nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận và vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường - Pdf 66

De an kinh te chinh tri thanh huyen
Cộng hoà x hội chủ nghĩa việt nam. ã
độc lập - tự do - hạnh phúc
đại học kinh tế quốc dân
đề án:
môn học kinh tế chính trị học.
đề tài :
nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận và vai trò của lợi nhuận trong nền
kinh tế thị trờng. Ngời thực hiện : đặng thị thanh huyền.
Lớp : qtkd cn 44b

Giáo viên hớng dẫn:
ts: đặng văn thắng
1
De an kinh te chinh tri thanh huyen
Phần 1: mở đầu
Mac đã cống hiến cả cuộc đời của mình vào một xã hội tốt đẹp, một xã hội
công bằng văn minh đó chính là CNXH. Ông đã để lại cho nhân loại rất nhiều tác
phẩm. Hai phát kiến vĩ đại nhất của Mac làhọc thuyết giá trị thặng d và chủ nghĩa
duy vật lịch sử. Hai phát kiến này đã làm thay đổi nhận thức của toàn nhân loại.
Với hai phát kiến này, Mac đã biến chủ nghĩa xã hội không tởng thành CNXH
khoa học. Cho tới nay gần hai thế kỷ đã trải qua nhng hai phát kiến vĩ đại này vẫn
giữ nguyên giá trị của nó.
Đối với nớc ta đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH thì vấn đề nhận thức và
vận dụng các học thuyết của Mac - Đặc biệt là học thuyết GTTD, để làm kim chỉ
nam cho các hoạt động để đi đến đích cuối cùng là một vấn đề cực kỳ quan trọng.
Xuất phát từ nhận thức trên với nền kinh tế nớc ta đang chuyển từ nền kinh tế tập
trung bao cấp sang nền kinh tế thị trờng thì không ai khác, không quốc gia nào

I.1.1. t t ởng kinh tế thời cổ đại về nguồn gốc, bản chất
Của lợi nhuận
Thời kỳ cổ đại bắt đầu từ khi chế độ công xã nguyên thuỷ tan rã chế độ
chiếm hữu nô lệ ra đời. Thời kỳ này tồn tại và phát triển đến khi chế độ chiếm hữu
nô lệ bị tan rã, xuất hiện chế độ phong kiến. Về thời gian, thời kỳ cổ đại ở phơng
Đông xuất hiện vào những năm 4000 trớc công nguyên, còn ở phơng Tây xuất
hiện chậm hơn, vào những năm 3000 trớc công nguyên và kết thúc vào khoảng thế
kỷ thứ 5.
Do sự phát triển của lực lợng sản xuất nên chăn nuôi tách khỏi ngành trồng
trọt, thủ công nghiệp tách khỏi nghề nông, việc buôn bán sản phẩm giữa các vùng
phát triển. Vì thế các t tởng kinh tế cổ đại đánh giá cao vai trò của ngành nông
nghiệp và kinh té tự nhiên, chống lại xu thế phát triển của kinh tế hàng hoá, coi th-
ờng vai trò cuả thủ công nghiệp và thơng nghiệp. Các t tởng kinh tế cổ đại còn rất
sơ khai. Mặc dù trong t tởng kinh tế của họ có một số phạm trù nh phân công lao
động, lợi nhuận,... song những phạm trù này còn đơn giản, mang tính chất ớc lợng
chứ không biết tính quy luật và các quy luật chi phối chúng.
I.1.2./ t t ởng kinh tế thời trung cổ về nguồn gốc, bản chất
của lợi nhuận.
Thời đại Trung cổ bắt đầu từ cuối thế kỷ thứ 4, đầu thế kỷ thứ 5, tồn tại đến
cuối thế kỷ 15. đây là thời kỳ chế độ chiếm hữu mô lệ bị tan rã, xuất hiện và phát
triển xã hội phong kiến.
Với sự xuất hiện của sở hữu phong kiến, ruộng đất chủ yếu tập trung vào
tay quan lại, đại địa cũ. Những ngòi nông dân tự do và thợ thủ công có trong tay
rất ít ruộng đất và t liệu sản xuất. Trong thời cổ đại có t tởng kinh tế của
ThomasdAquin (1225-1274) . trong các t tởng kinh tế của mình, ban đầu ông bảo
vệ kinh tế tự nhiên, chống lại hoạt động thơng mại và cho vay nặng lãi. theo ông,
kinh tế tự nhiên là cơ sở tồn tại của xã hội. Nông nghiệp phù hợp với lòng từ thiện
về giới tự nhiên do Thợng đế tạo ra tham gia vào nông nghiệp. Song do sự phát
triển kinh tế hàng hoá là tất yếu, hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lợi ngày
càng rộng rãi làm cho ông phải thay đổi cách nhìn nhận kinh tế của mình. Trong

