Nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận và vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Trong giai đoạn phát triển hiện nay, Việt Nam vẫn đang đứng trớc nguy
cơ tụt hậu về kinh tế so với các nớc trong khu vực cũng nh trên Thế giới. Vì cơ
chế sản xuất tập trung bao cấp trớc đây chúng ta cha thực sự coi lợi nhuận với t
cách là hình thức thu nhập đối với ngời sản xuất kinh doanh. Mà sản xuất chỉ để
phục vụ Nhân dân chứ không vì mục đích lợi nhuận. Cơ chế hình thành và phân
phối lợi nhuận không đợc tiến hành trên cơ sở căn cứ khoa học và khách quan.
Điều đó gây ra sự bất bình đẳng giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh, hay nói
đúng hơn là bất bình đẳng của ngời lao động, làm mất đi động lực thúc đẩy của
đòn bẩy lợi nhuận. Tạo ra một t tởng ỷ lại ngày càng lớn của các doanh nghiệp,
mất đi tính chủ động sáng tạo của các đơn vị sản xuất kinh doanh... làm cho nền
kinh tế chậm phát triển. Ngày nay trong thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội
chúng ta đang vận hành theo cơ chế, nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết vĩ mô
của Nhà nớc thì lợi nhuận chính là quan tòa công minh nhất để đánh giá sự tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp trên thị trờng. Nếu doanh nghiệp làm ăn thua
lỗ doanh nghiệp đó sẽ loại khỏi thị trờng, ngợc lại doanh nghiệp sẽ tiếp tục phát
triển ngày càng lớn mạnh. Nh vậy lợi nhuận chính là sự sống còn của doanh
nghiệp, là động lực phát triển của doanh nghiệp cũng nh phát triển kinh tế đất n-
ớc.
Vì đây là lần đầu tiên em viết về một bản đề án có tính quan trọng nh
vậy, nên trong đề án không tránh khỏi những thiếu sót khuyết điểm. Em rất
mong nhận đợc sự đánh giá phê bình của các thầy giáo bộ môn, đồng thời em
xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS Nguyễn An Ninh đã hớng dẫn và chỉ bảo
tận tình. Cũng nh đã cung cấp cho em phần lớn kiến thức, phơng pháp luận và
những tài liệu tham khảo cần thiết để hoàn thành bản đề án này một cách tốt
nhất. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phần I
Nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận

tiền lơng và lợi nhuận: tiền lơng tăng thì lợi nhuận tăng tức là giữa công nhân và
t sản có mâu thuẫn về lợi ích. Nhng hạn chế của Ricardo là không phân biệt đợc
lợi nhuận và giá trị thặng d.
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
II. Học thuyết giá trị thăng d:
1. Sự tạo ra giá trị thăng d:
Trong nền sản xuất hàng hóa dựa trên chế độ t hữu về t liệu sản xuất, giá
trị sử dụng không phải là mục đích của nhà T bản. Mà giá trị sử dụng đợc sản
xuất chỉ vì nó là vật mang giá trị trao đổi. Nhà T bản muốn sản xuất ra một giá
trị sử dụng có một giá trị trao đổi, nghĩa là hàng hóa. Hơn nữa nhà t bản muốn
sản xuất ra một hàng hóa có giá trị lớn hơn tổng giá trị những t liệu sản xuất và
giá trị sức lao động mà t bản bỏ tiền ra để mua, nghĩa là muốn sản xuất để tạo ra
giá trị thăng d.
Chi phí t bản chủ nghĩa để sản xuất, gồm có hai phần đó là: chi phí về t
bản bất biến và t bản khả biến, tức là chi phí về t liệu sản xuất và tiền lơng công
nghiệp. Đối với t bản hàng hóa đáng giá bao nhiêu là tính theo t bản đã t phí.
Đối với xã hội hàng hóa đáng giá bao nhiêu là tính theo lao động đã hao phí.
