ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ BƯỞI
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ NHẬP KHẨU NHẰM TĂNG
CƯỜNG NĂNG LỰC NỘI SINH VỀ CÔNG NGHỆ CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÔNG TY CỔ PHẦN
TIẾN BỘ QUỐC TẾ - AIC)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.72 Hà Nội, 2014
Hà Nội, 2014
1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI CẢM ƠN 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Lí do nghiên cứu 6
2. Lịch sử nghiên cứu 7
3. Mục tiêu nghiên cứu 10
4. Phạm vi nghiên cứu 10
5. Mẫu khảo sát 11
6. Câu hỏi nghiên cứu 11
7. Giả thuyết nghiên cứu 11
8. Phương pháp nghiên cứu 11
9. Kết cấu của luận văn 11
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 12
1.1. Các khái niệm cơ bản 12
1.1.1. Khái niệm công nghệ 12
1.1.2. Khái niệm phát triển công nghệ 14
1.1.3. Khái niệm về năng lực nội sinh nói chung 15
1.1.4. Khái niệm năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ 17
1.1.5. Khái niệm chuyển giao công nghệ 22
1.1.6. Hình thức và phương thức chuyển giao công nghệ 24
1.1.7. Khái niệm nhập khẩu công nghệ 25
1.1.8. Các hình thức nhập khẩu 25
1.2. Vai trò của chuyển giao công nghệ đối với doanh nghiệp 27
3.1. Các căn cứ để nhập khẩu công nghệ 74
3.1.1. Tính tất yếu khách quan của nhập khẩu công nghệ 74
3.1.2. Chính sách nhập khẩu công nghệ 77
3.1.3. Nhu cầu và thách thức đối với doanh nghiệp 83
3.2. Phát triển công nghệ nhập khẩu là giải pháp hiệu quả để tăng cường
năng lực nội sinh về công nghệ của các doanh nghiệp 84
TÓM TẮT NỘI DUNG CHƯƠNG III 87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
3
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Khoa Khoa học
quản lýđã dạy và giúp tôi rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu tại
khoa Khoa học quản lý - chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ tại
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy chủ nhiệm bộ môn,
các thầy cô trong trường và ban lãnh đạo nhà trường đã tạo điều kiện và hỗ
trợ trong suốt quá trình tôi tham gia học tập và nghiên cứu tại Trường.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Lê Thanh Bình đã giành
thời gian, công sức hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Thầy đã có những ý kiến đóng góp hữu ích nên tôi đã học hỏi và tiếp thu
nhiều kiến thức lý luận, phương pháp luận và thực tiễn để áp dụng vào nghiên
cứu khoa học.
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế AIC………58
Bảng 2.2: Bảng cơ cấu ngành hàng nhập khẩu………………………………61
Bảng 2.3: Bảng cơ cấu ngành hàng ủy thác nhập khẩu…………………… 63
Bảng 2.4: Bảng trị giá kim ngạch nhập khẩu qua 2 phương thức chính…….64
Bảng 2.5: Báo cáo tài chính tóm tắt 2011-2013…………………………… 71
Bảng 2.6: Thống kê tóm tắt giá trị cung cấp sản phẩm công nghệnhập khẩu
Công nghệ là trung tâm của nhiều thay đổi đang diễn ra ở các khu vực
sản xuất và dịch vụ của nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, tại nhiều
nước đang phát triển, hầu hết việc sáng tạo công nghệ mới vẫn còn bị giới hạn
trong các viện nghiên cứu, các trường đại học và các tổ chức này có xu hướng
bị tách rời với hệ thống sản xuất. Kết quả là, hoạt động sản kinh doanh vẫn
nằm bên lề của sản phẩm tri thức, làm hạn chế khả năng cạnh tranh và phát
triển kinh tế của các nước đó. Tuy nhiên, tại rất nhiều nước đang phát triển
khác vẫn duy trì nhưng nỗ lực tăng cường sản sinh công nghệ bằng cách tập
trung vào việc du nhập, sử dụng, lắp ghép và thay đổi các công nghệ nhập
khẩu. Việc chuyển đổi từ tình trạng du nhập để trở thành nước sáng tạo công
