ĐỀ ÁN
Các nhân tố ảnh hưởng đến
phát triển ngành công
nghiệp chế biến rau quả
§Ò ¸n m«n Kinh tÕ vμ Qu¶n lý C«ng nghiÖp
Sinh viªn: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: C«ng nghiÖp 44C 1
LỜI MỞ ĐẦU
1/ Tính cấp thiết của đề tài.
Từ lý luận và thực tiễn cho thấy: ngành công nghiệp chế biến nông sản là
một ngành kinh tế có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền KTQD. Trong đó
công nghiệp chế biến rau quả có vị trí trọng yếu trong công nghiệp chế biến
nông sản bởi lẽ: rau quả là một loại hàng hoá có tính chất đặc biệt , nó rất khó
bảo quản, không thể để lâu sau khi thu hoạch, chất l
ượng, hàm lượng chất dinh
dưỡng chứa trong nó nhanh bị giảm sút. Do vậy, phát triển công nghiệp chế
biến rau quả sẽ tạo điều kiện cho việc xử lý, chế biên các loại rau quả ở dạng
nguyên thuỷ có thể giữ, bảo quản được lâu hơn, tạo ra các loại hàng hoá ,sản
phẩm khác có đặc trưng của loại rau quả đó…Nó tạo điều kiện cho ngành nông
nghiệp phát triển,
đặc biệt là lĩnh vực trồng các loại rau quả theo hướng tập
trung, chuyên canh.
Thực tiễn trên thế giới cho thấy, ngành công nghiệp chế biến rau quả của
nhiều nước rất phát triển, sản phẩm của họ rất đa dạng, phong phú về chủng
loại, chất lượng tốt, giá rẻ, có khả năng cạnh tranh cao cho nên các loại sản
phẩm rau quả của họ có thể xuất kh
ẩu sang nhiều nước trên thế giới như: Thái
Thu thập dữ liệu thứ cấp từ sách báo, tạp chí, mạng; sau đó xử lý các
thông tin từ dữ liệu đó.
4/ Bố cục của đề tài được chia làm 3 phần chính:
*Phần I
: Khái quát chung về ngành công nghiệp chế biến rau quả.
*Phần II
: Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển ngành công nghiệp chế biến
rau quả
*Phần III
: Thực trạng và giải pháp.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, em không thể tránh khỏi những sai sót.
Em mong thầy thông cảm và góp ý để em hoàn thành đề tài được tốt hơn. Em
xin chân thành cảm ơn !
3
NỘI DUNG
PHẦN I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÀNH CNCBRQ.
I/ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH CNCBRQ.
1. Khái quát về công nghiệp chế biến rau quả.
Công nghiệp chế biến rau quả là một ngành công nghiệp chế biến mà ở đó
nó sử dụng các loại rau quả tươi mới được thu hoạch làm nguyên liệu đầu vào
nhằm chế biến, biến đổi chúng thành các loại rau quả vẫn còn nguyên giá trị
ban đầu của nó nhưng có chất lượng cao hơn, an toàn v
ệ sinh hơn, thời gian
bảo quản được lâu hơn. Hoặc biến các loại rau quả thành các sản phẩm khác
nhưng vẫn giữ được những tính chất đặc trưng của nó như: nước ép trái cây,
các loại bánh kẹo trái cây,các loại sản phẩm sấy khô Ngoài ra công nghiệp chế
vị, làm cho khẩu phần ăn có nhiều chất dinh dưỡng hơn. Hàng ngày trong bữa
ăn không có rau quả thì tạo ra cảm giác rất khó chịu, ăn sẽ không thấy ngon.
Càng ngày mọi người càng thấy được tần quan trọng của rau quả cho nên thay
vì dùng các loại đồ ăn từ lương thực, họ chuyển sang dùng các loại rau quả
nhiều hơn. Rau quả chứa chất chống ôxi hoá. Vấ
n đề nằm ở chất carotene.