Bởi vậy những chi phí để sản xuất ra hàng hóa thấp hơn giá trị của hàng hóa ấy,
tức là thấp hơn những chi phí sản xuất trong thực tế. Chỗ chênh lệch giữa chi
phí sản xuất thực tế và chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa là giá trị thăng d mà nhà
t bản chiếm không. Để hiểu rõ hơn quá trinh này, ta nghiên cứu bài toán sau
đây:
Giả định để sản xuất 10 kg sợi cần 10 kg bông, giá trị 10 kg bông là
10000đ. Để biến số bông đó thành sợi, một công nhân phải lao động trong 6 giờ
và hao mòn máy móc là 2000đ. Giá trị sức lao động trong một ngày của công
nhân là 6000đ, trong một giờ lao động công nhân tạo ra một giá trị là 1000đ,
cuối cùng ta giả định rằng: Trong quá trình sản xuất toàn bộ bông biến thành
sợi. Vậy nếu ngời công nhân làm việc trong 6 giờ thì không tạo ra giá trị thặng
d. Tuy nhiên sức lao động mà t bản phải trả khi mua và giá trị sức lao động có

nhà xởng, giá trị của nhiên liệu, nhiên liệu ... ). Hai là giá trị của t bản khả biến
(v). Ba là giá trị thặng d (m): lợng giá trị của hàng hóa là do số lợng lao động xã
hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa quyết định. Nhng nhà t bản không hao phí
lao động của bản thân vào sản xuất hàng hóa, mà chỉ bỏ t bản vào đấy mà thôi.
Chi phí t bản chủ nghĩa để sản xuất hàng hóa, gồm có những chi phí về t
bản bất biến và t bản khả biến (c+v), tức là chi phí về t liệu sản xuất và tiền lơng
công nhân. Đối với nhà t bản, hàng hóa đáng giá bao nhiêu là tính theo t bản đã
chi phí. Đối với xã hội, hàng hóa đáng giá bao nhiêu là tính theo lao động đã
hao phí. Bởi vậy những chi phí t bản chủ nghĩa để sản xuất hàng hóa, thấp hơn
giá trị thực tế (c+v+m) mà ngời công nhân đã tạo ra trong qua trình sản xuất.
Chỗ chênh lệch giữa giá trị hay chi phí sản xuất thực tế và chi phí sản xuất t bản
chủ nghĩa, là giá trị thặng d (m) mà nhà t bản chiếm không.
Khi nhà t bản bán hàng hóa do xí nghiệp của mình sản xuất ra, thì giá trị
thặng d biểu hiện thành một số thừa ngoài chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa. Khi
xác định mức thu nhập của xí nghiệp, nhà t bản so sánh số thừa đó với t bản đã
ứng trớc tức là tổng t bản đã bỏ vào sản xuất. Giá trị thặng d khi so sánh với
tổng t bản thì biểu hiện thành hình thức lợi nhuận. Vì giá trị thặng d đem so
sánh không phải với mình t bản khả biến mà với toàn bộ t bản cho nên chỗ khác
nhau giữa t bản bất biến dùng vào việc mua t liệu sản xuất và t bản khả biến
dùng vào việc mua sức lao động bị xóa mờ đi. Do đó mà sinh ra cái vỏ bề ngoài
giả dối khiến cho ngời ta tởng nhầm rằng: lợi nhuận do t bản tạo ra. Nhng sự
thật nguồn gốc của lợi nhuận chính là giá trị thặng d và giá trị thặng d chỉ là do
lao động của công nhân sáng tạo trong quá trình sử dụng sức lao động, mà giá
trị của nó biểu hiện ở t bản khả biến. Lợi nhuận là giá trị thặng d so sánh với số
t bản đã bỏ vào sản xuất, nhìn bề ngoài giá trị thặng d có vẻ nh là kết quả của số
t bản ấy. Vì vậy Mac gọi lợi nhuận là hình thức biến tớng của giá trị thặng d. Và
nh vậy hình thức lợi nhuận đã che dấu quan hệ bóc lột bằng cách tạo ra quan
niệm sai lầm: lợi nhuận là do chính bản thân t bản tạo ra. Chính các hình thức
của quan hệ sản xuất t bản đã làm lu mờ và che dấu thực chất bóc lột của nhà t
bản.

ứng trớc (P=m/k), với k = c + v
Ví dụ: Nếu t bản ứng truớc là 20000 dollar, nếu lợi nhuận hàng năm là 40000
dollar, thì tỷ suất lợi nhuận là: 40000/20000.100%= 200%.
