Ẩm thực từ ngô của người HMông trắng (Nghiên cứu trường hợp tại xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang) - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN ẨM THỰC TỪ NGÔ CỦA NGƢỜI HMÔNG TRẮNG
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP XÃ LŨNG TÁO, HUYỆN
ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội – 2015

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

2011 và sau đó là Khóa luận tốt nghiệp Đại học năm 2012. Mang trong mình
một nửa dòng máu là người Hmông Trắng, dự định ban đầu của tôi là muốn
tìm hiểu một vấn đề gì đó – dù là rất nhỏ thôi - về tộc người này để kỷ niệm
những năm tháng ngồi trên ghế giảng đường Đại học. Kết thúc năm học thứ 2,
tôi đã chia sẻ với mẹ tôi – 1 người Hmông “xịn” – về dự định của mình. Mẹ
tôi đã rất ủng hộ tôi. Ngay lập tức, tôi tìm đến bộ môn Nhân học và được
PGS.TS Nguyễn Văn Sửu giới thiệu cho tôi người thầy mà sau này tôi đã
gắn bó trong suốt quá trình học tập của mình: PGS.TS Lê Sỹ Giáo.
Tôi muốn gửi lời tri ân tới thầy hướng dẫn của mình - PGS.TS Lê Sỹ
Giáo, người đã giúp tôi định hướng đề tài ngay từ những ngày đầu và luôn
theo sát tôi trong quá trình điền dã, viết bài.
Tôi xin cảm ơn lãnh đạo UBND huyện Đồng Văn, lãnh đạo UBND xã
Lũng Táo, gia đình tôi và cộng đồng người Hmông Trắng ở huyện Đồng Văn
đã tạo điều kiện giúp đỡ, chỉ bảo và cưu mang tôi trong những ngày học hỏi
đồng bào trên thực địa. Tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình ông Vừ
Chúng Dình đã tạo điều kiện cho tôi ăn, ở tại xóm Há Súng, xã Lũng Táo.
Những câu chuyện của ông bên chén rượu ngô, cạnh bếp lửa trong buổi đêm
tịch mịch đã giúp tôi hiểu hơn về tộc người mà tôi đang nghiên cứu.
Bên cạnh đó, tôi đã nhận được sự động viên của gia đình,các thầy cô
trong Bộ môn Nhân học, những người bạn của mình. Họ luôn bên cạnh tôi lúc
khó khăn nhất, tôi luôn biết ơn và trân trọng những tình cảm đó.
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Học viên

Nguyễn Thị Thu Huyền
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình này do tôi thực hiện, những tư liệu
trong khóa luận được khai thác, thu thập từ thực địa và các tài liệu tham
khảo được trích dẫn nguồn đầy đủ. Nếu có gì sai phạm tôi xin hoàn toàn

1.2.1. Lịch sử tộc người 29
1.2.2. Tổ chức đời sống cộng đồng 32
Tiểu kết chương 1 40
Chƣơng 2. CÁC ĐỒ ĂN, THỨC UỐNG TỪ NGÔ 41
2.1. Món ăn ngày thường 41
2.1.1. Mèn mén
24
( Mỏ mông, Máo của) 41
2.1.2. Bánh sữa ngô (chúa xìa) 58
2.1.3. Canh ngô (Tha pua) 59
2.1.4. Bánh lử khoai (láo khoải – tiếng Hán) 60
2.1.5. Ngô luộc (cư hâu), ngô nướng (cư chi), ngô rang (cư ky) 61
2.1.6. Món ăn ngày của chợ phiên 61