Carotene là thứ cung cấp cho rau quả màu sắc và vị ngon. Có hơn 600 loại
carotene trong thực vật và một số loài động vật. Các loại carotene chính mà con
người vẫn hấp thu bao gồm beta-carotene, alpha-carotene, lycopene, lutein,
zeaxanthin, and beta-cryptoxanthin. Lycopene sở hữu lượng chất chống oxi hoá
nhiều nhất, tiếp theo là beta-carotene và beta-cryptoxanthin, cuối cùng là lutein,
zeaxanthin. Tác dụng đầu tiên của chất chống oxi hoá là hấp thu các oxi gây hại
ngày càng nhiều trong cơ thể theo tuổi tác, gây ra các căn bệnh như suy gi
ảm
trí nhớ và các bệnh thoái hoá. Ngoài ra chất này còn có tác dụng bảo vệ thành
mạch máu. Trong một khẩu phần các loại rau quả bình thường có từ 300-400
đơn vị ORAC (số đo hàm lượng chất chống oxi hoá). Nhưng một số loại rau
quả đặc biệt như cải xoăn, tỏi, hàm lượng chất này cao hơn rất nhiều, hoặc cà
rốt lại có hàm lượng chất này rất thấp.Rau quả cung cấp đầy đủ
vitamin. Dĩ
nhiên, ai cũng biết, phải ăn cả rau quả cùng với thịt thì lượng vitamin vào cơ
thể mới đầy đủ. Rau quả nói chung là nguồn cung cấp quan trọng nhất vitamin
A, vitamin C và acid folic. Thiếu acid folic, lượng tế bào hồng cầu sẽ giảm đi,
cơ thể nhanh chóng bị mỏi mệt, quá trình sản xuất tế bào bạch cầu chậm lại, cơ
thể sẽ bị nhiễm bệnh hơn. Acid folic có nhiề
u nhất trong súp lơ, cải xoong, cải
5
bắp, đậu Hà Lan Bên cạnh đó, cũng có một số loại đặc biệt cung cấp tốt
vitamin B1. Khoai tây và các loại rau lá xanh được coi là nguồn vitamin B2 dồi
quan trọng trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, xử lý các loại vi
khuẩn, khử các chất độc hại, có thời gian bảo quản được lâu hơn. Từ đó, đảm
6
bảo được nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của con người mà không ảnh hưởng xấu
tới sức khoẻ của chúng ta. Tất cả những yếu tố kể trên, chất xơ, các loại
vitamin, khoáng chất, dinh dưỡng trong rau quả còn được gọi chung là
phytochemicals (dược- thực vật) bởi chúng có nhiều khả năng đặc biệt trong
việc phòng chống và chữa bệnh. Ăn nhiều hoa quả tối thiếu cũng giúp giảm
nguy cơ
bị tim mạch và đột quỵ, dễ dàng khống chế hàm lượng cholesterol
trong máu hơn, phòng chống một số bệnh về thị giác, cho làn da đẹp và khoẻ
mạnh hơn.
- Chính vì nhận thức được tầm quan trọng của việc tiêu dùng rau quả, cho
nên các loại sản phẩm rau quả được tiêu dùng rộng rãi trong nước và xuất khẩu.
Hầu như mọi người trong xã hội đều có nhu cầu sử dụng các loại rau quả tươ
i
sống đã qua chế biến hoặc các sản phẩm được làm từ rau quả.
2.2 Nguyên liệu.
2.2.1 Vùng nguyên liệu.
Vùng nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến rau quả có thể
chia làm hai loại đó là: vùng nguyên liệu tập trung và phi tập trung.
Vùng nguyên liệu tập trung là vùng nguyên liệu mà ở đó các loại rau quả
được trồng tập trung vào các trang trại, các vùng chuyên canh. Ở đó có thể sản
xuất tập trung chủ yếu vào một số lo
ại mặt hàng rau quả nào đó. Ví dụ như
vùng chuyên sản xuất các loại rau, chuyên sản xuất các loại quả như: xoài,
dứa Vùng nguyên liệu tập trung nó tạo điều kiện thuân lợi cho việc thu mua
tập trung, cung cấp kịp thời các loại rau quả cho các nhà máy chế biến. Nó đảm
bảo cho quá trình chế biến rau quả diễn ra một cách liên tục.
khác nhau, do đó làm cho các mặt hàng ra quả rất phong phú và đa dạng. Do
vậy các cơ sở chế biến cần nắm rõ được vấn đề này để có các biện pháp điều
chỉnh trong chế biến sao cho hợp lý, tận dụng được tối đa nguồn nguyên liệu
phong phú đó.
2.3. Lao động.
Lao độ
ng trong ngành công nghiệp chế biến rau quả ngoài những đặc
điểm giống như những ngành công nghiệp khác nó còn có những đặc trưng
riêng: lao động mang tính tập trung và lao động mang tính mùa vụ. Lao động
mang tính tập trung là nó thể hiện số lượng lao động thường xuyên làm trong
các xí nghiệp chế biến, các doanh nghiệp chế biến luôn phải giữ số lao động
8
này một cách ổn định, mang tính lâu dài. Còn lao động theo mùa vụ, đối với
những doanh nghiệp chế biến phụ thuộc vào những loại rau quả theo mùa vụ,
vào đúng mùa thu hoạch thì có một lượng rau quả tương đối nhiều cần phải huy
động một lượng lao động tương đối nhiều do vậy doanh nghiệp cần phải tuyển
nhiều lao động hơn, khi mùa thu hoạch đó kết thúc thì doanh nghiệp không
thuê họ n
ữa, khi nào đến mùa thì tiếp tục thuê họ.
Khi nền công nghiệp chế biến phát triển với trình độ chuyên môn hoá cao
đòi hỏi trình độ của người lao động cũng phải nâng cao. Do đó, đối với ngành
công nghiệp chế biến rau quả thì ngoài việc nguời lao động có trình độ tay nghề
thành thạo thì đòi hỏi họ phải có đạo đức trong khi tiến hành chế biến vì các
sản phẩm do họ làm ra vẫn còn nhiều khâu còn phải làm thủ
công trực tiếp, các
sản phẩm rau quả được sử dụng tươi sống do vậy nó liên quan đến vấn đề vệ
sinh an toàn thực phẩm.
Về đặc điểm thị trường lao động của ngành này cũng dễ dàng tìm kiếm.
Chúng ta có thể huy động lực lượng lao động trong chính ngành sản xuất rau
phương pháp cổ truyền vốn tồn tại lâu trong dân gian. Ví dụ như: muối dầm,
ngâm, sấy khô, yếm khí
Nhưng để có được những sản phẩm sản xuất từ rau quả có chất lượng cao,
đa dạng về chủng loại thì cần có công nghệ chế biến hiện đại. Máy móc thiết bị
thường được trang bị sản xuất theo dây chuyền, đồng bộ. Công nghệ s
ản xuất
luôn thay đổi do vậy mà công nghệ chế biến rau quả cũng luôn thay đổi để
nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường ngày càng tăng, đòi hỏi chất lượng cao.
II/ VAI TRÒ CỦA NGÀNH CNCBRQ
CNCB giữ vai trò quan trọng không chỉ riêng ngành sản xuất rau quả mà
nó còn có ảnh hưởng lớn đối với ngành nông nghiệp nước ta, đến nền kinh tế
quốc dân. Để làm rõ được vai trò của nó ta cần phải đặt trong mố
i quan hệ với:
thúc đẩy phát triển ngành nông nghiệp; đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất
khẩu; tạo việc làm và đóng góp vào ngân sách.
1/ Thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển.