nghệ mới đòi hỏi một sự đầu tư học hỏi công nghệ lâu dài, nghĩa là, cần tích
lũy năng lực để có thể tạo ra những thay đổi công nghệ phức tạp hơn. Bởi vì,
cho dù việc phù hợp hóa các công nghệ nhập khẩu hiệu quả đến đâu đi nữa,
các doanh nghiệp ở các nước cần đầu tư cho nghiên cứu khoa học, phát triển
công nghệ và cho các nỗ lực sản sinh công nghệ của chính mình. Trong giai
đoạn hiện nay của nước ta, việc sử dụng công nghệ trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp hầu hết là sử dụng các công nghệ nhập khẩu bởi
vì quỹ dành cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của các doanh
nghiệp hạn chế.Đối lập với quỹ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
của nhà nước, quỹ nghiên cứu và phát triển công nghệ tư nhân nhằm mục đích
tìm kiếm lợi nhuận.Nói cách khác, các doanh nghiệp có xu hướng tài trợ rất ít
cho các công trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có giá trị
thương mại trong ngắn hạn, cho dù nghiên cứu khoa học có thể đem đến cho
công chúng giá trị thụ hưởng vô cùng to lớn. Do đó, trong giai đoạn hiện nay,
với nhu cầu công nghệ tăng cao trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhưng
năng lực công nghệ của nước ta còn hạn chế, vì vậy cần có giải pháp nhất
định để tăng cường khả năng công nghệ của đất nước gắn liền với hệ thống
7
sản xuất để tăng khả năng cạnh tranh và phát triển kinh tế. Chính vì những lí
đổi mới công nghệ và R&D trong doanh nghiệp đó là chính sách tài chính và
chính sách nhân lực. Đề tài đã kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu sau:
a. Mặc dù môi trường chính sách tài chính đã có những tiến bộ nhất định
trong thời gian qua và đã bao gồm khá đầy đủ thuộc cơ chế khuyến khích đổi
mới công nghệ và R&D trong các doanh nghiệp. Tuy nhiên, do việc soạn thảo
và ban hành một số văn bản chính sách còn vội vàng, nội dung quy định còn
quá chung và chưa thể hiện sự hiểu biết thấu đáo về đặc thù của hoạt động đổi
mới công nghệ và R&D nên hiệu quả còn thấp.
b. Chính sách về nhân lực có tầm quyết định quan trọng trong đổi mới
công nghệ và R&D trong doanh nghiệp, trong nhiều trường hợp còn cấp bách
hơn chính sách tài chính.
c. Giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp theo kiểu trọng cung bằng cơ
chế khuyến khích trực tiếp cho doanh nghiệp khi họ đổi mới nếu không quan
tâm xử lý các vần đề nằm trong các yếu tố của kinh tế vĩ mô, vào nhu cầu
cạnh tranh và tính cấp thiết của đổi mới thì hiệu quả của các chính sách đẩy sẽ
rất thấp và tình trạng chung của đổi mới công nghệ và R&D trong doanh
nghiệp sẽ còn tiếp tục yếu.
2.2. Đề tài: “Các biện pháp tăng cường năng lực nội sinh về khoa học và
công nghệ phục vụ phát triển bền vững ở Việt Nam” của Nguyễn Danh Sơn
và các tác giả (2003). Ở đề tài nghiên cứu này, tác giả đã đi sâu nghiên cứu về
thực trạng năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ của Việt Nam để từ đó
đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường năng lực này để đáp ứng yêu cầu
phát triển bền vững của đất nước
- Về định hướng giải pháp, đề tài đưa ra biện pháp tăng cường năng lực
nội sinh về KH&CN theo hai hướng: Một là,tăng cường tiềm lực/ các nguồn
lực KH&CN; hai là, tăng cường xã hội hóa trong huy động và sử dụng tiềm
lực/ nguồn lực KH&CN
- Về các giải pháp chiến lược và tăng cường năng lực nội sinh về KH&CN
tác giả đưa ra nhóm các giải pháp đối với việc nâng cao từng năng lực: Năng
lực nghiên cứu khoa học, năng lực ra quyết định về đổi mới định hướng phát
quan đến điều chính chính sách nhập khẩu công nghệ mới, công nghệ cao của
Việt Nam đến năm 2020.
