1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
I HC KHOA HC XÃ H
ĐOÀN THỊ PHƢƠNG THẢO
TÍNH BN VNG TRONG HÔN NHÂN CA CÁC
I HÀ NI HIN NAY
(Nghiên cứu trƣờng hợp Giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội) LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Thu Hƣơng
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Thu Hƣơng
HÀ NỘI – 2013
3
Trang
MỞ ĐẦU 7
1. 7
2. 8
3. 8
4. 9
5. 10
6. 10
7. 10
8. Khung phân tích 13
NỘI DUNG CHÍNH 14
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 14
1.1. 14
5
DANH MC BNG
STT
Tên bng
Sự khác biệt nhóm tuổi trong mức độ hài lòng về ngƣời
bạn đời của gia đình Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ
Nhuế
62
Bảng 3.3:
Giá trị trung bình đánh giá sự hài lòng về hôn nhân đối
với các độ tuổi
63
Bảng 3.4:
Mức độ hài lòng về các tiêu chí đối với ngƣời bạn đời
trong gia đình Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế
64
Bảng 3.5:
Đánh giá mức độ hài lòng về sự phân công công việc
trong gia đình
67
Bảng 3.6:
Đánh giá mức độ hài lòng về những mối quan hệ
70
Bảng 3.7:
Một số yếu tố nhân khẩu và mức độ hài lòng về con cái
71
6
trong gia đình Thiên Chúa giáo
Bảng 3.8:
Một số yếu tố nhân khẩu và sự hài lòng về gia đình bên
vợ/chồng và các mối quan hệ xã hội của gia đình Thiên
Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế
73
vợ/chồng trong ngày (Đơn vị: %)
46
Biểu đồ 3.1:
Tỉ lệ mức độ hài lòng về ngƣời bạn đời trong gia đình
Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế (Đơn vị: %)
60
Biểu đồ 3.2:
Tỉ lệ đánh giá sự quan trọng của sự hòa hợp về tình
dục trong quan hệ vợ/chồng (Đơn vị:%)
76
Biểu đồ 3.3:
Tỉ lệ mức độ xảy ra bất đồng ý kiến trong gia đình
(Đơn vị:%)
81
7
M
1. t v
Hôn nhân là một trong những sự kiện quan trọng đánh dấu sự chuyển đổi
vai trò xã hội của cá nhân. Tuy nhiên, trong mỗi nền văn hóa quan niệm về
hôn nhân và gia đình lại không giống nhau. Trong nền văn hóa Á Đông nói
chung, văn hóa Việt Nam nói riêng gia đình là một trong những giá trị quan
trọng nhất trong đời sống cá nhân.
Trong xã hội hiện đại, sự biến đổi của nền kinh tế - xã hội đã tạo ra những
tác động trực tiếp đến mọi khía cạnh của đời sống trong đó phải nói đến sự tác
động đến các gia đình. Ta có thể thấy, ngày nay tình trạng ly thân, ly hôn có
xu hƣớng gia tăng. Những hệ lụy của nó đã tạo ra nhiều vấn đề đáng lo ngại
mà xã hội cần phải quan tâm, giải quyết. Hiện nay, ngoài hôn nhân hợp pháp
giáo có một ý nghĩa hết sức thiết thực. Đề tài không chỉ làm rõ đƣợc thực
trạng tình hình đời sống hôn nhân của các gia đình theo Thiên Chúa giáo mà
còn làm rõ đƣợc những yếu tố nào tác động đến tính bền vững trong hôn nhân
của các gia đình. Những kết quả của nghiên cứu này có thể đƣợc sử dụng làm
tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, các cấp, các ngành có cái nhìn mới về
đời sống hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo. Đồng thời kết quả này
cũng góp phần làm phong phú thêm những nghiên cứu về gia đình và cũng là một
nguồn tài liệu tham khảo cho học viên, sinh viên khi nghiên cứu về gia đình.
3. Mm v nghiên cu
3.1. Mu
Đề tài hƣớng tới làm sáng tỏ tính bền vững trong hôn nhân của các gia đình
Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội hiện nay.
3.2. Nhim v nghiên cu
Mô tả đặc điểm khi kết hôn của các cặp vợ chồng theo đạo Thiên Chúa
giáo tại giáo xứ Cổ Nhuế qua một số yếu tố nhƣ: độ tuổi kết hôn, thời gian
9
tìm hiểu trƣớc khi kết hôn, sự tƣơng đồng về tôn giáo giữa vợ/chồng khi kết
hôn.