Như ta đã biết thì ngành sản xuất rau quả là một ngành quan trọng trong
ngành nông nghiệp nước ta, đặc biệt hơn là CNCBRQ ngày càng cho thấy tầm
quan trọng, mức độ ảnh hưởng của nó đối với việc phát triển của các ngành
khác trong nông nghiệp giai đoạ
n hiện nay. CNCBRQ tạo ra cho ngành nông
nghiệp cơ sở vật chất vững chắc để phát triển, làm thay đổi bộ mặt nông thôn
Việt Nam. Khi CNCBRQ phát triển sẽ thúc đẩy những vùng trồng nguyên liệu
10
phát triển theo. Các nhà máy, xí nghiệp CBRQ tạo mọi điều kiện cho người sản
xuất có thể trồng tập trung theo quy hoạch của nhà máy, người dân sẽ được hỗ
trợ về vốn, kỹ thuật sản xuất, được nhà máy bao tiêu đầu ra. Do vậy, năng suất
và chất lượng cây trồng cao, tránh được những tổn thất sau thu hoạch. Khi rau
quả đã qua chế biến sẽ cho chất lượng cao hơn, làm cho giá tr
11
phong phú về chủng loại, mẫu mã đẹp, bao bì bảo quản rất cẩn thận, tạo được
lòng tin đối với khách hàng.
- CNCB có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xuất khẩu rau quả ra
nước ngoài. Nhu cầu tiêu thụ rau quả trên thế giới ngày càng gia tăng nhưng để
có thể xuất khẩu được rau quả ra nước ngoài, đáp ứng được nhu cầu của họ thì
không phải là việc dễ. Bởi vì ở
các thị trường này đòi hỏi về điều kiện, tiêu
chuẩn chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm rất gắt gao. Do vậy, phát triển
ngành công nghiệp chế biến tạo điều kiện thuận lợi cho chúng ta có thể mở
rộng thị trường ra nước ngoài. CNCBRQ sẽ tạo ra các loại sản phẩm rau quả có
chất lượng cao, giữ nguyên được giá trị của các loại mặt hàng rau quả t
ươi sống,
đảm bảo được an toàn vệ sinh thực phẩm. Còn đối với các loại chế phẩm từ rau
quả thì CNCB tạo ra được nhiều loại hơn, chất lượng tốt hơn, thời gian bảo
quản lâu hơn, bao bì, mẫu mã đẹp hơn, do vậy mà tạo ra được uy tín với nước
ngoài, xuất khẩu tăng nhanh hơn. Nhờ đó mà chúng ta có thể thâm nhập được
vào nhiều thị trường khó tính như
Mỹ, Nhật Bản, EU nâng được vị thế cho rau
quả Việt Nam trên trường quốc tế. Từ đó chúng ta thu được nhiều ngoại tệ về
cho đất nước.
3/ Tạo việc làm và đóng góp vào ngân sách.
- Một vai trò không kém phần quan trọng của ngành CNCBRQ là tạo việc
làm cho không chỉ riêng ngành nông nghiệp mà còn tạo việc làm cho cả xã hội.
Khi ngành CNCB phát triển nó buộc người sản xuất rau quả phải phát triển
theo kiểu tập trung hơn, làm cho vùng
đó phải huy động một lực lượng lao
động tương đối lớn tham gia vào việc trồng các loại rau quả theo cách chuyên
môn hoá, theo kiểu công nghiệp hơn. Do vậy, những lao động dư thừa ở nông
thôn sẽ được huy động vào các doanh nghiệp chế biến theo kiểu mùa vụ, tạo
Ngành CNCBRQ chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, có những nhân tố
ảnh hưởng trực tiếp cũng có những nhân tố chỉ ảnh hưởng ở mức độ gián tiếp
làm đòn bẩy cho việc phát triển của nó. Các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp như:
vùng nguyên liệu, công nghệ chế biến, thị trường tiêu thụ, lao động. Các nhân
tố có tác động gián tiế
p như: các chính sách của Nhà nước, yếu tố cơ sở hạ
tầng
1/ Sự phát triển của thị trường rau quả.