2
2.2. Món ăn trong đời sống tâm linh 63
2.2.1. Món ăn khi làm ma chay 63
2.2.2. Món ăn ngày tết:Bánh trôi ngô(chúa đay, chúa chò) 65
2.3. Đồ uống 67
2.3.1. Rượu ngô (chơ cừ) 67
2.3.2. Nước ngô luộc (đề cừ hâu) 80
Tiểu kết chương 2 80
Chƣơng 3. CÁC DỤNG CỤ CHẾ BIẾN, PHỤC VỤ ĂN UỐNG VÀ CẤT
ĐỰNG ĐỒ ĂN, THỨC UỐNG 81
3.1. Các công cụ dùng để chế tác dụng cụ chế biến đồ ăn, thức uống và đồ
đựng 81
3.1.1. Bộ công cụ nghề mộc 81
3.1.2. Bộ công cụ chế tác đá 84
3.1.2. Dụng cụ phục vụ đan lát 84
3.2. Các dụng cụ chế biến đồ ăn, thức uống 84

Bảng 3: Thống kê số hộ nghèo của xã Lũng Táo 123
Bảng 4: Tình hình sản xuất lương thực của xã Lũng Táo 124 5
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

GS : Giáo sư
KT – XH : Kinh tế - xã hội
LATS : Luận án Tiến sĩ
NXB : Nhà xuất bản
PL : Phụ lục.
QPAN : Quốc phòng an ninh
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
TS : Tiến sĩ
Tr : Trang
UBND : Ủy ban Nhân dân
UNESCO : United Nations Educational, Scientific and Cultural
Organization
người Hmông Trắng chiếm số lượng đông nhất. Đây là nơi có địa hình tương
đối cao. Núi đá chiếm 3/4 diện tích
2
. Khí hậu khắc nghiệt. Người Hmông
Trắng trên địa bàn xã canh tác chủ yếu trên các nương thổ canh hốc đá và ngô
là cây trồng chính. Ngô là nguồn lương thực quan trọng, được đồng bào chế

7
biến thành nhiều đồ ăn, thức uống khác nhau sử dụng trong đời sống hàng
ngày, trong các bữa ăn cộng cảm và dâng lên tổ tiên, thần linh vào dịp lễ tết,
cưới hỏi, ma chay, mừng nhà mới, lễ gọi hồn cho trẻ… Như vậy, ngoài chức
năng cơ bản về mặt dinh dưỡng làm thỏa mãn cái đói, cái khát, đối với người
Hmông Trắng, những đồ ăn, thức uống này còn góp phần tạo dựng dấu ấn văn
hóa tộc người trên cao nguyên Đồng Văn.

Với những lý do đó, việc tìm hiểu ẩm thực từ ngô của người Hmông
Trắng ở xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang mang một ý nghĩa đặc
biệt, giúp chúng ta thấy được đặc trưng về đời sống vật chất và đời sống tinh
thần của tộc người này. Đây là lý do thúc đẩy tôi lựa chọn khảo sát vấn đề
“Ẩm thực từ ngô của người Hmông Trắng (nghiên cứu trường hợp xã Lũng
Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang)” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Lý thuyết đƣợc vận dụng
Thuyết sinh thái học văn hóa của Julian Haynes Stewart(1902 – 1972)
Julian Haynes Stewward, sinh ngày 31 tháng 01 năm 1902 tại
Washington, Mỹ, là nhà nghiên cứu văn hóa người Mỹ, nổi tiếng với thuyết
Tiến hóa đa hệ (Multilinear evolutionism) và là người đặt nền móng cho Sinh
thái học văn hóa (Cultural ecology) cũng như cho lý thuyết về sự biến đổi văn
hóa(culture change).
Công trình Các nhóm chính trị xã hội thổ dân vùng thung lũng-cao
nguyên (Basin-Plateau Aboriginal Sociopolitical Groups), xuất bản năm 1938,

văn hóa trong những khu vực khác nhau. Theo ông, những khu vực khác nhau
nhưng có môi trường giống nhau và phương pháp khai thác môi trường giống
nhau dễ dẫn đến có những nền văn hóa giống nhau. Ông đặt tên cho lý thuyết
của mình là “Tiến hóa đa hệ” theo cơ sở của lập luận trên. J. Steward cũng
phân tích những đặc tính chung có tính quy luật về biến đổi văn hóa theo sự
chuyển đổi của thời đại từ “canh tác sơ kỳ” đến “thời đại hình thành” rồi “thời
đại khai hoa”…