Tìm hiểu đặc điểm đời sống hôn nhân của gia đình Thiên Chúa giáo tại
giáo xứ Cổ Nhuế qua một số khía cạnh: phân công lao động trong gia đình,
thời gian dành cho tƣơng tác giữa vợ chồng trong gia đình, quan niệm về giá
trị con cái trong gia đình, thực trạng sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp
vợ chồng.
Đánh giá tính bền vững trong hôn nhân của gia đình Thiên Chúa giáo tại
giáo xứ Cổ Nhuế qua một số tiêu chí nhƣ: sự hài lòng về ngƣời bạn đời, sự
hài lòng về phân công lao động trong gia đình, sự hài lòng về đời sống tình
dục và mâu thuẫn trong gia đình.
Phân tích vai trò của Thiên Chúa giáo đối với sự bền vững trong hôn nhân
của các gia đình Thiên Chúa giáo tại giáo xứ Cổ Nhuế.
6. Gi thuyt nghiên cu
Những ngƣời theo đạo Thiên Chúa thƣờng có xu hƣớng kết hôn với những
ngƣời cùng tôn giáo. Đặc điểm đời sống gia đình có nhiều biểu hiện tƣơng
đồng với đặc điểm đời sống hôn nhân của các gia đình khác. Tính bền vững
trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo là do có sự tham gia của yếu
tố niềm tin tôn giáo và giáo lý hôn nhân của đạo Thiên Chúa. Hôn nhân của
các gia đình theo đạo Thiên Chúa giáo hiện nay có tính bền vững cao. Niềm
tin tôn giáo, giáo lý hôn nhân tác động trực tiếp tới tính bền vững trong hôn
nhân của đạo Thiên Chúa giáo.
7. u
7.1.
Phƣơng pháp phân tích tài liệu đƣợc sử dụng trong nghiên cứu nhằm bổ
sung thông tin cho đề tài nghiên cứu. Nguồn tài liệu của đề tài là những công
11
trình nghiên cứu có nội dung liên quan đến vấn đề hôn nhân, gia đình. Các tài
liệu sách; tạp chí; báo có đề cập đến hôn nhân và gia đình nhằm so sánh các
kết quả nghiên cứu đã có với kết quả nghiên cứu của đề tài.
7.2.
u ý kin
Loại mẫu sử dụng trong nghiên cứu là mẫu ngẫu nhiên thuận tiện. Chọn
52
26,0
Không có hoạt động nghề nghiệp
15
7,5
tui
Thanh niên
52
26,0
Trung niên
109
54,5
Cao tuổi
39
19,5
(Nguồn: Kết quả xử lý phiếu điều tra)
Nội dung trƣng cầu ý kiến: Bảng hỏi đƣợc xây dựng nhằm muc đích tìm
hiểu các đặc điểm khi kết hôn của các cặp vợ chồng, đặc điểm đời sống gia
đình trong các gia đình Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà
12
Nội. Tìm hiểu một số biểu hiện của tính bền vững trong hôn nhân cũng nhƣ
vai trò của Thiên Chúa giáo với sự bền vững trong hôn nhân.
Số phiếu thu về đƣợc xử lí trên phần mềm SPSS 16.0. Chúng tôi đã thu
đƣợc những thông tin định lƣợng có độ chính xác cao cung cấp thông tin chủ
yếu cho việc kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu của đề tài.
7.3.
8. Khung phân tích TÍNH BN VNG
TRONG HÔN
NHÂN
đời sống
gia đình
u kin
Kinh t -
Xã hi
Sự hài lòng về
phân công lao
động trong gia
đình
14
NNH
1:
1.1. Khái nim công c
1.1.1. Hôn nhân
Có rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về hôn nhân. Dƣới cái nhìn
của Xã hội học, hôn nhân là một loạt các nghi thức để chính thức hóa mối
quan hệ giữa một hoặc nhiều nam và nữ. Hôn nhân là sự tán thành về mặt xã
hội về "sự hợp nhất" giữa một nam và một nữ, phổ biến nhất, hoặc giữa một
nam và nhiều nữ hoặc các dạng khác Hôn nhân quy định quyền và nghĩa vụ
kinh tế cũng nhƣ tình dục giữa họ [31].
Theo khoản 6, điều 8 Luật Hôn nhân - gia đình quy định: “Hôn nhân là
quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” [28]. Nhƣ vậy, so với các văn
bản pháp luật trƣớc đây thì khái niệm hôn nhân chính thức quy định trong
Luật 2000 – đó là sự liên kết giữa một ngƣời đàn ông và một ngƣời đàn bà
bí tích” [52].
Đối với ngƣời theo đạo Thiên Chúa giáo thì Hôn nhân có hai đặc tính rất
quan trọng là tính “đơn nhất” và “bất khả phân ly” [52]. Chung thuỷ suốt đời
với ngƣời phối ngẫu là một trong những đặc điểm nổi bật của hôn nhân Công
giáo, đồng thời còn có ý nghĩa đặc biệt hơn đối với thế giới hiện nay, khi mà
ly dị thƣờng đƣợc coi là giải pháp bình thƣờng cho những khó khăn hoặc thất
bại trong đời sống hôn nhân. Quả thực, đối với nhiều trƣờng hợp, chung thuỷ
là một thách đố lớn lao và phải cậy nhờ vào ơn Chúa, vì chỉ nhờ sức riêng của
mình mà thôi thì không đủ. Trong đời sống hôn nhân, đôi vợ chồng cần nhớ
rằng sự liên kết với nhau không phải chỉ do quyết tâm của họ mà còn là kết
quả của ơn Chúa: “Điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, thì loài người không được
16
phân ly” [52]. Hội Thánh không ngừng cầu nguyện cho các đôi vợ chồng
đƣợc trung thành với nhau suốt đời. Ngƣợc lại, chính Hội Thánh cũng đƣợc
nâng đỡ luôn trung tín với Chúa Giêsu nhờ sự chung thuỷ của các đôi vợ
chồng. Đây chính là một yếu tố quan trọng trong việc tạo dựng tính bền vững
trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo.
1.1.2. Gia đình, gia đình Thiên Chúa giáo
Gia đình là một tổ chức xã hội đƣợc hình thành từ lâu trong lịch sử . Gia
đình là cái mà ai cũng cảm nhận, nhìn thấy đƣợc. Hầu hết mọi ngƣời đều lớn
lên từ một gia đình nào đó và thừa hƣởng những giá trị vật chất, tinh thần từ
nó.Tuy nhiên, với một khái niệm tƣởng chừng đơn giản song lại có khá nhiều
định nghĩa khác nhau bởi gia đình có sự biến đổi từ xã hội này, nền văn hóa
này sang xã hội và nền văn hóa khác, theo chiều dài lịch sử của chúng…
Theo quan điểm của nhà Xã hội học Mỹ, giáo sƣ John J.Macionis định
nghĩa gia đình rất đơn giản: “Gia đình là một tập thể xã hội có từ hai người
trở lên trên cơ sở huyết thống, hôn nhân hay nghĩa dưỡng cùng sống với
nhau” [57].
Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2000): Gia đình là tập hợp những ngƣời
suốt đời” của các bên trong hôn nhân [60, pg. 409-429]. Điều này cũng đƣợc
ghi nhận trong luật hôn nhân của một số quốc gia, ví dụ, theo Luật hôn nhân
năm 1961 của Australia, để việc kết hôn có hiệu lực pháp lý, các bên kết hôn
phải có mục đích chung sống suốt đời.
Đối với các nhà làm luật, tính bền vững của hôn nhân đƣợc quan tâm do
một số yếu tố nhƣ: tôn giáo, đặc điểm văn hóa, sự phát triển của xã hội. Về
yếu tố tôn giáo chẳng hạn trong Đạo cơ đốc Đạo cơ đốc họ coi hôn nhân là
một thiết chế bất biến gắn liền với suốt cuộc đời con ngƣời, tính bất biến hôn
nhân theo quan niệm tôn giáo có thể hiểu theo hai nghĩa: hôn nhân không thể
18
chấm dứt bằng ly hôn, do đó cấm ly hôn (quan điểm này hiện nay rất ít nƣớc
áp dụng) và hôn nhân có tính bền vững nhƣng vẫn có thể chấm dứt bằng ly
hôn (đây là quan điểm phổ biến hiện nay).
Trong xã hội hiện đại, hôn nhân có một số biểu hiện khủng hoảng nhƣ việc
hôn nhân bền vững đƣợc thay thế bằng “hôn nhân thử”, tình trạng ly hôn diễn
ra nhiều và phổ biến.
Đối với một số quốc gia phƣơng Đông trong đó có Việt Nam thì hôn nhân
đƣợc xây dựng trên yếu tố tình cảm giữa các chủ thể và hôn nhân có mục đích
là xây dựng gia đình (gia đình thƣờng bắt đầu từ hôn nhân, từ quan hệ vợ
chồng về tình cảm mà phát sinh các quan hệ giữa cha mẹ và con, quan hệ giữa
anh, chị, em…) đó là những điều kiện đảm bảo cho sự liên kết hạnh phúc, bền
vững trong hôn nhân, hôn nhân có bền vững thì gia đình và xã hội mới ổn
định và phát triển. Pháp luật Hôn Nhân và Gia Đình Việt Nam luôn coi trọng
tính bền vững của hôn nhân, vì truyền thống gia đình Việt Nam và xuất phát
từ vai trò hôn nhân là cơ sở: “xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ,
hạnh phúc, bền vững” [28].