Mỗi một ngành công nghiệp nào muốn phát triển được cũng cần phải tìm
cho mình một thị trường tiêu thụ sản phẩm phù hợp với điều kiện của mình. Thị
trường là nơi mà mỗi doanh nghiệp có thể bán các sản phẩm của mình làm ra
để thu được doanh thu và l
ợi nhuận. Dựa vào nhu cầu của thị trường mà doanh
nghiệp biết được mình nên sản xuất cái gì, như thế nào và với số lượng bao
nhiêu thì đủ để cung cấp, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Nếu không xác định
đúng được thị trường một cách chính xác và đúng đắn có thể dẫn đến sản phẩm
chế biến không bán được, hoặc là sản phẩm sản xuất ra không đáp
ứng đủ nhu
cầu của thị trường; do vậy, dẫn đến các doanh nghiệp chế biến rau quả làm ăn
kém hiệu quả. Ta biết rằng sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến rất nhạy
cảm với yếu tố thị trường, do vậy nó có ảnh hưởng rất lớn tới ngành CNCBRQ
của Việt Nam.
Thứ nhất là thị trường tiêu dùng trong nước: là nơi tiêu thụ chủ y
ếu các
mặt hàng rau quả tươi sống, hoặc một phần đã qua chế biến. Việt Nam với dân
số hơn 80 triệu dân nên đây là thị trường tiêu thụ rau quả tiềm năng rất lớn do
vậy cần khai thác một cách triệt để, nếu làm được điều đó thì ngành CNCBRQ
của chúng ta phát triển rất tốt.
Thứ hai là thị trường rau quả thế giới ngày càng phát triển mạnh, nó buộc
ngành CNCBRQ của ta phải đầu tư phát triển sao cho tương ứng nhằm đáp ứng
Hoa Kỳ 2.687.578 2.678.262 2.635.08 2.802.19 3.232.92
N
hật Bản 2.038.279 2.067.291 2.049.62 1.940.67 2.026.49
Canada 829.562 813.101 816.261 889.541 917.510
N
ga 214.318 237.915 317.947 425.415 498.610
15
2/ Vùng cung ứng nguyên liệu đầu vào.
Ta biết rằng nguyên liệu là yếu tố quan trọng, chủ yếu của quá trình sản
xuất và chế biến, đặc biệt là ngành CNCBRQ thì nguyên liệu chính là các loại
rau quả, tỷ lệ các loại nguyên liệu khác ngoài rau quả là rất ít. Do vậy rau quả
có ảnh hưởng trực tiếp đến công nghiệp chế biến.
Thứ nhất là xét đến chủng loại rau quả: mỗi loại rau quả
sẽ quyết định đến
việc các nhà máy chế biến phải đầu tư cho công nghệ chế biến như thế nào,
trình độ dây chuyền công nghệ ra sao đễ có thể chế biến các loại sản phẩm ra
quả sao cho phù hợp với loại nguyên liệu đó. Nếu doanh nghiệp không xác định
được rõ được vùng nguyên liệu mình sẽ khai thác thì rất khó khăn trong khâu
cung cấp nguyên liệu cho nhà máy chế biến.
Đối với những vùng nguyên liệu chuyên thâm canh m
ột loại hay một số
loại rau quả cụ thể nào đó sẽ tạo điều kiện, thứ nhất là bảo đảm cho việc chế
biến được chuyên môn hoá, việc đầu tư cho thiết bị sẽ chuyên môn hoá, đồng
bộ hơn, do vậy làm cho quá trình chế biến diễn ra một cách linh hoạt, đều đặn,
sẽ cho năng suất cao, chất lượng tốt hơn; thứ hai là bảo đả
m cho ngành
CNCBRQ luôn có đủ lượng nguyên liệu cần thiết cho chế biến. Đối với những
vùng trồng rau quả tập trung, chuyên môn hoá, thâm canh sản xuất theo kiểu
công nghiệp hoá thì các doanh nghiệp chế biến rau quả sẽ dễ dàng liên kết, thoả
cũng ảnh hưở
ng lớn đến khả năng phát triển của ngành CNCBRQ. Công nghệ
chế biến có ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng sản phẩm, thời gian bảo
quản, giá thành sản phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm.