xuất siêu (xuất nhiều, nhập ít) điều này đợc thể hiện qua câu nói của Montchritan:
"Nội thơng là ống dẫn, ngoại thơng là máy bơm, muốn tăng của cải phải có ngoại
thơng nhập dần của cải qua nội thơng".
Nh vậy quan điểm về lợi nhuận của chủ nghĩa trọng thơng cha lý giải đợc
nguồn gốc của lợi nhuận. Khi phê phán chủ nghĩa trọng thơng (trong bộ t bản
quyển I, tập 1) Mác đã viết: "Ngời ta trao đổi hàng hoá với hàng hoá, hàng hoá vớ
tiền tệ có cùng giá trị với hàng hoá đó, tức là trao đổi giữa các vật ngang giá, rõ
ràng là không ai rút ra đợc từ trong lu thông nhiều giá trị hơn số giá trị đã bỏ vào
trong đó. Vậy giá trị thặng d tuyệt nhiên không thể hình thành ra đợc".
+/ Quan điểm về lợi nhuận của chủ nghĩa trọng nông.
Cũng nh chủ nghĩa trọng thơng, chủ nghĩa trọng nông ra đời trong thời kỳ
quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ t bản chủ nghĩa (TBCN) nhng ở giai
đoạn kinh tế phát triển hơn. Những ngời theo chủ nghĩa trọng nông cho rằng lợi
nhuận thơng nghiệp có đợc chẳng qua là nhờ các khoản tiết kiệm chi phí thơng
mại, họ cho rằng thơng mại chỉ đơn thuần là trao đổi ngang giá trị này lấy giá trị
4
De an kinh te chinh tri thanh huyen
khác vì vậy mà không bên nào có lợi. Thơng nghiệp không sinh ra của cải, trao đổi
không làm cho tài sản tăng lên vì tài sản đợc tạo ra trong quá trình sản xuất còn
trong trao đổi chỉ đơn thuần là trao đổi giá trị mà thôi. Vì vâỵ chủ nghĩa trọng
nông cho rằng giá trị thặng d hay sản phẩm thuần tuý là quà tặng vật chất của
thiên nhiên và nông nghiệp là ngành duy nhất tạo ra sản phẩm thuần tuý. Nh vậy
chủ nghĩa trọng nông đã chỉ ra đợc là trao đổi không sinh ra của cải.
I.2./ Kinh tế chính trị học t sản cổ điển Anh.
Do sự phát triển của sản xuất và tính chuyên môn hoá ngày càng cao thì quan
điểm về lợi nhuận của chủ nghĩa trọng thơng và chủ nghĩa trong nông ngày càng
tỏ rõ tính chất khiến nó không đáp ứng đợc những yêu cầu mới đặt ra. Do đó đòi
hỏi phải có những học thuyết mới phù hợp hơn vì vậy kinh tế chính trị học t sản cổ
điển anh ra đời.
Một số đại biểu của kinh tế chính trị học t sản cổ điển Anh :