Nhìn từ gốc độ Xã hội học, gia đình vừa đƣợc xem là một thiết chế xã hội
vừa đƣợc xem nhƣ là một nhóm xã hội. Theo quan điểm của Parsons và Bales
(1955) xác định hai vai trò chính trong hôn nhân: vai trò công cụ và cai trò
các tôn giáo thờ Thiên Chúa là thần linh tối cao và duy nhất ngự trên trời
("Thiên" là trời, "Chúa" là chúa tể, "giáo" là tôn giáo), và từng tôn giáo đó có
cách gọi tên riêng về Thiên Chúa.
Thiên Chúa giáo ra đời từ đầu Công nguyên nhƣ sự đáp ứng nhu cầu của
nhân dân lao động về một vƣơng quốc của sự công bằng sau những chán
chƣờng, tuyệt vọng từ sự thất bại của hàng loạt cuộc nổi dậy của ngƣời nô lệ
mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Spactaquyt. Văn hóa Rôma, thần học phƣơng
20
Đông, đặc biệt thần học Do Thái, triết học duy lý Hy Lạp, khắc kỷ là cơ sở lý
thuyết cho sự ra đời của Thiên Chúa giáo. Ngƣời sáng lập ra Thiên Chúa giáo
là Kitô, một nhân vật có thật trong lịch sử tên là Giêsu Cơrit thuộc chủng tộc
Isarae, sinh ở Palextin. Nhƣ mọi tôn giáo khác, những ghi chép về Giêsu cũng
đƣợc huyền thoại hóa và Giêsu cũng đƣợc thần thánh hóa.
Hệ thống giáo lý, giáo luật Thiên Chúa giáo phần lớn đƣợc ghi nhận trong
Kinh thánh. Kinh thánh là hệ thống lý thuyết về Đức tin và chân lý của Đức
tin. Kinh thánh gồm hai phần Cựu ƣớc và Tân ƣớc. Đối với ngƣời Kitô giáo,
Kinh thánh vừa có giá trị nhân bản, vừa có giá trị siêu nhiên, vì tác giả của nó
là Thiên Chúa. Bộ cựu ƣớc đƣợc viết ra trƣớc khi Chúa Giêsu ra đời, chủ yếu
nói về nguồn gốc vũ trụ và loài ngƣời, về lịch sử dân Do Thái đƣợc chọn để
đón nhận ngày chúa Kitô giáo ra đời. Bộ Tân ƣớc kể lại cuộc đời chúa Giêsu
Kitô, của các Tông đồ, cũng nhƣ ghi lại đạo lý của Kitô và các Tông đồ.
Khi lý giải về nguồn gốc vũ trụ và sự sống, sách Sáng thế kể về việc Thiên
Chúa hoàn tất mọi việc tạo dựng trong bảy ngày. Đối với việc tạo dựng còn
ngƣời nhƣ một sinh vật, Kinh thánh cũng cố gắng lý giải về sự thống nhất, sự
kết hợp giữa hai yếu tố tinh thần và vật chất trong sự sáng tạo của Chúa. Sách
bổn là sách dạy vắn tắt những điều mà các tín đồ Kitô hữu phải tin, phải làm
trong đời sống thƣờng nhật.
Theo Kinh thánh, giáo hội là “một cộng đồng hữu hình và có tổ chức mà
Chúa Kitô đã sáng lập để lƣu tồn sự hiện diện của mình trên trần gian và tiếp
nhân và xã hội. Thuyết này cho rằng xã hội đƣợc tạo nên từ các tƣơng tác xã
hội giữa các cá nhân. Do vậy, cần phải tập trung nghiên cứu ý nghĩa biểu
trƣng và ý nghĩa chủ quan mà con ngƣời gán cho các mối tƣơng tác tạo nên xã
22
hội của con ngƣời và tìm hiểu sự ảnh hƣởng của mối tƣơng tác biểu trƣng đó
với các cá nhân.