Thứ nhất công nghệ chế biến ảnh hưởng tới năng suất CBRQ. Với những
dây chuyền chế biến hiện đại, tiên tiến, phương pháp chế biến khoa h
ọc, làm
theo dây chuyền,do vậy làm cho năng suất chế biến rất cao. Còn đối với công
nghệ chế biến lạc hậu, chu yếu chế biến bằng phương pháp thủ công truyền
thống, it máy móc thiết bị thì năng suất thường rất thấp. Nhất là trong giai đoạn
hiện nay khi mà nền kinh tế hàng hoá phát triển thì vấn đề năng suất rất được
quan tâm vì nó có ảnh hưởng lớn tới việc t
ạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp, tới
khả năng cung cấp kịp thời cho thị trường.
Thứ hai là công nghệ chế biến có ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm.
Công nghệ chế biến có thể làm cho chất lượng sản phẩm rau quả tốt hơn cũng
có thể làm cho chất lượng của nó giảm đi. Với việc sử dụng trang thiệt bị hiện
đạ
i, phương pháp chế biến tiên tiến, khoa học, dây chuyền công nghệ theo đúng
17
tiêu chuẩn quốc tế thì chất lượng các mặt hàng rau quả luôn có giá trị cao, chất
lượng được đảm bảo. Khi chất lượng sản phẩm có giá trị cao thì sẽ làm tăng vị
thế của các sản phẩm rau quả nước ta do vậy tạo được sự tin tưởng cho khách
hàng người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Từ đó công nghiệp chế biến có
điều kiện phát triển ngày càng mở rộng về
quy mô theo cả chiều rộng và chiều
sâu, làm tăng vị thế của mình trên trường quốc tế.
Thứ ba là công nghệ chế biên với kỹ thuật hiện đại còn làm cho thời gian
chế biến các sản phẩm từ rau quả diễn ra nhanh chóng. Bởi vì làm theo hệ
trực tiếp đến sức khoẻ người tiêu dùng. Với công nghệ chế biến theo dây
chuyền hiện đại, quy trình chế biến khép kín, khả năng xử lý các chất độc hại từ
rau quả là rất tốt, việc có bao bì bảo quản ngày càng tôt sẽ làm cho việc giữ gìn
vệ sinh là rất đảm bảo.
Tóm lại với việc phát triển tốt công nghệ chế rau quả thì một mặt bảo đảm
số lượng rau quả được chế biến hàng loạt, năng suất lao động tăng, chất lượng
được đảm bảo, an toàn trong sử dụng, sử dụng các mặt hàng rau quả một cách tiện
lợi. Đây là điều kiện rất thuận lợi cho ngành NCBRQ của chúng ta phát triển.
4/ Lao động.
Như bất cứ một ngành công nghiệp nào thì yếu tố lao động cũng có ý
nghĩa hết sứ
c quan trọng, là nguồn lực chủ yếu tạo ra sản phẩm. Riêng đối với
ngành CNCBRQ thì nó lại có ý nghĩa quan trọng hơn bởi lẽ: Ngoài việc tham
gia trực tiếp vào quá trình sản xuất rau quả cung ứng nguyên liệu
phục vụ cho các nhà máy chế biến rau quả thì họ còn tham gia trực tiếp vào quà
trình bảo quản và chế biến rau quả. CNCBRQ là một ngành cần rất nhiều lao
động ở một số khâu như: Sơ chế ban
đầu, thu gom nguyên liệu. Muốn ngành
CNCBRQ phát triển với quy mô lớn và rộng khắp thì ngoài việc phát triển các
yếu tố khác thì cũng nên đặc biệt quan tâm đến vấn đề tuyển chọn lao động sao
cho có đủ khả năng, trình độ, năng lực chuyên môn vào quà trình chế biến, lao
động có tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm làm ra, năng suất lao động,
vệ sinh của các loại sản phẩm chế biến ra.