Sự chuyển hóa giá trị thặng d thành lợi nhuận đợc hoàn thành ở sự
chuyển hóa tỷ suất giá trị thặng d thành tỷ suất lợi nhuận. Sự chuyển hóa giá trị
thặng d thành lợi nhuận đã nằm trong việc chia giá trị của hàng hóa thành chi
phí sản xuất kinh tế tăng thêm ngoài chi phí sản xuất, nhng sự chuyển hóa đó đ-
ợc thực hiện một cách độc lập và đặc thù trong tỷ suất lợi nhuận. Tỷ suất lợi
nhuận biểu hiện tỷ số giữa số tăng thêm nói trên với toàn bộ t bản. Do đó, nó
củng cố ấn tợng cho rằng lợi nhuận là con đẻ của Chủ nghĩa T bản.
Dới chế độ T bản chủ nghĩa, mức bóc lột lao động của ngời khác mang
hình thức mức tăng giá trị biểu hiện ở tỷ suất giá trị thặng d, nh vậy sẽ không
tránh khỏi việc phải chuyển tỷ suất giá trị thặng d thành tỷ suất lợi nhuận bởi vì
cả bản thân giá trị lẫn mức tăng giá trị đều chỉ có thể hiện trong lu thông. Nhng
trong lu thông còn có sự khác nhau giữa t bản khả biến và t bản bất biến, giá trị
của hàng hóa chia ra thành chi phí sản xuất và số tăng thêm ngoài chi phí sản
xuất. Do đó trong biểu thức về mức độ tỷ số giữa giá trị thặng d với t bản khả
biến (m/v+c), đã chứa đậy sự chuyển hóa tỷ số ấy thành tỷ số giữa giá trị thặng
d với tổng t bản (m/c+v) hay (m/k), trên thực tế các nhà t bản không chỉ quan
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tâm đến lợi nhuận mà còn quan tâm nhiều hơn đến tỷ suât lợi nhuận. Bởi vì tỷ
suất lợi nhuận cho biết nhà t bản đầu t vào đâu thì có lợi. Đối với nhà t bản nếu
P= 100% thì đầu t đợc ở khắp nơi, nếu p= 200% thì sẽ bất chấp cả pháp luật
và nếu p= 300% thì treo cổ nhà t bản vẫn cứ làm.
Do đó, tỷ suất lợi nhuận không chỉ là mục tiêu theo đuổi mà còn là động
lực chính, là yếu tố để cạnh tranh, là sự thèm khát vô hạn của các nhà t bản.
Trên thực tế thì tỷ suát lợi nhuận cao hay thấp tùy thuộc vào nhiều nhân tố
khách quan nh tỷ suất giá thặng d, tiết kịệm t bản bất biến, tốc độ chu chuyển....
bởi thế, các nhà t bản đầu t ở Việt Nam đang tập trung vào những ngành có tỷ

Nếu hàng hóa bán ra theo giá trị của nó thì tỷ suất lợi nhuận trong ngành
da là 30%, trong ngành dệt là 20%, trong ngành chế tạo máy móc là 10%. Phân
phối nh thế sẽ rất có lợi đối với các nhà t bản ngành da nhng không có lợi đối
với những nhà t bản thuộc ngành chế tạo máy móc. Khi ấy các chủ xí nghiệp
ngành chế tạo máy móc sẽ đi tìm nơi đầu t có lợi hơn và họ thấy ngành da là nơi
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
có lợi hơn cả. Thế là họ chuyển t bản từ ngành chế tạo máy móc sang ngành da.
Kết quả là số lợng hàn hóa sản xuất trong ngành da sẽ tăng lên, sự cạnh tranh
tất nhiên sẽ sâu sắc thêm và bắt buộc các chủ xí nghiệp của ngành này phải
giảm giá của hàng hóa của họ xuống, điều đó có nghĩa là làm giảm tỷ xuất lợi
nhuận. Trái lại trong ngành chế tạo máy móc số lợng hàng hóa sản xuất ra cũng
ít hơn và sự thay đổi tơng quan giữa cung và cầu sẽ giúp cho các chủ xí nghiệp
nâng cao đợc giá hàng của họ lên và do đó tỷ suất lợi nhuận cũng tăng lên.
Tình trạng sụt giá trong ngành da và lên giá trong ngành chế tạo máy
móc, sẽ tiếp diễn cho đến khi nào tỷ suất lợi nhuận trong cả ba ngành sấp xỉ
bằng nhau mới thôi. Điều đó sẽ xảy ra khi mà hàng hóa của cả ba ngành đều
bán theo giá 120 đơn vị (130+120+110)/3.