10
- Hoàn thiện chính sách về nhập khẩu và chuyển giao công nghệ.
- Hoàn thiện hệ thống các chính sách liên quan đến nhập khẩu và
chuyển giao công nghệ.
- Đổi mới công tác quản lý và tổ chức nhập khẩu công nghệ.
- Các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác làm chủ công nghệ
nhập khẩu.
- Khuyến khích và tạo điều kiện cho các hiệp hội ngành phát triển.
- Xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện chiến lược phát triển công
nghệ quốc gia.
Đây là một trong những đề xuất có tính chiến lược quốc gia và gắn
doanh nghiệp với yêu cầu phát triển năng lực nội sinh của đất nước thông qua
chính sách nhập khẩu công nghệ.Đến thời điểm hiện tại, các nội dung đề xuất
vẫn còn có giá trị thực tế.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Đưa ra giải pháp nhằm tăng cường năng lực nội sinh về công nghệ của
doanh nghiệp.
4. Phạm vi nghiên cứu
Nhằm giới hạn phạm vi nghiên cứu theo mục tiêu của đề tài đã đặt ra,
tôi tập trung nghiên cứu giải pháp nhằm tăng cường năng lực nội sinh về công
nghệ của doanh nghiệp thông qua giải pháp phát triển công nghệ nhập khẩu
và ở giải pháp phát triển công nghệ, đề tài chú trọng đến khía cạnh phát triển
theo chiều rộng hay phổ cập công nghệ (phát triển về lượng – Extensive
Development of Technology): mở rộng công nghệ, nhân bản công nghệ để có
số lượng nhiều hơn.
- Phạm vi không gian: Công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế - AIC.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2011 – 2013.
12
Chương 2. Thực trạng sử dụng công nghệ nhập khẩu và năng lực nội
sinh về công nghệ của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay
(Nghiên cứu trường hợp công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế)
Chương 3. Phát triển công nghệ nhập khẩu là giải pháp hiệu quả để
tăng cường năng lực nội sinh về công nghệ của các doanh nghiệp trong
giai đoạn hiện nay.
CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm công nghệ
Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết,
công cụ, phương tiện dùng để biển đổi các nguồn lực thành sản phẩm. [5;
điều 3]
Theo định nghĩa này có thể hiểu công nghệ gồm hai phần khác nhau là
phần cứng và phần mềm.Phầm mềm của công nghệ bao gồm các phương
pháp, quy trình hay bí quyết được sử dụng nhằm biến đổi các nguồn lực thành
sản phẩm.Phần cứng của công nghệ bao gồm công cụ, phương tiện (máy móc,
thiết bị, dụng cụ) được sử dụng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
Theo Các Mác “công nghệ làm nổi bật thái độ tích cực của con người
đối với tự nhiên, vạch rõ quá trình sản xuất trực tiếp ra đời sống của con
người và những điều kiện của đời sống xã hội của họ, cũng như những khái
niệm tinh thần bắt nguồn từ điều kiện ấy”. Quan niệm này do Các Mác trình
bày trong bộ Tư bản đã chỉ ra: một là, thông qua công nghệ, bộc lộ mối quan
hệ của con người với tự nhiên; hai là, thông qua công nghệ, bộc lộ mối quan
hệ giữa người với người; ba là, thông qua công nghệ, hình thành nên mối
quan hệ biện chứng tự nhiên – con người – xã hội… Bản thân các yếu tố của
công nghệ cũng được hình thành thông qua mối quan hệ ấy.