rằng lợi nhuận trung bình của số tiền bốn phải biến động cùng lãi suất, phải giảm
khi lãi xuất giảm , phải tăng khi lãi suất tăng. Sự diễn biến của lãi suất có thể giúp
chúng ta hình dung một phần nào về sự diễn biến của lợi nhuận.
Lãi suất pháp định ở Pháp không phải luôn luôn do lãi suất thị trờng điều
chỉnh trong suốt thế kỷ hiện nay. Năm 1720, tiền lãi đẫ giảm từ 5% xuống 2%.
Năm 1725, nó lại đợc nâng lên 5 phần trăm. năm1726, trong thời cai trị của
Laverdy, tiền lãi giảm xuống ở mức 4%. Sau đó, AbbeTerray nâng tiền lãi lên mức
cũ trớc đó là 5%. Những lần giảm lãi suất là nhằm nục đích giảm lãi suất của công
trái. Mục đích này đôi khi đợc thec hiện. Vào thời kỳ hiện nay, nớc pháp không
giàu bằng Anh, và mặc dù lãi suất pháp định ở pháp thờng thấp hơn ở Anh, lãi suất
thị trờng nói chung lại cao hơn. Vì ở pháp, cũng nh ở các nớc khác, ngời ta có
nhiều phơng pháp rất an toàn và dễ dàng để trống việc thì hành luật pháp. Theo tỷ
lệ đất đai và số dân, Hà Lan là một nớc giảu có hơn Anh. Chính phủ nớc này chỉ
vay với lãi suất 2% và những t nhân có tín nhiệm vay với lãi suất 3%. Tiền công
lao động ở Hà Lan cao hơn ở Anh
Tỷ suất lợi nhuân trung bình thấp nhất cũng phải nhiều hơn là đủ đền bù
cho những mất mát, dù chỉ thỉnh thoảng mới có, mà tiền vốn phải gánh chịu. Chỉ
có số d đó mới đợc gọi là lợi nhuận ròng, lãi tịnh. Cái gọi là lợi nhuận gộp bao
gồm không những số d này mà còn cả số tiền cần phải giữ lại để đền bù cho những
mất mát vốn nữa. tiền lãi mà ngời vay có khả năng trả chỉ tỷ lệ với lãi tịnh mà thôi.
Lãi suất trung bình thấp nhất do đó, cũng giống nh đã nói ở trên, phải cao
hơn mức đủ để đền bù cho những mất mát thỉnh thoảng xảy ra đối với ngời cho
vay, dù cho ông ta thận trọng đến đâu chăng nữa. nếu lãi suất không cao hơn, thì
chỉ có lòng từ thiện vào tình bạn là động cơ cho vay mà thôi.
Tỷ suất lợi nhuận trung bình cao nhất (trong giá phần lớn các hàng hoá);
ngốn gần hết tiền thuê đất đai và chỉ để lại đủ để trả tiền công lao động để tiến
hành sản xuất và đem ra bán tại thị trờng theo mức thấp nhất mà lao động có thể
đợc trả công ở bất kỳ nơi nào , có nghĩa là chỉ đủ để nuôi sống họ.Tỷ lệ mà lãi suất
thị trờng bình thờng phải gánh chịu so với tỷ suất trung bình của lãi tịnh phải biến
động khi tiền lãi tăng hay giảm. ở Anh tiền lãi gấp đội đợc coi là cái mà nhà buôn