5
/ Các chính sách kinh tế của Nhà nước.
Nhà nước có ảnh hưởng lớn đến định hướng phát triển của ngành
CNCBRQ thông qua các chính sách kinh tế ở tầm vĩ mô. Các chính sách đó có
cả những tác động tích cực và tiêu cực. Nếu Nhà nước có các chính sách kinh
tế tích cực như khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân chăm lo phát triển
ngành công nghiệp này thì sẽ có nhưng chính sách ưu đãi về thuế, tạo điều kiện
Tây Âu, Mỹ. Nhìn chung kim ngạch cũng như thị trường xuất khẩu tăng. Hiện
nay rau quả được xuất sang 40 nước trong đó nhiều nhất là sang Trung Quốc,
Đài Loan và Nhật
Kim ngạch rau qủa xuất khẩu
• 1995 : 50 tr USD
• 1996 : 100 tr USD
• 1997 : 70 tr USD
• 1998 : 50 tr USD
• 1999 : 100 tr USD
20
• 2000 : 200 tr USD
• 2001 : 300 tr USD
• 2002 : 200 tr USD
• 2003 : 119 tr (9 tháng đầu năm, riêng thị trường TQ chỉ đạt 24,2 tr USD)
Đáng chú ý, xuất khẩu rau quả 5 tháng đầu năm nay sang Nhật Bản cũng
tăng khá mạnh, tăng tới 76,26%, đạt 13,6 triệu USD. Bên cạnh đó, xuất khẩu
sang một số nước phát triển như Pháp, Singapore,… cũng tăng khá mạnh.
Thị trường xuất khẩu rau quả 5 tháng đầu năm 2005
Thị trường
Kim ngạch XK tháng
5/2005 (1000 USD)
Kim ngạch XK 5 tháng
đầu năm 2005 (1000 USD)
Tổng cộng 17.922 98322
Trung Quốc 1.635 16760
Nhật Bản 2.903 13590
Đài Loan 1.824 8651
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến cuối năm 2003, tổng
diện tích rau, quả và hoa trên cả nước đạt 1,27 triệu ha, tổng sản lượng đạt
13,875 triệu tấn. Nếu đem so với năm 2010, ch
ỉ tiêu về diện tích đã đạt 97% và
sản lượng đạt 69,4%. Chính nhờ đề án này, nhiều vùng nông thôn của nước ta
đã hình thành và phát triển được những vùng rau quả đặc sản, những vùng
nguyên liệu tập trung lớn như xoài của tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp; vải thiều
Hải Dương; nhãn lồng Hưng Yên; mận tam hoa Lào Cai; thanh long Bình
Thuận với giá trị thương phẩm rất cao. Không chỉ đầu tư cho cây trồng,
những năm qua, n
ăng lực chế biến rau, quả cũng đã được các ngành, các địa
phương đầu tư mạnh và hoạt động tương đối hiệu quả. Các nhà máy thuộc
doanh nghiệp Nhà nước có tổng công suất 143.747 tấn sản phẩm/năm (chiếm
xấp xỉ 50%), các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 48.65) tấn sản phẩm/năm
(chiếm 16%), số còn lại thuộc về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong số các doanh nghi
ệp Nhà nước, Tổng công ty Rau quả nông sản là đơn
vị có vai trò chủ đạo với tổng công suất chế biến trên 100.000 tấn sản
phẩm/năm (chiếm 34% tổng công suất cả nước) và trên 50% số các nhà máy
mới được đầu tư với trình độ thiết bị công nghệ hiện đại. Mặc dù so với mục
tiêu năm 2010 (650.000 tấn sản phẩm/năm), tổng công suất chế biến rau quả
hi
ện tại còn nằm ở tỷ lệ thấp (44,6%), nhưng trong những năm qua Nhà nước
cũng đã cố gắng đầu tư và hình thành được một hệ thống các nhà máy ở hầu
khắp các vùng trồng trọng điểm, có trình độ công nghệ tiên tiến, sản xuất ra sản
phẩm đạt chất lượng cao, phần nào đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu. Bên cạnh
22
đó, chính sách khuyến khích thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực chế biến rau quả ở
các quy mô khác nhau đã tạo nên động lực cho các thành phần kinh tế phát
trong thời gian qua chủ yếu là nội tiêu và dưới dạng tươi, chỉ mới có 7% lượng
rau quả được xuất khẩu. Đến thời điểm này, Việt Nam không có thị trường xuất
23
khẩu trái cây mà chủ yếu là buôn chuyến; thông tin thị trường và các vấn đề
liên quan đến trái cây rất hạn chế, nhất là thị trường thế giới. Hệ thống phân
phối rau quả Việt Nam bị đánh giá là manh mún và tự phát. Thông thường,
nông dân sau khi thu hoạch rau quả xong, sẽ có một lực lượng rất đông các
thương lái tới thu gom. Thương lái bán cho các nhà bán buôn và những người
này chuyển lại cho các hộ bán lẻ để phân phối trực ti
ếp cho người tiêu dùng.