Đây cũng chính là quá trình con người nắm bắt các quy luật của tự
nhiên và vận dụng chúng vào trong các hoạt động sống của mình. Cải tạo, đổi
cho ràng công nghệ gồm 5 yếu tố (5M): Management (quản lý), Money (tiền
vốn), Market (thị trường), Machine (máy móc), Materials (nguyên vật liệu),
tức là đưa là cả tiền vốn, nguyên vật liệu và thị trường vào thành phần của
1
Xem GS. Nguyễn Đức Bình, GS.TS Lê Hữu Nghĩa, GS.TS Trần Hữu Tiến (đồng chủ biên): Góp phần nhận
thức thế giới đương đại, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, xem sdđ, tr99
14
công nghệ. Các tác giả Dahlman C.J và Westphal L.E còn mở rộng khái niệm
đến mức cho rằng: “Công nghệ bao gồm các quá trình vật chất chuyển hóa
các đầu vào thành các đầu ra và kết cấu xã hội có liên quan đến quá trình
chuyển hóa này”
2
1.1.2. Khái niệm phát triển công nghệ
Khái niệm Phát triển công nghệ và triển khai công nghệ trong Tiếng Việt
đều chỉ tương ứng với một từ tiếng Anh là “Development of Technology”. Để
thống nhất cách hiểu và sử dụng khi tham khảo các tài liệu và các nội dung có
liên quan, chúng ta cần phân biệt cách dùng đúng nghĩa của 2 từ này trong
Tiếng Việt, trước hết cần phân biệt rõ khái niệm “phát triển” và “triển khai”
Khái niệm phát triển Khái niệm triển khai
Nội hàm: Tạo ra cái mới hoặc hoàn
thiện, làm thay đổi về căn bản cái đã có
để có cái tốt hơn, tiến bộ hơn. Cái mới,
cái được hoàn thiện (tức phát triển) có
thể có hai khía cạnh chính: Phát triển
về số lượng và phát triển về chất lượng
Nội hàm: Tiến hành thực hiện một
công việc, một nội dung nào đó hay
Phân biệt Phát triển công nghệ và Triển khai công nghệ
Phát triển công nghệ là sáng tạo ra sản phẩm hay công nghệ mới hoặc
đổi mới một cách căn bản công nghệ đã có.
Phân loại Phát triển công nghệ
3
:
- Phát triển công nghệ theo chiều sâu hay phát triển về chất lượng
công nghệ (Intensive Development of Technology hay Upgrading of
Technology) nhằm sáng tạo ra công nghệ mới hay làm cho công
nghệ cũ trở thành có tính năng tốt hơn, sản phẩm của công nghệ có
chất lượng tốt hơn bằng cách thay đổi có tính căn bản công nghệ đã
có.
- Phát triển công nghệ theo chiều rộng hay phổ cập công nghệ (phát
triển về lượng – Extensive Development of Technology): mở rộng
công nghệ, nhân bản công nghệ để có số lượng nhiều hơn.
Triển khai công nghệ: Là đưa công nghệ vào hoạt động sản xuất hay
nhân bản công nghệ để có nhiều công nghệ cùng loại. Triển khai công nghệ
được hiểu là phát triển công nghệ theo chiều rộng
Trong luận văn này, tôi sử dụng khái niệm Phát triển công nghệ theo
chiều rộng hay là phổ cập công nghệ và đi sâu phân tích nó trong trường hợp
ứng dụng cụ thể tại Công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế
1.1.3. Khái niệm về năng lực nội sinh nói chung
Khái niệm năng lực nội sinh là khái niệm tương đối mới. Việc đi sâu
nghiên cứu và cụ thể hóa khái niệm chỉ được bắt đầu bằng đề tài nghiên cứu:
3
Tham khảo bài viết của ThS. Nguyễn Đăng Hải, Khái niệm nghiên cứu, Tạp chí Hoạt động Khoa học số
4.2001
16
17
Năng lực nội sinh gắn chặt với năng lực cạnh tranh. Năng lực nội sinh
mạnh thể hiện ra ngoài là năng lực cạnh tranh mạnh vì đó là phương thức phổ
biến để duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp, hay của nền kinh tế thị trường
cạnh tranh khốc liệt cùng với toàn cầu hóa. Năng lực nội sinh gắn chặt với
mọi lĩnh vực của hoạt động hay chủ thể cụ thể và sự phối kết hợp giữ năng
lực nội sinh của các lĩnh vực/chủ thể trong nền kinh tế quốc dân tạo nên nội
lực, sức mạnh bên trong của một quốc gia.
1.1.4. Khái niệm năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ
Ở Việt Nam, trong các văn bản của quản lý nhà nước sử dụng thuật ngữ
năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ. Trong đề tài nghiên cứu này, tôi
cũng sử dụng thuật ngữ này và nó cũng tương ứng với thuật ngữ “endogenous
capacity in science &technology” mà trong một số tài liệu Tiếng Anh sử
dụng. Vậy, năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ là gì?
Năng lực nội sinh về KH&CN là một khái niệm tác nghiệp xuất phát từ
một diễn đàn toàn cầu của Liên hiệp quốc (LHQ) là cuối những năm 70 của
thế kỷ XX. Lần đầu tiên khái niệm này được nêu thành luận điểm bao trùm là
tại Hội nghị Viên (Cộng hòa Áo) năm 1979, và sau đó trong đợt tổ chức tổng
kết 10 năm Chương trình hành động Viên (VPA Vienna Program of Action)
vào năm 1989 tại Đại hội đồng LHQ đã trở thành một khái niệm tác nghiệp
trung tâm trong các đề án lớn về chính sách khoa học phục vụ phát triển cho
các nước thế giới thứ ba trong đó có Việt Nam. Theo các tài liệu của Liên
hiệp quốc thì “năng lực nội sinh về KH&CN” là khả năng ra quyết định một
cách có tổ chức của một chủ thể về việc phát triển và ứng dụng khoa học và
công nghệ vì các mục tiêu phát triển, giải quyết các nhu cầu cơ bản của dân
chúng”
“Năng lực nội sinh về KH&CN” thực chất là năng lực làm chủ quá
trình phát triển KH&CN của đất nước, bao gồm xác nhận mục tiêu, xây dựng
và sử dụng tiềm lực KH&CN có khả năng huy động các nguồn lực KH&CN
Ở đề tài của tác giả Nguyễn Sĩ Lộc đã nêu lên 3 yếu tố chính tạo nên
năng lực nội sinh về trong KH&CN của một quốc gia:
19
- Khả năng nhận thức tường tận nhu cầu của phát triển của chính
mình qua lăng kính khoa học và công nghệ và nêu thành nhiệm vụ
khoa học kỹ thuật cần giải quyết và có thể giải quyết được, nói cách
khác có thể thanh toán được.
- Khả năng thẩm định công nghệ, tức là nhận thức và đánh giá được
những công nghệ đã có trên thị trường thế giới hoặc trong nước để
có thể chọn trúng những công nghệ hoặc những khâu công nghệ cần
thiết còn thiếu phù hợp với hoàn cảnh riêng của đất nước, trong đó,
quan trọng là làm sao không tổn hại môi trường để có thể duy trì
phát triển bền vững.
- Khả năng thiết lập các cơ chế chính sách nhất định sao cho có thể
huy động những lực lượng cần thiết trong xã hội để thực hiện kỳ
được những giải pháp công nghệ đó, mang lại hiệu quả thiết thực
cho công cuộc phát triển.