9
Thuyết Tiến hóa đa hệ của J. Steward là sự bổ sung cần thiết cho quan
điểm tiến hóa văn hóa, trong đó những quan điểm và phương pháp nghiên cứu
về sinh thái văn hóa, về những đặc điểm có tính quy luật của biến đổi văn hóa
thực sự có đóng góp lớn cho ngành nhân loại học văn hóa
3
.
Những tộc người sinh sống lâu đời tại một môi trường sinh thái nàođó
nhất định như sinh thái biển đảo, sinh thái đồng bằng châu thổ, sinh thái thung
lũng, sinh thái cao nguyên… thì nhất định họ sẽ trải nghiệm, thích nghi, sáng
tạo, hình thành những kỹ năng sống và thể hiện sắc thái tâm lý cũng như
những dạng thức văn hóa phù hợp với môi trường sinh thái ấy, đó là sinh thái
văn hóa tộc người.
Vận dụng lý thuyết sinh thái học văn hóa trong nghiên cứu này, tôi
muốn lý giải rằng: ẩm thực của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền phản ánh đời
sống văn hóa vật chất – tinh thần của con người ở những vùng miền đó.
Thông qua hệ thống các nguồn lương thực – thực phẩm, các món ăn – đồ
uống, cách chế biến, dụng cụ chế biến đồ ăn – thức uống, ứng xử trong ăn
uống, tập quán ăn uống, ta có thể thấy được sự thích nghi của con người
với điều kiện tự nhiên của mỗi vùng, nhờ đó hình thành nên những yếu tố
tín ngưỡng, tâm linh; những giá trị đạo đức, tập quán, lối sống, thuần
phong mỹ tục của dân tộc đó. Từ đó, hình thành mối quan hệ giữa môi

như những món ăn đặc trưng cho tộc người này ở địa bàn nghiên cứu. Dựa
vào việc nghiên cứu, tìm hiểu cách chế biến thức ăn, cách ăn, các nghi thức và
kiêng kỵ gắn liền với thức ăn có thể biết được thái độ, tâm lý, tình cảm, mối
liên hệ của những con người đang sử dụng những đồ ăn, thức uống đó.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam, ẩm thực là một lĩnh vực được tiếp cận từ nhiều góc độ:
- Tiếp cận ẩm thực từgóc độ văn chương với mục đích cảm thụ vềăn
uống. Ngay từ sớm đã có không ít nhà văn, nhà thơ nói vềăn uống theo hướng
cảm thụ này, như: Phạm Đình Hổ với Vũ trung tùy bút, muộn hơn thì có
Thạch Lam vớiHà Nội băm sáu phố phường,
Quà Ha
̀

̣
i - Tuyển tập Thạch

11
Lam(1988)
. Nhà văn Vũ Bằng với Miếng ngon Hà Nội, Thương nhớ mười hai,
Món lạ miền Nam; Băng Sơn với Thú ăn chơi người Hà Nội;
Nhất Thanh
(1992) - Bữa ăn Việt Nam trong Đất lề quê thói; Nguyê
̃
n Tuân với các tùy
bút:
Phở, Cốm, Giò lụa, Những chiếc ấm đất, Chén trà sương, Hương cuội
Các nhà văn đã bộc lộ cảm nhận của mình về cái hay, cái đẹp của các món ăn
một cách chân thật và sâu sắc.
- Tiếp cận ẩm thực theo hướng dinh dưỡng và dưỡng sinh trị bệnh
sớm nhất phải kể đến danh y Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV) và đặc biệt, đến thế kỷ

Ngoài ra, các sách, bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí có khảo sát
chuyên sâu về văn hóa ẩm thực của các tộc người như:
● Nghiên cứu về lịch sử tộc người thông qua tập quán ăn uống của tác
giả Nguyễn Từ Chi. Trong bài viết “Món ăn Huế, món ăn Mường ”, tác giả
cho rằng món ăn Huế có mối liên hệ mật thiết với món ăn Mường qua tên gọi
và cách chế biến (Nguyễn Từ Chi, 1996).
● Nghiên cứu về tập quán ăn uống như những hành vi ứng xử với tự
nhiên và xã hội: Từ Giấy (1996) trong Phong cách ăn Việt Nam đã giới thiệu
phong tục, tập quán ăn uống, quan niệm, chuẩn mực và đạo đức trong ăn uống
của người Việt; Nghi thức ăn uống ở Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi, 1978);
Vương Xuân Tình (1992) trong Tập quán ăn kiêng của sản phụ và Cung cách
ứng xử của con người khi ăn uống (Vương Xuân Tình, 1996, 2000).
● Xem xét về đặc điểm văn hóa ăn uống của một số tộc người gắn với
tập quán ăn uống lâu đời họ và môi trường sinh thái của các vùng miền khác
nhau qua các công trình nghiên cứu: Luận án Tiến sĩ Tập quán ăn uống của
người Việt ở vùng Kinh Bắc xưa của Vương Xuân Tình (1999); Luận án Văn
hóa ẩm thực của người Tày ở Việt Nam của tác giả Ma Ngọc Dung (2007);
Văn hóa ẩm thực vùng núi cao phía Bắc của Nguyễn Thị Bảy (2010); Văn
hóa ẩm thực các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc của nhóm tác giả Dương
Sách (chủ biên), Dương Thị Thào, Lã Vinh (2005); Văn hóa ẩm thực của

13
người Thái Đen ở Mường Lò của Hoàng Thị Hạnh (2005) Các tác giả đã
trình bày khá đầy đủ những món ăn mang đặc trưng tộc người của người Việt
ở đồng bằng và đồng bào các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc như người
Tày, Nùng, Thái, Dao, Hmông, Sán Dìu,….từ nguồn lương thực đến cách chế
biến, cùng một số tập quán ăn uống của họ.
Vấn đề văn hóa ẩm thực của người Hmông vẫn còn rất ít những nghiên
cứu tỉ mỉ, chi tiết và có hệ thống. Cho đến nay, chỉ có một số phần viết ngắn
đăng trên các tập chuyên khảo về văn hóa của người Hmông và một số bài

cao núi đá”. Tác giả khẳng định cây ngô giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong
đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội của người Hmông ở đây, trong đó nhấn
mạnh đến vai trò của ngô trong đời sống văn hóa ẩm thực của tộc người này.
Báo cáo khoa học của tác giả Luận văn này trong Hội nghị khoa học của
sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (năm 2011) và Khóa
luận tốt nghiệp Đại học với đề tài “Ẩm thực từ ngô của người Hmông Trắng ở
huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang” (năm 2012), trong nghiên cứu này, tác giả
có kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đó.
Các công trình nghiên cứu kể trên đã ít nhiều đề cập đến văn hóa ẩm
thực của người Hmông ở những địa bàn và môi trường sinh thái khác nhau
với sự đa dạng trong việc lựa chọn nguồn lương thực, thực phẩm. Tuy nhiên,
vẫn chưa làm rõ mối liên hệ giữa môi trường - nguồn thức ăn - văn hóa tộc
người. Bên cạnh đó, việc tiếp cận từ khía cạnh chức năng, vai trò của đồ ăn
thức uống (chế biến từ ngô) đối với mối quan hệ xã hội trong cộng đồng của
tộc người này lại ít được nghiên cứu, đây là lỗ hổng mà trong nghiên cứu này
tôi muốn chú trọng.
4. Giả thiết nghiên cứu
Qua việc khảo sát tình hình nghiên cứu và việc áp dụng những lý thuyết
phù hợp trong Nhân học văn hóa, tôi đưa ra các giả thiết nghiên cứu sau:

15
Thứ nhất, để thích nghi với điều kiện tự nhiên, ngô là lương thực được
người Hmông sử dụng lâu đời kể từ khi di cư đến sinh sống trên vùng cao
nguyên đá Đồng Văn, giúp người Hmông Trắng hình thành nên một bản sắc
văn hóa ẩm thực tộc người riêng, khác với các tộc người khác, đó là: Văn hóa
ăn ngô.
Thứ hai, các đồ ăn thức uống từ ngô đã thoát khỏi ý nghĩa về mặt vật chất
thông thường, mà nó giữ vai trò quan trọng đối với đời sống xã hội và đời
sống tinh thần, trở thành chất xúc tác cho sự cố kết cộng đồng của người
Hmông Trắng.

nghiên cứu tại chính quê hương của mẹ mình. Khi biết mẹ tôi là người
Hmông, các thông tín viên đều rất ngạc nhiên và vui vẻ chào đón tôi. Nghiên
cứu của tôi được tiến hành trong nhiều đợt, nhưng đợt lâu nhất diễn ra trong 1
tháng (tháng 12 năm 2013). Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng phương pháp
quan sát tham gia là chủ yếu. Các phỏng vấn định tính nhằm thu thập thông
tin để lý giải cho vấn đề nghiên cứu của mình. Trong quá trình trên thực địa,
tôi có cơ hội được tham dự nhiều nghi lễ của người Hmông (đám cưới, đám
ma khô, ma tươi, mừng nhà mới, gọi hồn cho trẻ , giúp tôi nhận biết rõ hơn
về vai trò, giá trị của các đồ ăn thức uống từ ngô với đời sống của tộc người
này.
Trong khoảng thời gian ở thực địa, tôi đã tiến hành nhiều cuộc phỏng
vấn sâu từ 25 cá nhân. Đó là những người am hiểu về văn hóa và cách ứng xử
trong cuộc sống trong cộng đồng các thôn bản mà tôi nghiên cứu. Tuy nhiên,
có một khó khăn không nhỏ, đó là khả năng giao tiếp bằng tiếng Hmông của
tôi còn hạn chế khiến tôi khó tiếp cận các thông tín viên. Ban đầu, tôi chỉ có
thể tiếp cận được với những người biết tiếng Kinh. Sau đó, tôi có nhờ một
người họ hàng là anh Vừ Dủng Tú dẫn đường. Thật may mắn vì anh Tú là
công an viên ở xã, có phương tiện đi lại, quen biết rộng và là người sử dụng

17
thành thạo tiếng Kinh nên có thể phiên dịch và tìm kiếm thông tín viên giúp
tôi. Công việc của tôi trên thực địa thuận lợi hơn. Nhưng từ đó, tôi thấm thía
bài học từ các thầy cô của mình, đó là: Phải học ngôn ngữ bản địa, ngôn ngữ
tộc người đó nếu muốn nghiên cứu về họ.
Một hạn chế nữa trong nghiên cứu của tôi, đó là các thông tín viên chủ
yếu là nam giới. Phụ nữ Hmông ở đây rất ít người biết tiếng Kinh. Họ ít tiếp
xúc với người lạ, thường xấu hổ và không dễ dàng chia sẻ. Hơn nữa, những
vẫn đề tôi hỏi chủ yếu xoay quanh phong tục tập quán của người Hmông,
người phụ nữ thường ít để ý đến điều này. Nói như một người thông tín viên
của tôi “các chị em chỉ biết làm lụng công việc và đẻ, có để ý gì đến những

lý 22
0
10’ đến 23
0
30’ vĩ độ Bắc, 104
0
20’ đến 105
0
34’ kinh độ Ðông, cách Thủ
đô Hà Nội 320km. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 7.884,37km
2
(chiếm 2,39%
diện tích tự nhiên cả nước). Phía tây bắc giáp Trung Quốc, phía đông bắc giáp
Trung Quốc và một phần tỉnh Cao Bằng, phía đông nam giáp Tuyên Quang và
Yên Bái, phía tây nam giáp Lào Cai. Đường ranh giới tỉnh dài khoảng 600km.
Tại điểm cực bắc của lãnh thổ cách Lũng Cú khoảng 3km về phía đông bắc có
vĩ độ 23
0
13’05”, điểm cực nam cách Vĩnh Tuy (Bắc Quang) khoảng 12,5km
về phía tây nam có vĩ độ 22
0
10’. Điểm cực tây cách Xín Mần khoảng 10km
về phía tây nam có kinh độ 104
0
24’ và điểm cực đông cách Mèo Vạc khoảng
16km về phía đông đông nam có kinh độ 105
0
30’
6
.

đá chính là macma axit và đá biến chất với thành phần chủ yếu là gnai,
amphibolit, phiến thạch anh và phiến mica. Sườn núi dốc trung bình 25
0
– 35
0
.
Những nơi đá phiến phát triển thì sườn ít dốc hơn. Có thể xếp địa hình nơi đây
vào kiểu núi khối tảng dạng vòm trên nền nguyên sinh phân cắt mạnh. Độ
phân cắt sâu: 300 – 450m, chia cắt ngang 0,3 – 0,4 km/km
2
. Lớp phủ thổ
nhưỡng khá phức tạp, chủ yếu là mùn vàng đỏ. Rừng thuộc kiểu á nhiệt đới,
lá rộng thường xanh. Trừ một vài loại cây lá kim còn chủ yếu là thuộc họ sồi
dẻ, cẳng lò, thích, lau xau, chè…

+ Khu Quản Bạ - Bắc Mê, lớp thổ nhưỡng hình thành trên nền 3 nhóm
đá chính là trầm tích đá hạt mịn bị biến chất đến tướng đá lục hoặc lục yếu, đá
vôi, sét vôi và đá lục nguyên hạt vừa và mịn. Sườn dốc trung bình 30
0
– 35
0
,
có nơi trên 35
0
. Ở nơi có đá lục nguyên hạt mịn thì độ dốc giảm đi 18
0
– 28
0
.


Hung đến Ngô Khê thì đổi hướng chảy theo hướng chảy theo đông bắc – tây
nam. Từ Bắc Quang đến Ngô Khê sông Lô uốn vòng kiểu chữ U. Sông Gâm
bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua Bảo Lạc (Cao Bằng) đến Na Pông thì tụ
hội với sông Nho Quế rồi đổ vào Bắc Mê. Các sông lớn nhỏ cùng với hệ
thống khe, suối tạo điều kiện tương đối thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt
của cộng đồng các dân tộc anh em sống trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, ở các

21
huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh do đặc điểm cấu tạo địa
hình, địa chất nên nguồn nước có nhiều hạn chế, nhất là vào mùa đông
9
.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên và dân cƣ xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn
Lũng Táo là một xã biên giới cách trung tâm huyện Đồng Văn 20km.
Tổng diện tích đất tự nhiên là 2 119.74 ha, trong đó có 407,9 ha đất trồng
trọt, còn lại là núi đá trọc. Phía bắc và tây bắc giáp nước Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa, phía đông bắc giáp xã Má Lé, phía đông nam giáp xã Thài
Phìn Tủng, phía nam và tây nam giáp xã Xà Phìn. Theo thống kê của
UBND xã Lũng Táo, năm 2013, toàn xã có 16 thôn bản với tổng số hộ là
688 hộ, trong đó có 670 hộ là người Hmông và 18 hộ là người Lô Lô (cư
trú tập trung ở thôn Tìa Súng và Má Là trên). Dân số toàn xã là 3.386
người, người Hmông Trắng là 3.304 người (chiếm 97,6%), còn lại là người
Lô Lô. Lũng Táo là xã nằm ở độ cao trung bình 1.500-1.700 m so với mặt
nước biển với đỉnh cao nhất là 1.911 m. Đây là xã có địa hình cao nhất so với
các địa phương khác trên toàn vùng cao nguyên đá Đồng Văn
10.
Lũng Táo tiếng Hmông là Lùng Tó. Người Hmông còn lưu truyền câu
chuyện về lịch sử hình thành vùng đất này như sau: Trước đây, có 2 con rồng
là vợ chồng sống trên đỉnh núi cao nhất của vùng này (tức ngọn núi cao
1911m – còn được người dân địa phương gọi là “đỉnh 911”). Ở khu vực này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status