trong những năm cuộc cách mạng đó kết thúc, khi những hình thái kinh tế đã trở
nên rất rõ ràng và đã làm cho sự phân tích một cách sâu sắc hơn các quy luật của
chủ nghĩa t bản đợc dễ dàng hơn.
Ricacđô đã bảo về chủ nghĩa t bản, nhng không xuyên tạc và mị dân.
ông tin vào tính u việt của chủ nghĩa t bản đến nỗi ông không cần đến những thủ
đoạn đó. Phong trào công nhân còn cha trở thành một mối đe doạ đối với sự thống
trị của giai cấp t sản, những cuộc đấu tranh của phong trào NetLơi (những ngời
phá huỷ máy móc) vẫn không có kết quả. Rõ ràng giai cấp t sản Anh đang đi lên,
và Ricacđô đã có thể đánh giá một cách tỉnh táo các hiện tợng kinh tế.
Việc xác định lập trờng giai cấp của Ricácđo không có gì khó khăn cả. bản
thân ông là một nhà t bản, một ngời hoạt động ở Sở giao dịch và thuộc về giai cấp
t sản. thân sinh ông (Abraham Ricacđô) là một ngời đầu cơ chứng khoán, từ
Amxtecdam di c sang Anh vào quãng năm 1760. Bản thân Đavit Ricacđô (sinh
năm 1772) không có đợc một học vấn có hệ thống, nhng ông đã học qua hai năm ở
trờng thơng nghiệp tại Amxtecdam, nơi ông đợc gửi tới khi còn là một thiếu niên
12 tuổi. ông tự lập rất sớm ( từ 1793) và làm công việc đầu cơ hối phiếu theo châm
ngôn không đếm xỉa đến những sự thua lỗ và ném lãi của mình vào việc kinh
doanh. Qua bao nhiêu năm đầu cơ hối phiếu, ông đã nắm đợc những điều bí mật
nhất của thế giới t sản, mà trung tâm sinh sống là sở giao dịch. Điều đó đã giúp rất
nhiều cho Ricacđô trong việc phân tích nền kinh tế của chủ nghĩa t bản, nhất là
trong việc phân tích các quy luật của lu thông tiền tệ, của tín dụng.
Ricacđô đã chú ý rất nhiều đến vấn đề lợi nhuận, ông đã viết một chơng đặc
biệt trong cuốn những nguyên lý của khoa kinh tế chính trị để giải quyết vấn đề
đó. Ông đã đa ra luận điểm nói về sự tồn tai một tỷ suất lợi nhuận chung, và tuyên
bố rằng lợi nhuận của những t bản đầu t vào các ngành khác nhau có một tỷ lệ
nhất định so với nhau, và có khuynh hớng thay đổi theo một mức nh nhau và một
hớng nh nhau.
7
De an kinh te chinh tri thanh huyen
Ricacđô cho rằng lợi nhuận có khuynh hớng từ nhiên muốn giảm xuống,

huỷ những t bản cố định bằng sự tiêu vong của công nhân trong các ngành bị suy
sụp.
Về địa tô, ông cũng cho đó kết quả của sự cớp bóc công nhân. ông phê phán
quan điểm của D.Ricardo về ruộng đất xấu không đa lại địa tô. đó là một tiến bộ.
ông hiểu sâu sắc hơn về vai trò của độc quyền sở hữu ruộng đất và cho rằng ruộng
đất xấu cũng phải nộp tô. điều đó ch thấy ông có t tởng về địa tô tuyệt đối.
Về tiền công, ông đi theo quan điểm của A.Smith, coi tiền công phụ thuộc
vào tích luỹ từ bản, vào số lợng công nhân, cung cầu về lao động.
II.2. / các quan điểm kinh tế của Proudon(1809- 1865).
8
De an kinh te chinh tri thanh huyen
Proudon sinh ra ở Besanxon, xuất thân từ một gia đình nông dân. Sinh ra và
trởng thành trong một gia đình nghèo, đông con, ông phải vừa tự làm việc, vừa
nâng cao học vấn của mình.
Proudon không hiểu đợc bản chất của lợi nhuận công nghiệp. ông coi nó là
hình thái đặc biệt của tiền công.
ông coi sự tồn tại của lợi tức là cơ sở của sự bóc lột. Theo ông, các nhà t bản
đem lợi tức cộng thêm vào chi phí, điều đó làm cho công nhân không thể mua hết
sản phẩm. Do đó, nếu gạt bỏ lợi tức thì sẽ xoá bỏ đợc nạn bóc lột. Muốn xoá bỏ lợi
tức thì cần phải cho vay không lấy lãi. ông đề ra việc thành lập ngân hàng quốc gia
Pháp, ngân hàng nay sẽ cho công nhân và ngời sản xuất nhở vay, coi đó là biện
pháp lớn nhất. Đó là thực chất cuộc cải cách của ông. Với việc xoá bỏ tiền tệ và lợi
tức sẽ xoá bỏ đợc bóc lột, đảm bảo sự bình đẳng. Với quan điểm nh vậy, ông đợc
coi là đại biểu cho chủ nghĩa xã hội tiểu t sản.
II.3./ đánh giá của K.Marx và F.Engels đối với :Sismoudi
và Proudon.
+) đánh giá chung của K.marx và F. engls về Sismondi.
K.Marx đã xếp ông vào trờng phái kinh tế chính trị t sản cổ điển Pháp và
coi ông là ngời kết thúc đặc sắc kinh tế chính trị cổ điển Pháp, là nhờ công lao của
ông trong việc xem xét thực tế theo quan điểm khoa học.

