ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------
TRỊNH THỊ THỦY
VAI TRÕ CỦA GIA ĐÌNH TRONG GÓP PHẦN ỔN ĐỊNH
ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH HÀ TĨNH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------
TRỊNH THỊ THỦY
VAI TRÕ CỦA GIA ĐÌNH TRONG GÓP PHẦN ỔN ĐỊNH
ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH HÀ TĨNH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Linh Khiếu
1.2.2. Nội dung ổn định xã hội nông thôn............................................ 12
1.3. Vai trò của gia đình trong ổn định xã hội nông thôn ......................... 21
1.3.1. Những tác động chính của gia đình đến ổn định xã hội
nông thôn .............................................................................................. 21
1.3.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của gia đình trong
ổn định xã hội nông thôn ...................................................................... 25
Chương 2: VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG ỔN ĐỊNH XÃ HỘI
NÔNG THÔN TỈNH HÀ TĨNH- THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP .............. 34
2.1.
i i thiệu chung về tỉnh
T nh......................................................... 34
2.2. Thực tr ng vai trò của gia đình trong g p phần ổn định xã hội
nông thôn ....................................................................................................... 36
2.2.1. Vai trò của gia đình trong phát triển kinh tế nâng cao đời
sống nhân dân nông thôn...................................................................... 36
2.2.2. Vai trò của gia đình trong giáo dục, chăm sóc sức kh e,
đào t o nguồn nhân lực, ngăn chăn sự lây lan của các tệ n n
xã hội .................................................................................................... 42
ii
2.2.3. Vai trò của gia đình trong việc thực hiện các chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước góp
phần ổn định xã hội nông thôn ............................................................. 55
2.2.4. Vai trò của gia đình trong góp phần bảo đảm an ninh,
quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội nông thôn ...................................... 62
triển của đất nước và tiến bộ của nhân lo i. Sống trong gia đình, con người
được yêu thương, tôn trọng, được sự quan tâm chăm sóc từ người khác.
Không nơi nào trong cuộc đời này có tình cảm thiêng liêng giữa người và
người như trong gia đình.
Gia đình đó là nơi gốc rễ, là điểm tựa, là cội nguồn của tình cảm, là cái
nôi của sự bình yên, êm ấm. Cũng chính ở gia đình con người biết một điều
vô cùng quý giá, thiêng liêng trong cuộc sống giữa người với người, đó là sự
quên mình vì người khác- tình cảm mà ở bất cứ nơi đâu ta khó tìm thấy trọn
vẹn. Chính vì thế, mỗi chúng ta - những thành viên của từng gia đình riêng rẽ
luôn có nhiệm vụ giữ gìn, phát huy và tiếp thu có chọn lọc những giá trị
truyền thống tốt đẹp của gia đình.
Gia đình bao giờ cũng được khẳng định có vai trò vô cùng to lớn trong
việc phát triển con người một cách toàn diện. Sự phát triển ấy không chỉ là
đ o đức nhân cách mà cả sức kh e, thể chất, tri thức, trí tuệ, đ o đức, lối
sống, tập quán và kỹ năng sống. Từ gia đình, con người bước vào đời sống xã
hội và mang theo mình một hành trang được trang bị và rèn dũa. Nhưng
không chỉ có thế, mỗi con người suốt đời mình luôn gắn bó với gia đình và ai
cũng thế, bao giờ cũng được gia đình không ngừng chở che, bồi đắp và rèn
dũa. Chính vì lẽ đó, có thể khẳng định, gia đình có vai trò vô cùng to lớn đối
với đời sống xã hội của mỗi quốc gia.
1
Trong giai đo n hiện nay, vai trò của gia đình càng trở nên quan trọng
hơn, nhưng vai trò ấy cũng l i khó thực hiện hơn khi những mặt trái của kinh
tế thị trường, giao lưu và hội nhập đang ngày càng tác động m nh mẽ đến mọi
mặt của đời sống làm cho đời sống xã hội nhất là ở khu vực nông thôn đang
có xu hướng biến đổi theo chiều hướng tiêu cực. Trước tình hình đó, vấn đề
đặt ra là làm thế nào để h n chế những tác động tiêu cực, tận dụng những cơ
hội để tiếp tục phát huy vai trò của gia đình trong việc góp phần ổn định đời
xã hội của mình.