Theo cách tiếp cận của Fransman thì năng lực công nghệ của một quốc
gia bao gồm các yếu tố
4
:
Năng lực tìm kiếm và lựa chọn các công nghệ nhập khẩu thích hợp
- Năng lực nắm vững và sử dụng có hiệu quả các công nghệ nhập
khẩu;
- Năng lực thích nghi công nghệ nhập khẩu cho phù hợp với điều kiện
sản xuất trong nước;
- Năng lực đổi mới, phát triển công nghệ hiện có ở trong nước;
- Năng lực tìm kiếm, đổi mới và đột phá trong lĩnh vữ nghiên cứu và
triển khai trong nước;
Tích chất nội sinh trong năng lực công nghệ của các doanh nghiệp thể
hiện ở khả năng các doanh nghiệp có thể tiến hành, thực hiện được các nội
hàm (yếu tố) của năng lực công nghệ gồm: Năng lực vận hành, năng lực giao
dịch, năng lực đổi mới, năng lực hỗ trợ, cụ thể
6
:
Năng lực vận hành thể hiện ở việc doanh nghiệp có thể biến đổi có hiệu
quả các loại đầu vào thành những sản phẩm đầu ra tương ứng với chiến lược
kinh doanh của doanh nghiệp:
5
Có thể tham khảo thêm: Nguyễn Danh Sơn và các tác giả (2003), các biện pháp tăng cường năng lực nội
sinh về khoa học và công nghệ phục vụ phát triển bền vững ở Việt Nam,http://123doc.vn/document/2256989,
10/9/2013
6
Nguồn: Có thể tham khảo chi tiết trong: “Các cách tiếp cận về năng lực công nghệ”, tài liệu tổng quan khoa
học công nghệ môi trường, NXB Trung tâm Khoa học tư liệu Khoa học công nghệ quốc gia, 2000)
21
+ Năng lực sử dụng hiệu quả thiết bị và nhà máy hiện có;
+ Năng lực lập kế hoạch và điều hành các hoạt động sản xuất;
+ Năng lực khắc phục hư hỏng và tiến hành các công việc bảo
dưỡng để dự phòng, ngăn chặn và bảo dưỡng khi có sự cố;
+ Năng lực thay đổi nhanh để chuyển sang các model mới;
+ Năng lực sử dụng các hệ thống thông tin và điểu khiển máy tính
hóa nhằm trợ giúp thông tin và tạo ra các mạng lưới phục vụ hoạt
động sản xuất.
- Năng lực giao dịch thể hiện ở việc doanh nghiệp lập kế hoạch và
sản xuất;
+ Năng lực lập kế hoạch và quản lý dự án;
+ Năng lực lập kế hoạch và thực hiện các chương trình để phát triển
vững chắc nguồn lực con người;
+ Năng lực tạo ra tri thức và chiết suất những kỹ năng tiềm tàng
Với cơ sở nội hàm khái niệm năng lực nội sinh về khoa học và công
nghệ nêu ra ở trên là cơ sở lý luận để phân tích các yếu tố đánh giá về năng
lực nội sinh về khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, làm cơ sở đưa ra
các giải pháp nhằm tăng cường năng lực nội sinh về công nghệ của doanh
nghiệp trong giai đoạn hiện nay.
1.1.5. Khái niệm chuyển giao công nghệ
Chuyển giao công nghệ (CGCN) là chuyển giao quyền sở hữu hoặc
quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển
giao công nghệ sang bên nhận công nghệ.[3; điều 3].Trong đó
7
:
- Chuyển giao quyền sở hữu công nghệ: là việc chủ sở hữu công nghệ
chuyển giao toàn bộ quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt công
nghệ cho tổ chức, cá nhân khác. Trường hợp công nghệ là đối tượng được bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp thì việc chuyển giao quyền sở hữu công nghệ
phải được thực hiện cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp
theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
7
Luật chuyển giao công nghệ (2006), Chương II, điều 16,17
23
- Chuyển giao quyền sử dụng công nghệ: tổ chức, cá nhân cho phép tổ
chức, cá nhân khác sử dụng công nghệ của mình.
Phạm vi chuyển giao quyền sử dụng công nghệ do các bên thỏa thuận