Việc vận chuyển rau quả cũng rất tuỳ tiện và cẩu thả. Đa số sản phẩm rau quả
của Việt Nam được vận chuyển trên những phương tiện kém chất lượng như xe
máy cũ, xe thồ Theo tính toán của các nhà khoa học, từ lúc nông dân thu
hoạch cho tới khi hàng hoá đến tay người tiêu dùng, tổng hao hụt ước tính lên
tới 1050% khối lượng sản phẩm.Hao hụt này cũng đã
ảnh hưởng lớn đến tính
cạnh tranh của rau quả Việt Nam. Theo số liệu của Hiệp hội Trái cây Việt Nam,
kim ngạch xuất khẩu trái cây đã giảm mạnh trong vòng 4 năm qua, từ gần 330
triệu USD vào năm 2001 xuống còn hơn 178 triệu USD vào năm 2004, và còn
có thể tiếp tục giảm trong năm nay. Vấn đề thương hiệu cho hàng hóa Việt
Nam nói chung, trong đó có mặt hàng rau quả cần được phát triển trong một
môi trường Vi
ệt Nam đang vươn lên mạnh mẽ và đang hội nhập nền kinh tế
khu vực và thế giới. Nước ta rất phong phú về chủng loại trái cây, trong đó có
rất nhiều giống có chất lượng cao và hương vị đặc biệt. Tuy vậy, chúng ta vẫn
chưa xuất khẩu được bằng con đường chính ngạch như một số nước quanh ta.
Vì vậy, cần đầu tư xây dựng nhãn hiệu và thương hiệ
u hàng hóa cho từng
chủng loại trái cây. Ta chưa có thương hiệu riêng cho từng chủng loại trái cây
Dứa hộp 0,9 3,4 45,2 11,5
N
ấm hộp 1,2 52,0 1,7 7,4 1,1
Nguyên nhân của tình trạng đó là tuy đã có những tiến bộ nhất định khả
năng mở rộng xuất khẩu, thị trường xuất khẩu của Việt Nam khá hạn chế, chủ
yếu phụ thuộc vào thị trường những nước lân cận như Trung Quốc. Xuất khẩu
rau quả, đặc biệt là rau quả tươi sang các thị trường nhập khẩu lớn như Hoa Kỳ,
EU, Nh
ật Bản còn gặp nhiều trở ngại về công nghệ bảo quản và chế biến cũng
như khả năng đáp ứng các yêu cầu về hàng nhập khẩu của các thị trường này.
Với thị trường Trung Quốc: Trong những năm tới, Trung Quốc vẫn là thị
trường có nhiều tiềm năng phát triển đối với rau quả xuất khẩu của Việt Nam.
Trung Quốc là thị
trường lớn, dễ thâm nhập, yêu cầu về chất lượng không quá