Gia đình nông thôn đồng bằng Bắc bộ với việc thực hiện chức năng
giáo dục trong công cuộc đổi mới (1999) của Trần Xuân Bình, Luận văn th c
sỹ triết học, Đ i học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội. Tác giả đã tập
trung khảo sát và đánh giá vai trò của gia đình nông thôn (đồng bằng Bắc bộ)
trong việc thực hiện chức năng giáo dục - đó là một trong những chức năng
quan trọng nhất của gia đình.
Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay
(2001) của Nghiêm Sĩ Liêm, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh. Đây là một công trình nghiên cứu công phu, toàn diện và
tương đối đầy đủ các khía c nh khác nhau của gia đình trong giáo dục thế hệ
trẻ đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước hiện nay. Từ nghiên cứu thực
tr ng, tác giả đã đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm phát huy hơn
nữa vai trò của gia đình trong giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay.
Gia đình và vai trò của người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay (2004)
của Dương Thị Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Không chỉ dựng l i ở
nghiên cứu vai trò của gia đình, tác giả đã tập trung khẳng định vai trò của
người phụ nữ trong đời sống gia đình và xã hội. Theo đó, với tư cách là một
thành viên trụ cột của gia đình, người phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng
trong đời sống chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước.
3
Gia đình trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở nước ta hiện nay (2004) của
Ph m Thị Xuân, Luận văn th c sỹ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh. Tác giả tập trung khảo cứu thực tr ng vai trò và trách nhiệm của
gia đình trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở nước ta hiện nay, trên cơ sở đó đã đề
xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của gia đình trong lĩnh
vực này vào thời gian tới.
trị của Nguyễn Phương Thảo, T p chí Khoa học về phụ nữ, số 3/1999; Cơ hội
và thách thức đối với phụ nữ trong thời kỳ đổi mới của Nguyễn Thu Thủy,
T p chí Nghiên cứu lý luận, số 3/1999…
Qua các công trình nêu trên, rõ ràng nghiên cứu về gia đình, vai trò của
gia đình đối với con người nói riêng và đời sống chính trị - xã hội đất nước
nói chung đã trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học và lý
luận. Nhiều thành tựu khoa học ở các lĩnh vực này đã đ t được, nhiều kết quả
nghiên cứu đã được xã hội hóa và thiết thực tác động đến đời sống chính trị xã hội đất nước. Tuy nhiên, qua khảo sát tự liệu, trong ph m vi hiểu biết có
h n của mình, chúng tôi bước đầu nhận thấy, vấn đề vai trò của gia đình trong
việc góp phần ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn Việt Nam hiện nay nói
chung và nông thôn Hà Tĩnh nói riêng cho đến nay chưa có công trình nghiên
cứu nào được tiến hành. Điều này càng thúc đẩy tác giả quyết tâm thực hiện
đề tài nghiên cứu của mình.
3. Mục đích v nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu vai trò của các hộ gia đình trong việc góp phần ổn định đời
sống xã hội ở khu vực nông thôn nước ta trong những năm gần đây. Từ đó, đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các hộ gia đình đối với việc
góp phần làm ổn định đời sống xã hội khu vực nông thôn Việt Nam trong giai
đo n hiện nay.
5
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đ t được mục đích trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về gia đình, đời sống xã hội
nông thôn và vai trò của gia đình trong góp phần ổn định đời sống xã hội ở
nông thôn.
- Tìm hiểu thực tr ng vai trò của gia đình trong góp phần ổn định đời
sống xã hội ở nông thôn tỉnh Hà Tĩnh thời gian qua.
đình trong góp phần ổn định đời sống xã hội ở nông thôn nước ta hiện nay.
- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo đáng tin cậy cho những người
quan tâm đến những nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu này.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2
chương và 8 tiết
7
Chương 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA
IA ĐÌN
VÀ
ỔN ĐