Nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động đến
lựa chọn trường cao đẳng - đại học của học sinh
trung học phổ thông hiện nay (Nghiên cứu
trường hợp tại trường trung học phổ thông Việt
Yên 1 - Bắc Giang) Dương Ngọc Mai Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn Thạc sĩ ngành: Xã hội học; Mã số: 60 31 30
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà
Năm bảo vệ: 2014 Keywords. Xã hội học; Trường trung học phổ thông; Bắc Giang
Content
1. Lý do chọn đề tài
Nghề nghiệp luôn được coi là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tuơng lai
của mỗi con người. Vì vậy để lựa chọn cho mình một ngành nghề phù hợp luôn là ước mơ của
rất nhiều các bạn trẻ, đặc biệt là học sinh trung học phổ thông. Hiện nay có rất nhiều sự chọn lựa
cho các em sau khi tốt nghiệp THPT, học tiếp lên đại học, cao đẳng, học trung cấp chuyên
nghiệp, học nghề hay đi làm lao động phổ thông các em học sinh chọn hướng đi nào sau tốt
nghiệp? Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, năm học 2010 - 2011 cả nước có khoảng 185.000 học
sinh tốt nghiệp THPT nhưng không đỗ vào đại học, cao đẳng hoặc trung cấp chuyên nghiệp. Con
số này tăng lên trong năm sau là 290.000 em. Cộng với số học sinh bỏ học và trượt tốt nghiệp
THPT trong những năm qua thì ước tính mỗi năm có khoảng hơn 350.000 em không tiếp tục
được đào tạo, thiếu công ăn việc làm [28]. Kỳ thi tuyển sinh vào đại học, cao đẳng, trung cấp
chuyên nghiệp năm 2013, cả nước có 1,4 triệu thí sinh dự thi. Trong số đó chỉ có 20% thí sinh có
thuộc vào địa vị và nguồn gốc xuất thân của mỗi người trong xã hội. Điều này thể hiện rõ tính áp
đặt của giai cấp thống trị và sự bất bình đẳng trong phân công lao động xã hội. Đến thế kỷ XIX,
khi nền sản xuất xãhội phát triển cùng với những tư tưởng tích cực về giải phóng con người trên
khắp thế giới thì khoa học hướng nghiệp mới thực sự trở thành một khoa học độc lập.
Cuốn sách “Hướng dẫn chọn nghề” xuất bản năm 1949 ở Pháp được xem là một trong những
cuốn sách đầu tiên nói về hướng nghiệp [6]. Nội dung cuốn sách đã đề cập đến sự phát triển đa dạng
của các ngành nghề trong xã hội do sự phát triển của công nghiệp từ đó đã rút ra những kết luận coi
giáo dục hướng nghiệp là một vấn đề quan trọng không thể thiếu khi xã hội ngày càng phát triển và
cũng là nhân tố thúc đẩy xã hội phát triển.
Vào những năm 1940, nhà tâm lý học Mỹ J.L. Holland đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn
tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp.Tác giả đã chỉ ra rằng, tương ứng với mỗi kiểu
nhân cách nghề nghiệp là một số những nghề nghiệp mà cá nhân có thể lựa chọn để đạt được kết
quả làm việc cao nhất. Lý thuyết này của J.L. Holland đã được sử dụng rộng rãi nhất trong thực
tiễn hướng nghiệp trên thế giới.
Trên cơ sở các luận điểm về hướng nghiệp của C.Mác và V.I Lênin, các nhà giáo dục
Liên xô như B.F Kapêep, X.Ia Batưsep, X.A Sapôrinxki, V.A Pôliacôp trong các tác phẩm và
công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra mối quan hệ giữa hướng nghiệp và các hoạt động sản
xuất xã hội. Họ cho rằng, nếu sớm thực hiện GDHN cho thế hệ trẻ thì đó sẽ là cơ sở để họ chọn
nghề đúng đắn, có sự phù hợp giữa năng lực, sở thích cá nhân với nhu cầu xã hội [6]. Đồng thời,
các tác giả này cũng đã trình bày những nguyên tắc, phương pháp thực hành lao động nghề
nghiệp cho học sinh phổ thông tại các cơ sở học tập - lao động liên trường.
Mei Tang, Wei Pan và Mark D.Newmeyer [26] đã áp dụng mô hình lý thuyết phát triển
xã hội nghề nghiệp (SCCT, Lent, Brown và Hackett, 1994) để khảo sát các yếu tố tác động đến
xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của HS trung học. Những phát hiện của nghiên cứu này đã
chứng minh tầm quan trọng của các yếu tố như: kinh nghiệm học tập, tự đánh giá năng lực nghề
nghiệp, lợi ích và kết quả mong đợi trong quá trình phát triển nghề nghiệp của học sinh trung
học. Mối quan hệ của các yếu tố này có tính chất động. Vì vậy, để can thiệp thành công cần phải
xem xét mối quanhệ phức tạp giữa các yếu tố và kết hợp một loạt các biện pháp can thiệp ở mức
độ đa hệ thống. Các nhà tư vấn nên góp phần vào sự phát triển và thực hiện một chương trình
phát triển nghề nghiệp toàn diện giúp HS phát triển năng lực nghề nghiệp thông qua hoạt động
năm 2001 - 2010 đã xác định rõ “Thực hiện chương trình phân ban hợp lý nhằm đảm bảo cho
học sinh có học vấn phổ thông, cơ bản theo một chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự
phát huy năng lực của mỗi học sinh, giúp học sinh có những hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng
hướng nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi tiếp sau khi tốt nghiệp”.
Về mặt nghiên cứu khoa học hướng nghiệp ở Việt Nam, theo các chuyên gia thì ngành
hướng nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ vào những năm 1970, 1980.
GS.TS. Phạm Tất Dong là người có những đóng góp rất lớn cho GDHN Việt Nam. Tác giả này
đã dày công nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tiễn cho GDHN như xác định mục đích, ý
nghĩa, vai trò của hướng nghiệp; hứng thú, nhu cầu và động cơ nghề nghiệp; hệ thống các quan
điểm, nguyên tắc hướng nghiệp, các nội dung, phương pháp, biện pháp giáo dục hướng nghiệp
Điều này được thể hiện ở rất nhiều các báo cáo, bài báo, sách, giáo trình của ông như bài viết:
“Hướng nghiệp cho thanh niên”, đăng trên tạp chí Thanh Niên số 8 năm 1982; báo cáo: “Một
con đường hình thành lý tưởng nghề nghiệp cho học sinh lớn”; các tác phẩm như: “Nghề nghiệp
tương lai - giúp bạn chọn nghề” hay cuốn “Tư vấn hướng nghiệp - sự lựa chọn cho tương lai”.
Trong một công trình nghiêncứu gần đây, tác giả đã chỉ ra rằng: “Công tác hướng nghiệp góp
phần điều chỉnh việc chọn nghề của thanh niên theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế”. Bởi vì
theo tác giả, đất nước đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa
(CNH-HĐH), cơ cấu kinh tế sẽ chuyển theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng công
nghiệp, dịch vụ. Xu hướng chọn nghề của thanh niên phù hợp với xu hướng chuyển cơ cấu kinh
tế là một yêu cầu tất yếu của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước.
GS.TS. Nguyễn Văn Hộ cũng là một trong những người rất tâm đắc và nghiên cứu
chuyên sâu về GDHN. Trong luận án tiến sĩ của mình, tác giả đã đề cập đến vấn đề: “Thiết lập
và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam”. Tác giả đã xây dựng được luận
chứng cho hệ thống GDHN trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Gần đây, ông
cũng đã xuất bản cuốn sách: “Hoạt động giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kĩ thuật trong
trường THPT” (2006). Cuốn sách đã trình bày một cách hệ thống về cơ sở lí luận của GDHN,
vấn đề tổ chức GDHN trong trường THPT và giảng dạy kĩ thuật ở nhà trường THPT trong điều
kiện kinh tế thị trường và sự nghiệp CNH - HĐH đất nước hiện nay. Trong thời gian gần đây,
nhằm hiện thực hoá những phương hướng, mục tiêu mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề
ra về GDHN và phân luồng học sinh phổ thông, đã có rất nhiều những nghiên cứu về hướng
Đề tài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học
sinh phổ thông trung học” của nhóm tác giả Trần Văn Quý và Cao Thi Hào Trường Đại học
Bách Khoa, Đại học Quốc Gia TP.Hồ Chí Minh. Nghiên cứu đã xác định, đánh giá tác động của
các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh THPT. Kết quả
phân tích 227 bảng hỏi đối với học sinh lớp 12 năm học 2008 – 2009 của 5 trường THPT tại
Quảng Ngãi đã cho thấy 5 yếu tố bao gồm: (1) cơ hội việc làm trong tương lai, (2) đặc điểm cố
định của trường đại học, (3) bản thân cá nhân học sinh, (4) cá nhân có ảnh hưởng đến quyết định
của học sinh và (5) thông tin có sẵn, ảnh hưởng đến quyết định chọn trường Đại học.
Tác giả Phan Thị Tố Oanh nghiên cứu với đề tài: “Nghiên cứu nhận thức nghề và dự định
chọn nghề của học sinh phổ thông trung học” (Luận án Phó Tiến Sĩ khoa học sư phạm – tâm lý –
1996) [4] tiến hành nghiên cứu trên 497 học sinh 4 trường thuộc nội ngoại thành thành phố Hà Nội
và Huế đã cho rằng: HS ở các nhóm nghề đã có nhận thức về nghề nghiệp nhưng ở mức độ chưa
cao, chưa sâu sắc và đầy đủ. Trong ba mặt nhận thức về nghề HS nhận thức nhu cầu của xã hội
đối với nghề nghiệp mình định chọn cao hơn so với nhận thức về thế giới nghề nghiệp – yêu cầu
đặc trưng của nghề và nhận thức về đặc điểm cá nhân ( tương ứng là 0,98; 0,55; 0,375 điểm ).
Điều đó chứng tỏ những yếu tố khách quan của nghề nghiệp đối với cá nhân được HS nhận biết dễ
hơn những yêu cầu của nghề nghiệp về các đặc điểm tâm lý cá nhân.
Và trong ba trình độ nghề thì đa số HS dự định chọn trình độ cao: có tới 80,4% dự định thi
đại học; 36,9% dự định thi trung cấp; 7,3% thi vào sơ cấp và 5,5% không thi vào hệ nào.
Trên cở sở phân tích các yêu cầu của đề tài, tác giả đã đưa ra những nhận xét:
Nhận thức nghề đang dừng lại ở những biểu hiện bên ngoài chưa đi sâu tìm hiểu đặc
trưng riêng của nghề và đối chiếu yêu cầu đó với những đặc điểm thể chất và tâm lý của mình.
Đa số HS chọn đại học, vào những nghề xã hội đánh giá cao, có khả năng tìm việc ổn
định và cần thiết xã hội.
Tác giả Nguyễn Thị Vân Hạnh cũng có bài viết về “Nhu cầu học nghề của học sinh trung
học phổ thông” đăng trên tạp chí Khoa học giáo dục số 16, tháng 1/2007. Bài viết của tác giả đã
khẳng định rằng phần đông HS có nhận thức đúng đắn rằng vào đại học không phải là con đường
duy nhất để thành đạt (70% ý kiến được hỏi), nhưng lại có tới 70% lựa chọn con đường này sau
khi tốt nghiệp THPT. Theo bài viết này, các nhóm nghề được HS lựa chọn nhiều nhất là công
nghệ thông tin, điện, dệt may. Sự lựa chọn này phản ánh tương đối chính xác xu hướng phát triển
nghiệp của học sinh ở năm học cuối cấp. Đồng thời, các công trình nghiên cứu này cũng tổng
hợp được ý kiến của học sinh với mong muốn trong nhà trường có ban tư vấn hướng nghiệp để
giúp các em trong việc chọn nghề cho tương lai.
Tóm lại, nghiên cứu về đề tài định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT có nhiều tác
giả đã nghiên cứu, những kết quả đó làm tiền đề để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu vấn đề này vào
thời điểm hiện tại. Vấn đề nghề nghiệp luôn đổi mới và phát triển theo xu hướng của thế giới,
cho nên nghiên cứu về vấn đề này vẫn luôn cần được cập nhật mới mẻ.
Nhưng nghiên cứu về đề tài chọn trường thi CĐ – ĐH của học sinh THPT là chưa nhiều.
Với địa bàn nghiên cứu tác giả chọn là một trường THPT thuộc tỉnh trung du miền núi phía Bắc
mà cụ thể chúng tôi tiến hành khảo sát tại trường THPT Việt Yên 1 – Bắc Giang, là điểm mới để
chúng tôi tìm hiểu những nhận thức và nhu cầu của học sinh tại địa bàn có điểm gì khác so với các
em học sinh THPT tại khu vực ở thành phố lớn và các địa bàn khác trên cả nước. Chúng tôi chọn
đề tài này để tìm hiểu nhận thức, nhu cầu của học sinh lớp 12 về lựa chọn trường CĐ - ĐH và tìm
hiểu xem những yếu tố nào tác động đến lựa chọn trường thi của HS. Đó là lý do mà chúng tôi
thực hiện nghiên cứu đề tài này.
3.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu nhằm vận dụng phạm trù, khái niệm, phương pháp nghiên cứu và lý
thuyết Xã hội học vào mô tả, giải thích thực trạng nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động đến
lựa chọn trường CĐ, ĐH của học sinh THPT hiện nay. Dựa trên kết quả thu được, nghiên cứu
cũng mong góp phần làm giàu thêm tri thức xã hội học trong lĩnh vực cụ thể làvấn đề chọn
trường thi CĐ - ĐH của học sinh.
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở phân tích một cách khoa học, chúng tôi mong muốn nắm bắt kịp thời nhận
thức, nhu cầu đúng đắn/ sai lệch về lựa chọn trường CĐ - ĐH của học sinh THPT. Từ đó đưa ra
những khuyến nghị và giải pháp thiết thực nhằm tác động tích cực đến nhận thức của học sinh
THPT Việt Yên 1 trong việc lựa chọn trường CĐ- ĐH. Trong một chừng mực nào đó khuyến
nghị đó có thể suy rộng ra cho học sinh các trường THPT nói chung về nhận thức nghề nghiệp
trong tương lai từ đó có sự chọn lựa trường thi CĐ - ĐH phù hợp.
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
việc lựa chọn trường CĐ - ĐH để dự thi.
(2) Học sinh THPT đều có nguyện vọng dự thi vào các trường CĐ - ĐH, HS THPT hiện
nay có nhu cầu cao về việc được luyện thi CĐ - ĐH, tìm hiểu thông tin thi CĐ - ĐH, các hoạt động
hướng nghiệp phục vụ mục đích lựa chọn trường CĐ - ĐH.
(3) Có rất nhiều yếu tố tác động đến việc lựa chọn trường CĐ - ĐH của học sinh THPT
ngoài bản thân mỗi cá nhân HS còn có các yếu tố như : gia đình, bạn bè, nhà trường, truyền
thông đại chúng, đặc điểm của trường CĐ - ĐH.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu lấy lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử làm nền tảng cơ sở để nhìn nhận vấn đề nghiên cứu trong một bối cảnh lịch sử xã hội cụ thể
và trong sự vận động biến đổi, tác động qua lại của nó với các điều kiện kinh tế - xã hội của đất
nước nói chung và của ngành giáo dục nói riêng.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng nhìn các hiện tượng xã hội trong mối quan hệ nhân
quả. Theo đó, mọi hiện tượng trong xã hội không tồn tại độc lập mà luôn tương tác, ảnh
hưởng lẫn nhau. Do đó, khi nghiên cứu bất kỳ một hiện tượng, một vấn đề xã hội nào chúng
ta cũng cần đặt chúng trong một bối cảnh xã hội cụ thể, trong một môi trường xác định,
nghĩa là cần xem xét hiện tượng, vấn đề xã hội đó trong mối quan hệ tương tác với các hiện
tượng, vấn đề xã hội khác.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử nhìn các hiện tượng xã hội trong một quá trình, nghĩa là
mọi hiện tượng trong xã hội không tồn tại một cách bất biến mà luôn luôn vận động, có sự
hình thành, phát triển và tiêu vong. Do đó, khi nghiên cứu một hiện tượng, vấn đề xã hội nào
thì cần xem xét nó trong một quá trình và đặt nó trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
Những nguyên tắc và quan điểm của xã hội học Mác - Lênin được xác định là kim chỉ
nam xuyên suốt quá trình nghiên cứu của đề tài, do đó nó trở thành phương pháp luận của đề tài.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, vấn đề nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động
tới lựa chọn trường thi CĐ – ĐH của HS được nhìn nhận trong mối quan hệ qua lại tác động với
các yếu tố của môi trường xã hội chung (gia đình, nhà trường, bạn bè, các phương tiện truyền
thông đại chúng) và trong mối quan hệ với các yếu tố cá nhân của học sinh như (giới tính, học
lực)
201
67,0
Trung bình
80
26,7
Yếu
2
0,7
Nghề nghiệp của
bố mẹ
Viên chức NN
52
17,3
Nông nghiệp
77
25,7
Lao động tự do
47
15,7
Kinh doanh
90
30,0
Nghề khác
34
11,3
References
1. Trần Đình Chiến (2008), “Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lớp 12 trường THPT
dưới ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường”, (khảo sát tại tỉnh Phú Thọ), Luận văn thạc sĩ
Giáo dục học, Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Thái Nguyên )
2. Phạm Huy Cường (2009), Các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên năm
cuối các ngành khoa học xã hội (Nghiên cứu trường hợp trường Đại học khoa học xã hội và
nhân văn), Luận văn thạc sĩ Xã hội học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại
học quốc gia Hà Nội
3. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (1997), Xã hội học đại cương, Nhà xuất bản Đại học quốc gia
Hà Nội, Hà Nội
4. Phạm Tất Dong (chủ biên) - Đặng Danh Ánh - Nguyễn Thế Trường - Trần Mai Thu - Nguyễn
Dục Quang, Hoạt động giáo dục hướng nghiệp lớp 10, Nhà xuất bản Giáo dục, 2004
5. Nguyễn Thị Vân Hạnh : Tạp chí khoa học giáo dục số 16, tháng 12/2007 : Nhu cầu học nghề
của học sinh phổ thông.
6. Nguyễn Văn Hộ (Chủ biên), Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006), Hoạt động hướng nghiệp và
giảng dạy kỹ thuật trong trường trung học phổ thông, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội
7. Lê Ngọc Hùng, Lịch sử và lí thuyết xã hội học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội
8. Nguyễn Hùng (chủ biên) (2008), Sổ tay tư vấn hướng nghiệp và chọn nghề, Nhà xuất bản giáo
dục, Hà Nội
9 .Mai Quang Huy (2006), Hướng nghiệp và cơ cấu hệ thống giáo dục nghề nghiệp, Tạp chí Dạy
và học ngày nay, số 2, tr 46 – 47
10. Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh (2001), Phương pháp nghiên cứu xã hội học, Nhà
xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội
11. Trần Văn Quý, Cao Thi Hào (2009),“Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường Đại
học của học sinh phổ thông trung học”. Tạp chí phát triển KH&NC tập 12, số 15- 2009,
Trường Đại học Bách Khoa, Đại học Quốc Gia TPHCM
12. Nguyễn Minh Ngọc (2008), Nhận thức nghề và lựa chọn nghề của học sinh THPT Dân tộc
nội trú tỉnh Bac Giang, Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội
13. Nguyễn Thanh Ngọc (2012), Yêu cầu của nhà tuyển dụng về những kỹ năng cơ bản đối với
College of Arts and Sciences UNIVERSITI UTARA MALAYSIA.
27.RuthE.Kallio(1995), Factors influencing the college choice decisions of graduate students.
Researchin HigherEducation,Vol.36,No.1.
28.http://antv.gov.vn/xahoi/hang-van-hs-khong-hoc-gi-sau-tot-nghiep/3218.html
29.http://laodong.com.vn/tuyen-sinh/tuyen-sinh-dhcd-2014-cao-dang-lien-thong-trung-cap-
khon-don-188758.bld
30.http://www.tienphong.vn/giao-duc/72000-cu-nhan-thac-si-that-nghiep-688752.tpo
31.http://sgdbinhduong.edu.vn/Tintuc/Tonghop/tabid/261/Mode746/3/catId/14/NewsId/2718/De
fault.aspx