Lợi nhuận bình quân của mỗi ngành trong những ngành ấy sẽ là 20 đơn
vị. Lợi nhuận là một lợi nhuận bằng nhau của những số t bản bằng nhau bỏ vào
các ngành sản xuất khác nhau.
Việc bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận và việc biến giá trị thành giá cả sản
xuất càng che giấu thêm quan hệ bóc lột, càng che dấu thêm nguồn gốc làm
giàu thực sự của t bản. Thật ra sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân có
nghĩa la phân phối lại giá trị thặng d giữa các nhà t bản trong các ngành sản
xuất khác nhau. Nhà t bản thuộc ngành có cấu tạo hữu cơ cao chiếm đoạt một
phần giá trị thặng d do các ngành có cấu tạo hữu cơ thấp tạo ra. Bởi vậy công
nhân không chỉ bị các nhà t bản thuê mình bóc lột mà còn bị toàn thể giai cấp t
bản bóc lột. Toàn bộ giai cấp t bản đều quan tâm đến việc nâng cao mức độ bóc
lột công nhân vì điều đó làm tăng thêm tỷ suát lợi nhuận bình quân. Nh Mác đã

tinh vi, hiện đại đến đâu cũng chỉ là sản phẩm của con ngời. Con ngời không
thể chế tạo ra một động cơ vĩnh cửu. Trong dây chuyền sản xuất tự động, giá trị
thặng d đợc tạo ra không chỉ là sản phẩm của lao động quá khứ mà vẫn cần tới
lao động hiện tại. Mác viết rằng: Lao động biểu hiện ra không phải chủ yếu
với t cách là lao động đợc nhập vào quá trình sản xuất nữa mà là chủ yếu với t
cách một loại lao động trong đó có ngời ngày càng đứng sang bên cạnh với
chức năng giám sát điều khiển, sáng tạo mà máy móc không thể làm nổi .
Lợi nhuận siêu nghạch mà nhà t bản thu đợc khi áp dụng máy móc hiện
đại hơn so với các nhà t bản khác chẳng qua chỉ là sự phân phối lại giá trị thặng
d sẵn có trên toàn xã hội. Do áp dụng máy móc hiện đại nên lao động ở đây có
năng suất lao động cao hơn nên giá thành sản phẩm sẽ thấp hơn đó là một yếu
tố quan trọng, Song trên thị trờng giá bán hàng hóa cùng loại vẫn theo giá trị thị
trờng nên nhà t bản có máy móc hiện đại hơn sẽ thu đợc nhiều lợi nhuận siêu
nghạch hơn. Thực tế trên quy mô thị trờng thế giới, các nớc t bản phát triển sản
xuất bằng máy móc hiện đại và đem bán hàng hóa tại các nớc kinh tế chậm phát
triển đã thu đợc lợi nhuận khổng lồ khó có thể hình dung đợc. Lợng lợi nhuận
siêu nghạch mà một nhà t bản thu đợc là do phần lợi nhuận của các nhà t bản
khác mất đi mà thôi. Nếu mọi cơ sở sản xuất đều trang bị máy móc hiện đại nh
nhau thì hiện tợng lợi nhuận siêu nghạch sẽ biến mất và ngời tiêu dùng đợc lợi
vì giá cả hàng hóa đợc hạ thấp. Nhng khi chỉ cần một nhà t bản nào đó áp dụng
máy móc hiện đại hơn và thu đợc lợi nhuận siêu nghạch thì dẫn đến sự cạnh
tranh để rồi sớm hay muộn sẽ làm triệt tiêu lợi thế cá biệt, triệt tiêu lợi nhuận
siêu nghạch.
Tóm lại, nguồn gốc của lợi nhuận cũng nh lợi nhuận siêu nghạch vẫn là
giá trị thặng d do lao động sáng tạo của công nhân mà ra và bị nhà t bản chiếm
không, đúng nh Mác đã nhận định và chứng minh.
IV. các hình thức của lợi nhuận.
Nh ta đã biết, giá trị thặng d lợi nhuận không hoàn toàn đồng nhất nhng
chúng đều có chung nguồn gốc từ lao động mà ra. Giá trị thặng d là phần giá
mà nhà t bản bóc lột không công của ngời công nhân còn lợi nhuận là số tiền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status