao phí lao động xã hội, ông ta chỉ xét xem chi phí hết
bao nhiêu tư bản. Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa (k) được xác định bằng công
thức k=c+v khi đó giá trị của hàng hoá là :
gt =k+m
Sự hình thành phạm trù chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa đã che dấu thực
chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, nó làm cho người ta lầm tưởng rằng toàn bộ chi
phí sản xuất tư bản chủ nghĩa sinh ra giá trị thặng dư chứ không phải là lao động
của công nhân làm thuê.
m
P’= 100%
c + v
Tỷ suất lợi nhuận bình quân ( P’) : Là tỷ số tính theo phần trăm giữa tổng
giá trị thặng dư trong xã hội tư bản và tổng tư bản xã hội đã đầu tư vào tất cả các
lĩnh vực, các ngành của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
m
P’= 100%
( c + v )
Lợi nhuận bình quân ( P ): Là lợi nhuận mà một tư bản có một lượng nhất
định thu được căn cứ vào P’
P = P’ * k
Với k là toàn bộ tư bản ứng trước
Lợi nhuận thương nghiệp : Là một phần giá trị thặng dư được sáng tạo ra
trong lĩnh vực sản xuất mà nhà tư bản công nghiệp nhường cho nhà tư bản thương
nghiệp.
Lợi nhuận ngân hàng : Là khoản chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức
nhận gửi, sau khi cộng thêm các khoản thu nhập khác về kinh doanh tiền tệ và trừ đi
các khoản chi phí về nghiệp vụ ngân hàng.
Lợi nhuận ngân hàng ngang bằng với lợi nhuận bình quân.
Lợi tức : Là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay phải trả cho
nhà tư bản cho vay căn cứ vào số tiền mà nhà tư bản cho vay đã đưa cho nhà tư bản
đi vay sử dụng.
Lợi nhuận siêu ngạch : là phần lợi nhuận ngoài lợi nhuận bình quân mà nhà
tư bản nhập được nhờ chi phí sản xuất của anh ta thấp hơn chi phí sản xuất xã hội. thấp thì họ sẽ có thể cung cấp cho thị trường nhiều hàng hoá hơn với một mức giá
thấp hơn, khi đó sẽ kích thích người tiêu dùng mua nhiều hàng hoá hơn vì mức giá
thấp hơn; và nhờ đó doanh nghiệp có thể nâng cáo được doanh thu và lợi nhuận của
mình. Để giảm chi phí sản xuất, doanh nghiệp có thể tiến hành nhiều biện pháp
khác nhau. Doanh nghiệp sẽ nghiên cứu để sử dụng các đầu vào của mình một cách
tối ưu nhất, tiết kiệm nguyên vật liệu, nâng cao năng suất lao động của công nhân
Đồng thời doanh nghiệp sẽ phải cải tiến công nghệ, đầu tư để mua sắm các loại máy
móc thiết bị tiên tiến và phù hợp, đổi mới tổ chức sản xuất, đổi mới cách quản lý để
nâng cao năng suất lao động . Nhờ việc có được công nghệ tiên tiến và phù hợp
doanh nghiệp có điều kiện để có thể thu nhập thêm cho mình một khoản lợi nhuận
siêu ngạch là nhân tố kích thích đầu tư đổi mới công nghệ, từ đó sẽ thúc đẩy ra đời
nhiều công nghệ mới, thúc đẩy phát triển khoa học – kỹ thuật.
Lợi nhuận buộc người sản xuất phải từ bỏ những lĩnh vực mà người tiêu
dùng ít quan tâm và không có nhu cầu, đồng thời hướng vào những lĩnh vực được
sự quan tâm của người tiêu dùng. Có như vậy, doanh nghiệp mới có thể bán được
những hàng hoá do mình sản xuất ra. Nhu cầu của khách hàng rất đa dạng và hay
thay đổi theo thời gian, vì vậy doanh nghiệp phải biết sản xuất những mặt hàng phù
hợp với sở thích, thị hiếu của người tiêu dùng và đưa ra đúng lúc thị trường đang có
nhu cầu. Và đương nhiên với những mức giá cả và chất lượng thích hợp thì các sản
phẩm của doanh nghiệp sẽ được thị trường chấp nhận.
Lợi nhuận còn là nhân tố kích thích đầu tư , chuyển giao công nghệ. Căn cứ
vào các mức tỷ suất lợi nhuận khác nhau của các dự án đầu tư vào những lĩnh vực
có tỷ suất lợi nhuận cao để đem lại cho mình nhiều lợi nhuận nhất; Về phía các nhà
sản xuất, họ cũng sẵn sàng nhập những công nghệ có thể đem lại cho họ năng suất
lao động cao hơn.
Trên đây là một số những tác động tích cực của lợi nhuận đối với nền kinh
tế thị trường. Xét trên khía cạnh xã hội, với những tác động tích cực này, lợi nhuận
các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh, sử dụng lãng phí nguồn tài nguyên đất
nước, gây ô nhiễm môi trường quá nhiều lần mức chỉ tiêu cho phép. Những hậu quả
gây ra đó, không ai khác mà chính doanh nghiệp và toàn xã hội sẽ phải gánh chịu cả
trong hiện tại và tương lại. Điều này tất yếu dẫn đến yêu cầu là nhà nước cần phải
có những biện pháp quản lý có hiệu quả hơn để giảm thiểu và tránh những hậu quả
bất lợi cho xã hội Kết luận
Trong cuộc sống, mỗi một vấn đề khi được đặt ra nghiên cứu và làm sáng tỏ
không chỉ giúp ta thấy được nguồn gốc, bản chất của vấn đề đó, mà nó còn cho ta
có được cách nhìn nhận mới về vấn đề ta nghiên cứu ; đồng thời giúp ta có được sự
vận dụng hợp lý vấn đề đó vào cuộc sống. Đối với phạm trù lợi nhuận cũng vậy.
Qua nghiên cứu về lợi nhuận ta đã thấy được nguồn gốc của nó là bộ phận giá trị
thặng dư do lao động không được trả công của người công nhân làm ra ; thấy được
bản chất của nó là sự bóc lột sức lao động của những người làm thuê ; và đồng thời
ta cũng thấy được vai trò rất tích cực của nó là động lực vận động cơ bản của nền
kinh tế thị trường.
Việt Nam ta hiện nay đang trong công cuộc xây dựng cơ sở vật chất của chủ
nghĩa xã hội, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế
thị trường. Vì vậy, ta không thể không nhận thức rõ được những tác động tích cực
cũng như những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, những tác động tiêu cực
của vấn đề lợi nhuận. Trên cơ sở trình độ và hiểu biết của mình, chúng ta phải hạn
chế tối đa những tác động tiêu cực, phát huy những mặt tích cực để cho nền kinh tế
phát triển lành mạnh, giải quyết tốt những vấn đề xã hội, phấn đấu thực hiện những
Muc lục
Lời mở đầu
Phần nội dung
I.Nguồn gốc và bản chất lợi nhuận
1.Quan điểm lợi nhuận của các trường phái khác Mark
2.Lý luận lợi nhuận của Mark
2.1 Nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư.
Quá trình sản xuất giá trị thặng dư
2.2 Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa. Lợi nhuận
2.3 Các hình thức biểu hiện của lợi nhuận
II.Vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường
1- Khái lược về nền kinh tế thị trường
2- Vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường
Kết luận