ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LƯƠNG THỊ THU TRANG
TÌM HIỂU VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN Ở NÔNG
THÔN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
(Nghiên cứu trường hợp tại xã Vũ Đoài, huyện Vũ Thư, Tỉnh
Thái Bình)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
8.1. Đối tượng nghiên cứu 15
8.2. Khách thể nghiên cứu 15
8.3. Phạm vi nghiên cứu 15
8.4. Mẫu nghiên cứu 15
9. KHUNG LÝ THUYẾT 18
10. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 19
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 20
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN 20
1.1.1 Chủ nghĩa Mác quan niệm về văn hóa, văn hóa tinh thần 20
1.1.2 Lý thuyết vốn – vốn văn hóa 21
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CÔNG CỤ 21
1.2.1 Khái niệm “văn hóa” 21
1.2.2 Khái niệm về “đời sống văn hóa tinh thần” 23
1.2.3 Khái niệm “nghèo”, “nghèo tuyệt đối” và “nghèo tương đối” 25
CHƯƠNG 2: NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC ĐIỂM CÁ NHÂN VÀ ĐẶC ĐIỂM
GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN Ở
XÃ VŨ ĐOÀI, (HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH) 27
6
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA CỦA
ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU. 27
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 27
2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội và văn hóa 28
2.2 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC ĐIỂM CÁ NHÂN ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA TINH THẦN 29
2.2.1 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ TUỔI, GIỚI TÍNH VÀ TÔN GIÁO 29
2.2.1.1 Các hoạt động của đời sống văn hóa tinh thần 30
2.2.1.2 Các quan niệm của người dân về cuộc sống 45
2.2.1.3 Nhu cầu chia sẻ tinh thần 51
2.2.2 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC VẤN và TÌNH TRẠNG HÔN NHÂN 55
Bảng 2.2: Mức độ xem tivi trong tuần phân theo nhóm tuổi
31
Bảng 2.3: Mức độ xem phim truyền hình Việt Nam phân theo nhóm tuổi
33
Bảng 2.4: Mức độ xem các chương trình nghệ thuật truyền thống trên tivi
trong tuần
34
Bảng 2.5: Mức độ đọc báo phân theo giới tính
37
Bảng 2.6: Hoạt động tham gia khi rảnh rỗi của người dân
38
Bảng 2.7: Độ tuổi và cách sử dụng thời gian rảnh
39
Bảng 2.8: Giới tính và những việc thường làm khi rảnh rỗi
40
Bảng 2.9: Tôn giáo của người trả lời
41
Bảng 2.10: Các nhóm tuổi đánh giá ý nghĩa các lễ hội
44
Bảng 2.11: Các độ tuổi đánh giá các nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn trong
gia đình
45
Bảng 2.12: Mức độ các tệ nạn xã hội trong khu vực sống
47
Bảng 2.13: Quan niệm về một người được coi là giàu
49
Bảng 2.14: Độ tuổi và quan niệm về một gia đình được coi là giàu
50
Bảng 2.15: Độ tuổi và quan niệm về một người được coi là giàu
51
76
Bảng 2.30: Ảnh hưởng của kinh nghiệm di cư và mức độ đi dự lễ hội
78
Bảng 2.31: Loại nhà ở và nhà vệ sinh của người trả lời
80
Bảng 2.32: Tài sản chung của gia đình
84
Bảng 2.33: Số tài sản trong 14 tài sản được nêu
86
Bảng 2.34: Ảnh hưởng của thu nhập trung bình gia đình/tháng và đánh giá
một gia đình là giàu có
88
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Biểu 2.1: Tỷ lệ nam-nữ ở các lứa tuổi
29
Biểu 2.2: Tỷ lệ người quan tâm đến nội dung của thời sự quốc tế
32
Biểu 2.3: Mức độ đọc báo phân theo nhóm tuổi
36
Biểu 2.4: Nhóm tuổi và mức độ đi chùa/nhà thờ trong tháng
42
Biểu 2.5: Những việc thường làm khi rảnh rỗi và tình trạng hôn nhân
58
Biểu 2.6: Thu nhập trung bình/tháng của người trả lời
64
Biểu 2.7: Nghề nghiệp và những việc thường làm khi rảnh rỗi
68
Biểu 2.8: Những việc thường làm khi rảnh rỗi phân theo nhóm thu nhập
át văn hóa và lối sống nông thôn. Đó là những lo ngại có căn cứ.
Một trong những hệ lụy của các ảnh hưởng của đô thị hóa hiện nay
đang diễn ra phổ biến ở các vùng nông thôn là tình trạng người chưa thành
niên và thanh thiếu niên phạm tội ở các vùng nông thôn gia tăng, tính chất của
tội phạm ngày càng phức tạp hơn. Các tệ nạn xã hội tràn về nông thôn, phá vỡ
những trật tự truyền thống đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân. Mức độ rạn
nứt trong quan hệ gia đình, hàng xóm láng giềng cũng tăng. Khiếu nại về
tranh chấp đất đai, tài sản trong gia đình và giữa hàng xóm với nhau ngày
càng nhiều.
Dưới ảnh hưởng của đô thị hóa, sự phân hóa giàu nghèo cũng diễn ra
khá sâu sắc trong cộng đồng các làng ở vùng nông thôn. Ở nông thôn không
phải ai cũng có thể tận dụng tốt các cơ hội phát triển do Đổi Mới và quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa mang lại. Một bộ phận dân cư biết
tận dụng các cơ hội này nên đã có nhiều thành công trong phát triển kinh tế
gia đình. Bộ phận dân cư khác vì nhiều lý do chủ quan và khách quan khác
nhau còn gặp nhiều khó khăn trong đời sống kinh tế gia đình. Song song với
quá trình phân hóa giàu nghèo về kinh tế, tình trạng phân hóa giàu nghèo
trong mức độ hưởng thụ các phúc lợi văn hóa xã hội cũng diễn ra mạnh mẽ
không kém. Việc tiếp thu và thích ứng với các loại hình văn hóa mới, hiện
10
đại, và mức độ hòa nhập vào lối sống mới đang hình thành ở Việt Nam và
trên thế giới cũng khác nhau giữa các nhóm có mức sống kinh tế khác nhau.
Cách ứng xử về văn hóa và thái độ đối với các giá trị văn hóa tinh thần của
các nhóm có mức sống kinh tế khác nhau cũng rất khác nhau (thậm chí đôi
khi không thể dung hòa lẫn nhau trong lối sống, cách hưởng thụ cuộc sống,
phong cách sống, quan niệm sống…). Sự phân hóa giàu–nghèo với những
tiêu chuẩn khác biệt về sự hưởng thụ tiện nghi, lợi ích vật chất và tinh thần sẽ
dẫn đến việc thụ hưởng và tiếp nhận văn hóa khác biệt đáng kể giữa hai tầng
lớp giàu - nghèo.
hơn 10km. Theo số liệu của cuộc Tổng điều tra nông nghiệp, lâm nghiệp, và
thủy sản năm 2006, Vũ Đoài có 1878 hộ gia đình, với số dân là 5765 người.
Theo số liệu mới nhất, tính đến tháng 12/2011, tổng số dân là 6.874 nhân
khẩu, có 1.825 hộ phân bổ trên 11 thôn. [Xem 5].
*
Tỷ lệ hộ trong diện nghèo
tại thời điểm năm 2006 là 30% (tương đương 609 hộ), con số này đến năm
2009 đã giảm xuống còn khoảng 11,5% (khoảng 220 hộ). Người dân ở Vũ
Đoài về cơ bản làm nông nghiệp, với 63,1% số hộ có thu nhập chính từ nông
nghiệp và thủy sản, 10% từ công nghiệp và xây dựng, 7,4% từ dịch vụ, và
khoảng 20% từ các nguồn khác (Tổng điều tra nông nghiệp, lâm nghiệp và
thủy sản 2006). Xuất phát từ đặc điểm của xã không có điều kiện thuận lợi để
phát triển công nghiệp và dịch vụ, thương mại, không có chợ, ngành nghề tiểu
thủ công nghiệp tự phát và manh mún, lãnh đạo xã đã xác định phát triển
nông nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2010-2015 [Xem 5]. Với
các điều kiện về tình hình kinh tế, xã hội như trên, Vũ Đoài là xã phù hợp để
nghiên cứu tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa đối với một xã nông
nghiệp ở đồng bằng sông Hồng.
*
Từ đây và tiếp sau này chúng tôi qui ước: Trong ngoặc vuông, số thứ nhất (trước dấu phẩy) chỉ tên tài liệu
trong danh mục tài liệu tham khảo, sau dấu phẩy, số thứ 2 – tập của tài liệu, số cuối cùng chỉ trang của tài
liệu. Trong quá trình trích dẫn, đôi khi có thể xuất hiện những chữ số La Mã (như I, II,…) sau dấu phẩy cũng
chỉ tập của tài liệu trích. Bên cạnh đó, trong ngoặc vuông khi trích dẫn các số liên tục liền nhau được ngăn
cách bởi dấu chấm phẩy (;) đó là số thứ tự của các tài liệu tham khảo cùng được trích dẫn.
12
2. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
2.1 Ý nghĩa khoa học
- Đề tài góp phần tìm hiểu và soi sáng thêm lý luận về mối quan hệ
chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất của các quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và quá trình đô thị hóa, vì vậy nó cũng là chủ đề của rất nhiều hội thảo, công
trình nghiên cứu khoa học từ khi nước ta bắt đầu thời kỳ Đổi mới đến nay.
Các nhà nghiên cứu đã xem xét “nông thôn” và “văn hóa tinh thần” khu vực
nông thôn dưới nhiều chiều cạnh khác nhau nhằm tìm ra những đặc điểm và
những quy luật phát triển chung nhất của vùng nông thôn để phục vụ cho các
công tác hoạch định chính sách và điều chỉnh quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và đô thị hóa nói riêng, xã hội nói chung được hợp lý hơn. Có thể kể
đến một số các công trình nghiên cứu có liên quan tiêu biểu sau đây:
Trong cuốn “Văn hóa của nhóm người nghèo ở Việt Nam - Thực
trạng và giải pháp” [Xem 13] do TS. Lương Hồng Quang chủ biên (Nxb
Văn hóa – Thông tin, 2001), các tác giả cho rằng nghèo và văn hóa của nhóm
nghèo là những chủ đề nghiên cứu có tính lý luận và thực tiễn trong giai đoạn
hiện nay. Dựa trên các thành tựu nghiên cứu về thực trạng nghèo của Việt
Nam và một số nước trên thế giới, nhóm tác giả đã đưa ra một định hướng
nghiên cứu mới, khi cho rằng nghèo không chỉ là sự thiếu hụt các khả năng
gia nhập đời sống xã hội, thiếu hụt các nguồn lực và điều kiện sống mà còn là
hệ quả của một kiểu loại văn hóa - văn hóa của sự khốn cùng. Là hệ quả của
những thiếu hụt về mặt kinh tế, đến lượt nó, các hệ thống giá trị, chuẩn mực,
khuôn mẫu văn hóa của nhóm nghèo qui định lại khả năng hòa nhập xã hội
của nhóm nghèo.
Cuốn “Văn hóa trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay”
[Xem 18] do GS. Trần Văn Bính chủ biên (Nxb. Chính trị quốc gia, 1997) tập
trung nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa và quá trình phát triển đô thị hóa
14
ở nước ta trên cơ sở phân tích và khái quát thực trạng tình hình kinh tế xã hội
và văn hóa ở nước ta hiện nay. Tác giả đã đánh giá vai trò của nhân tố văn
hóa trong quá trình đô thị hóa, xác định cơ cấu, cơ chế mà qua đó văn hóa tác
động tới quá trình này và tác động trở lại của đô thị hóa tới văn hóa. Tác giả
thôn” [Xem 20] nêu lên một thực trạng đó là đời sống văn hóa, tinh thần của
thanh niên nông thôn vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Tại nhiều nơi,
ngoài thời gian lao động trên đồng ruộng, vào buổi tối, thanh niên nông thôn
chỉ biết ngồi xem ti-vi hoặc tụ tập đánh bài, tán gẫu, nói chuyện phiếm Do
đời sống văn hóa, tinh thần của thanh niên nông thôn khá nghèo nàn, đơn
điệu, đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự hình thành và phát triển nhân cách, cũng
như lối sống của lớp trẻ ở nông thôn. Thực tế cho thấy, tỷ lệ thanh niên nông
thôn mắc tệ nạn xã hội, như cờ bạc, rượu chè, ma túy hoặc ham mê trò chơi
điện tử có chiều hướng tăng. Kéo theo đó là những ảnh hưởng về sức khỏe,
tâm lý và nhân cách… Do vậy, việc chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần của
lớp trẻ ở nông thôn cần được chính quyền, đoàn thể các cấp quan tâm hơn
nữa. Đoàn thanh niên các địa phương cần tạo thêm nhiều "sân chơi" bổ ích
dành cho lớp trẻ. Cần phát triển mạnh mẽ phong trào văn hóa, thể thao quần
chúng nhằm thu hút đông đảo thanh niên ở nông thôn tham gia.
Trong bài “Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, góp phần xây dựng
đời sống văn hóa nông thôn mới” [Xem 8] của tác giả Đỗ Văn Hạnh (Phó
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hòa Bình) tác giả nêu lên hai
mặt cơ bản của đời sống văn hóa nông thôn mới cần quan tâm đó là: Xây
dựng cơ sở vật chất và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần. Tác giả cũng
thống kê hàng loạt các kết quả đạt được của tỉnh Hòa Bình trong công cuộc
xây dựng văn hóa nông thôn mới như “nếp sống văn minh trong việc cưới,
việc tang, về cơ bản thực hiện tốt, dần dần hình thành tổ chức đám cưới theo
nếp sống mới và theo quy ước, hương ước. Công tác quản lý và tổ chức lễ hội
có nhiều chuyển biến tích cực. Hàng chục lễ hội truyền thống được tổ chức
hàng năm đã đảm bảo đúng nghi lễ, hình thức phù hợp, phát huy được các giá
trị đạo lý văn hóa truyền thống, khôi phục phát triển nhiều trò diễn dân gian
kết hợp với các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao ”. Bên cạnh
16
các thành tựu đã đạt được, tác giả cũng nêu lên một số hạn chế như mức
hội cũng như phát triển kinh tế.
Tác giả Bùi Thiết có bài “Hưởng thụ văn hóa chênh lệch giữa nông
thôn – thành thị” [Xem 2]. Theo tác giả, nhìn từ góc độ văn hóa, chúng ta sẽ
thấy một bức tranh “phản cảm” mà khi soi rọi vào đó các mảng màu văn hóa
nông thôn hiện lên không mấy lạc quan và sáng sủa. Cũng theo tác giả, sự thụ
hưởng văn hóa của dân cư nông thôn không chỉ là có ngôi nhà để ở, có cơm
để ăn mà là việc họ không được thụ hưởng văn hóa một cách công bằng như
dân cư thành thị. Sự hưởng thụ những giá trị văn hóa được gọi là những tiến
bộ của khoa học kỹ thuật của cư dân nông nghiệp rõ ràng là thấp kém hơn so
với dân cư thị thành. Bên cạnh đó, mặt trái của các phương tiện hiện đại đó
tìm được thị trường béo bở ở dân cư nông thôn chủ yếu là ở lứa tuổi vị thành
niên và thanh niên, trung niên. Dân cư nông nghiệp – nông thôn không những
không được hưởng thụ một cách công bằng mọi giá trị văn hóa do họ và cộng
đồng sáng tạo ra, họ thua thiệt đủ thứ, và hơn thế nữa họ lại bị sức ép từ phía
các giá trị văn hóa được sáng tạo ra bởi khoa học và công nghệ hiện đại.
Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn trước mắt và lâu dài không chỉ
là việc cư dân nông thôn phải làm gì, nông nghiệp phát triển đến đâu, mà còn
là việc nâng cao không ngừng trình độ thụ hưởng văn hóa một cách đầy đủ -
công bằng - tiện lợi cho dân cư nông thôn.
Tác giả Minh Sơn có bài viết “Gắn xây dựng nông thôn mới với việc
giải quyết những bức xúc đang đặt ra” [Xem 15]. Tác giả nêu lên những
vấn đề bức xúc đang xuất hiện ở các khu vực nông thôn của Việt Nam, trong
đó, văn hóa tinh thần ở nông thôn là một vấn đề bức xúc đang gây lo lắng cho
những người quan tâm tới đời sống văn hóa, tinh thần ở nông thôn. Tác giả
nêu lên các vấn đề nổi cộm trong đời sống văn hóa tinh thần ở nông thôn hiện
nay đó là tình trạng thất học, tệ nạn xã hội ngày càng có xu hướng lan rộng ở
làng quê từ miền xuôi lên miền ngược. Một nỗi lo lắng, nhức nhối khác cũng
18
khá nghiêm trọng và rõ nét là môi trường nông thôn đang bị ô nhiễm nặng nề.
19
nay để có cái nhìn tổng quan hơn về những khác biệt của đời sống văn hóa
tinh thần trong hai nhóm giàu và nghèo ở nông thôn đồng bằng Bắc bộ hiện
nay như thế nào.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thao tác hóa các khái niệm, làm rõ các yếu tố trong đời sống văn hóa
tinh thần của người dân vùng nông thôn.
- Khảo sát thực nghiệm đời sống văn hóa tinh thần của người dân ở địa
bàn được chọn nghiên cứu trường hợp.
- Phân tích một cách có hệ thống các kết quả khảo sát thu được.
- Tổng hợp, luận giải các vấn đề đặt ra từ việc nghiên cứu về đời sống
văn hóa tinh thần của người dân ở địa bàn nghiên cứu trường hợp nói riêng,
người dân ở nông thôn đồng bằng bắc bộ nói chung.
5. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Liệu những người có mức sống khác nhau trong cộng đồng ở nông
thôn đồng bằng sông Hồng có các khuôn mẫu ứng xử khác nhau về văn hóa
tinh thần hay không?
- Nếu có, sự khác nhau đó thể hiện như thế nào?
- Mức độ mà theo đó các điều kiện kinh tế và quá trình đô thị hóa, hiện
đại hóa ảnh hưởng đến sự ứng xử văn hóa của họ là như thế nào?
6. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Tên đề tài và những thảo luận nêu trên dựa trên một giả thuyết chung
quan trọng nhất, và cũng là luận điểm cơ bản nhất của Chủ nghĩa Mác, là các
điều kiện kinh tế có tác động quyết định đến các khuôn mẫu ứng xử về văn
hóa tinh thần. Áp dụng vào đề tài này, những người sống trong hộ gia đình có
mức sống cao thường có những ứng xử văn hóa tinh thần khác với những
người sống trong hộ gia đình có mức sống thấp. Sự phân hóa giàu-nghèo ở
nông thôn đồng bằng sông Hồng là hiện tượng mới nảy sinh trong thời kỳ Đổi
Mới (trong thời bao cấp sự phân hóa này rất nhỏ, có thể nói không đáng kể) đi
- Đặc điểm cá nhân và đặc điểm gia đình là điều kiện trực tiếp tạo ra sự
khác biệt về đời sống văn hóa tinh thần giữa hai nhóm giàu nghèo khu vực
nông thôn khi biến động xã hội của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
tác động đến.
- Những người có học vấn cao, làm nghề phi nông nghiệp, có kinh
nghiệm di cư (đã từng sống và làm việc ở các khu đô thị), có điều kiện tiếp
cận với nhiều nguồn thông tin và những người thuộc lớp trẻ hơn, thường có
xu hướng cởi mở hơn đối với các giá trị văn hóa tinh thần hiện đại (như quan
hệ gia đình dân chủ hơn, bình đẳng hơn, sử dụng thời gian nhàn rỗi với nhiều
hình thức đa dạng hơn, ưa thích cái mới, mang tính khoa học và công nghệ
hơn, năng động và sáng tạo hơn trong cách nhìn đối với hoạt động kinh tế, ít
tính gia trưởng hơn, có cách nhìn vị tha hơn, cởi mở hơn đối với các hiện
tượng mới, chẳng hạn như tình dục trước hôn nhân của thanh niên, vấn đề li
dị, v.v )
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Phương pháp luận
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở
phương pháp luận của toàn bộ quá trình nghiên cứu. Nguyên tắc lịch sử cụ
thể, khách quan, toàn diện luôn được vận dụng và tuân thủ một cách chặt chẽ
trong suốt quá trình nghiên cứu. Quan điểm Mác-xít chỉ ra rằng để hiểu đời
sống văn hóa, tinh thần của người dân cần xuất phát từ sự phân tích các điều
kiện vật chất, sản xuất, đời sống của người dân trong thời gian và không gian
cụ thể, những yếu tố là điều kiện vật chất giúp định hình thế giới quan, niềm
tin, tâm thế, thái độ, và các nhu cầu đối với đời sống văn hóa, tinh thần. Lý
thuyết vốn – vốn văn hóa cũng được sử dụng để tìm hiểu các khía cạnh của
đời sống văn hóa tinh thần của người dân ở Vũ Đoài. Theo lý thuyết này,
ngoài vốn kinh tế, mối quan hệ xã hội rộng rãi của con người trong gia đình,
cộng đồng, và xã hội cùng với các giá trị văn hóa gắn với các mối quan hệ
22
tâm. Những thông tin thu được từ phương pháp này được sử dụng trực tiếp
trong quá trình phân tích.
- Phương pháp phân tích tài liệu: Đề tài đã tham khảo một số đề tài
khoa học, luận văn, luận án, sách báo, các công trình đã được công bố … có
liên quan đến đời sống tinh thần của người dân ở nông thôn để có cái nhìn
tổng quan hơn về đời sống văn hóa tinh thần của cư dân nông thôn đồng bằng
Bắc bộ nói chung, dân cư Vũ Đoài nói riêng. Ngoài ra tác giả luận văn còn sử
dụng những thông tin thu được từ sách báo, các văn kiện của Đảng, các báo
cáo của Đảng ủy xã Vũ Đoài và các tư liệu khác.
- Phương pháp quan sát: Tác giả luận văn đã tiến hành quan sát đời
sống sinh hoạt hàng ngày, môi trường sống của người dân, khung cảnh Vũ
Đoài nói chung để có cái nhìn tổng quan về đời sống tinh thần của người dân
Vũ Đoài.
- Phương pháp xử lý thông tin bằng chương trình SPSS 13.0: Đề tài
sử dụng phầm mềm SPSS 13.0 để tính tần suất và một số tương quan của
nguồn thông tin thu được từ bảng hỏi định lượng.
8. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MẪU NGHIÊN CỨU
8.1 Đối tượng nghiên cứu: Đời sống văn hóa tinh thần của hai nhóm người
giàu và người nghèo vùng nông thôn đồng bằng Bắc bộ.
8.2 Khách thể nghiên cứu: Hai nhóm dân cư: nhóm giàu và nhóm nghèo ở
khu vực nông thôn trong độ tuổi từ 30-50.
8.3 Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Cuộc nghiên cứu thực hiện tại xã Vũ Đoài, huyện Vũ Thư, tỉnh
Thái Bình.
- Thời gian nghiên cứu tại thực địa: Tháng 6/2011 đến tháng 9/2011
8.4 Mẫu nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, do tác giả chỉ thực hiện được với một cỡ mẫu
nghiên cứu tương đối nhỏ nên tác giả chỉ tập trung phân tích đời sống văn hóa
24
kinh tế và quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa ảnh hưởng đến các ứng xử văn
hóa của họ là như thế nào? Nói cách khác, giàu-nghèo trong nghiên cứu này
được xem như một căn cứ về đời sống vật chất, về mức sống hơn là dựa vào
căn cứ này luận văn khảo sát sự biến động của đời sống văn hóa tinh thần khi
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tác động.
26
- tài sản chung của gia đình
- đặc điểm dòng họ
Đời sống văn hóa tinh thần nhóm giàu và nhóm nghèo
- cách sử dụng thời gian rảnh rỗi (thời gian ngoài kinh tế)
- các sở thích hưởng thụ các sản phẩm văn hóa (nghe đài,
xem tivi, đọc sách báo…)
- các ước vọng (về cuộc sống, gia đình, tương lai …)
- quan niệm của hai nhóm (về giàu-nghèo, cách làm kinh
tế, về văn hóa-xã hội…)
- nhu cầu của hai nhóm (nhu cầu vật chất và tinh thần)
27
10. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Kết cấu của luận văn gồm có phần mở đầu, 2 chương, kết luận và khuyến
nghị:
- Mở đầu: Tính cấp thiết của đề tài, ý nghĩa thực tiễn, ý nghĩa khoa
học, đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu của đề tài. Giả thuyết nghiên
cứu và khung lý thuyết. (Từ trang 1 - trang 18)
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. (Từ trang 20 – trang
26)
phát triển của xã hội loài người, chủ nghĩa Mác-Lênin đã khái quát các loại
hình hoạt động của xã hội thành hai hoạt động cơ bản là “sản xuất vật chất”
và “sản xuất tinh thần”. Với ý nghĩa như vậy, theo nghĩa rộng, văn hóa bao
gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần: Văn hóa vật chất là năng lực
sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất.
Theo nghĩa hẹp, văn hoá được hiểu chủ yếu là văn hoá tinh thần. [Xem 23]
Cũng theo quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lenin, văn hóa tinh thần là
tổng thể các tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo ra trong đời sống tinh
thần và hoạt động tinh thần của con người; chúng được biểu thị chủ yếu dưới
dạng các hiện tượng tinh thần và các giá trị tinh thần. Như vậy, nói tới văn
hoá là nói tới con người, tới việc phát huy những năng lực thuộc bản chất của
con người nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác cho rằng “tồn tại xã hội quyết định ý
thức xã hội”. Theo quan điểm này, tồn tại xã hội như thế nào sẽ quyết định ý
thức xã hội như thế, mặc dù ý thức xã hội có thể tác động ngược trở lại tồn tại
xã hội. Cũng có thể hiểu rằng, các điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất kỹ thuật
ảnh hưởng rất lớn và quyết định tới đời sống văn hóa, tinh thần của người
dân. Đề tài sẽ vận dụng quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lenin để tìm hiểu các
điều kiện về cơ sở vật chất, kinh tế,…ảnh hưởng như thế nào đến văn hoá của
người dân Vũ Đoài trong lĩnh vực tư tưởng, tinh thần và tìm hiểu xem văn