Lý thuyết tƣơng tác biểu trƣng cho thấy các cá nhân trong quá trình tƣơng
tác tác động qua lại lẫn nhau. Trong đề tài nghiên cứu này ta xét đến yếu tố
tôn giáo tác động nhƣ thế nào đến hành vi của mỗi cá nhân. Đâu chính là
động cơ thúc đẩy họ hành động, với một niềm tin họ tin rằng hôn nhân là một
điều gì đó thiêng liêng, tác động mạnh đến nhận thức của họ. Mối tƣơng tác
giữa các thành viên trong gia đình có ảnh hƣởng gì đến tính bền vững trong
hôn nhân hay không. Thuyết này sử dụng trong những nghiên cứu về mối
quan hệ giữa cha mẹ và con cái, sự thích ứng về mặt hôn nhân. Tuy nhiên khi
sử dụng thuyết tƣơng tác biểu trƣng trong đề tài điều đó cũng làm giảm quyền
lực trong quan hệ vợ chồng, không đề cập đến khía cạnh tình cảm, không xét
đến hôn nhân – gia đình trong bối cảnh xã hội bên ngoài.
1.2.2. Lý thuyết lựa chọn hợp lý
Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào tiền đề cho rằng con ngƣời luôn hành động
một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một
cách duy lý nhằm đạt đƣợc kết quả tối đa với chi phí tối thiểu. Theo Marx,
mục đích tự giác của con ngƣời nhƣ là quy luật quyết định toàn bộ cấu trúc,
nội dung, tính chất, phƣơng pháp của hành động và ý chí của con ngƣời. Ông
viết: “Cuối quá trình lao động, người lao động thu được cái kết quả mà họ đã
hình dung ngay từ đầu quá trình ấy, tức là đã có trong ý niệm rồi. Con người
không chỉ làm biến đổi hình thái của những cái do tự nhiên cung cấp; trong
những cái do tự nhiên cung cấp, con người cũng đồng thời thực hiện cái mục
đích tự nguyện của mình, mục đích ấy quyệt định phương thức hành động của
họ giống như một quy luật và bắt ý chí của họ phải phục tùng nó” [7, tr. 267].
Sự căng thẳng xã hội, sự phân hóa xã hội cùng với sự mâu thuẫn, cạnh tranh,
24
xung đột, đấu tranh, biến đổi xã hội là những chủ đề nghiên cứu cơ bản của
các lý thuyết mâu thuẫn trong xã hội học.
Những luận điểm gốc của thuyết xung đột cho rằng, do có sự khan hiếm
các nguồn lực (đất đai, nguyên vật liệu, tiền tài, địa vị…) và do sự phân công
lao động và sự bất bình đẳng trong phân bổ nguồn lực, quyền lực nên quan hệ
giữa các cá nhân, các nhóm xã hội luôn nằm trong tình trạng mâu thuẫn, cạnh
tranh với nhau vì lợi ích [16, tr.266]. Thuyết mâu thuẫn cho rằng: cần phải tập
trung vào phân tích động cơ và đặc điểm xã hội của các bên tham gia mâu
thuẫn và bản chất của mối quan hệ mâu thuẫn.
Gia đình bao gồm những cá nhân có nhân cách, ý tƣởng, giá trị, sở thích và
mục đích khác nhau. Mỗi ngƣời không phải bao giờ cũng hài hòa với mọi
ngƣời khác trong gia đình. Các gia đình thƣờng có bất đồng, từ nhỏ đến lớn.
Họ chỉ khác nhau về tần số và mức độ, tính chất, biểu hiện và cách giải quyết
xung đột. Theo cách tiếp cận này có ngƣời cho rằng xung đột là một bộ phận
tự nhiên của gia đình, gia đình nào cũng có thể gặp, nhƣng quan trọng là cách
thức để giải quyết những mâu thuẫn đó nhƣ thế nào, êm đẹp hay chọn việc
phá vỡ giao kèo kết hôn. Những xung đột dễ dẫn đến việc phá vỡ, hay việc
chấp nhận hôn nhân một cách hình thức nhƣng mỗi ngƣời lại theo đuổi một
mục đích riêng.
1.3. Tng quan v nghiên cu
Nghiên cứu về gia đình là một lĩnh vực thu hút đƣợc rất nhiều nghiên cứu ở
trên thới giới cũng nhƣ Việt Nam. Trong nghiên cứu này, do sự tiếp cận tài
liệu nghiên cứu về gia đình còn hạn chế, trong phần tổng quan vấn đề nghiên
cứu chỉ tập trung vào các nghiên cứu về gia đình đã đƣợc công bố ở Việt
Nam.
Trong các nghiên cứu về gia đình ở Việt Nam có một số nhóm chủ đề
chính. Nghiên cứu về gia đình truyền thống, có thể kể đến một loạt những