sử dụng không phải là mục đích, bởi vì nhà t bản muốn sản xuất ra một giá trị sử
dụng mang giá trị trao đổi. Hơn nữa, nhà t bản muốn sản xuất ra mặt hàng hoá có
giá trị lớn hơn tổng số giá trị những t liệu sản xuất và giá trị sức lao động mà nhà
t bản đã mua để sản xuất ra hàng hoá đó, nghĩa là muốn sản xuất ra một giá trị
thặng d.
Chúng ta hãy xem xét ví dụ sau về sản xuất sợi.
T bản ứng trớc Giá trị của sản phẩm mới (20kgsợi)
- Tiền mua bông : 20$ - Giá trị của bông chuyển vào sợi 20$
- Hao mòn máy móc 4$ - Giá trị của máy móc chuyển vào sợi 4$
- Tiền mua sức lao động của công
nhân trong 1 ngày: 3$
- Giá trị do lao động của ngời công nhân
tạo ra trong 12 giờ :0,5 x 12 = 6$
27$ 30$
Nh vậy toàn bộ chính phủ của nhà t bản để mua t liệu sản xuất và sức lao
động là 27 đôla. Trong 12 h lao động, công nhân tạo ra 1 sản phẩm mới (20kg sợi)
có giá trị bằng 30đôla, lớn hơn giá trị ứng trớc là 3 đôla. Vậy 27 đôla ứng trớc đã
chuyển hoá thành 30 đôla, đã đem lại một giá trị thặng d là 3 đôla. Do đó tiền đã
biến thành t bản. Phần giá trị mới dôi ra so với giá trị sức lao động gọi là giá trị
thặng d.
III.2./ Chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa. Lợi nhuận và tỷ suất
Của lợi nhuận
III.2.1./ Chi phí sản xuất TBCN .
Nh mọi ngời đều biết, muốn tạo ra giá trị hàng hoá thì tất yếu phải chi phí
một số lao động nhất định là lao động quá khứ và lao động hiện đại.
Lao động quá khứ tức là giá trị t liệu sản xuất C
Lao động hiện tại là lao động tạo ra giá trị mới V + m
Đứng trên quan điểm xã hội thì chi phí thực tế để tạo ra giá trị hàng hoá là C
+ V + m. Trên thực tế, nhà t bản chỉ ứng ra một số t bản để mua t liệu sản xuất (C)
và mua sức lao động (V). Do đó, nhà t bản chỉ xem hao phí bao nhiêu t bản chứ

III.3.1./ Cạnh tranh trong nội bộ ngành.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong cùng
một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá nhằm mục đích tiêu thụ hàng hoá
đó có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch.
Biện pháp cạnh tranh: Các nhà t bản thờng xuyên cải tiến kỹ thuật, nâng cao
cấu tạo hữu cơ của t bản, nâng cao năng suất lao động nhằm làm cho giá trị cá biệt
của hàng hoá xí nghiệp sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội để thu đợc lợi nhuận
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status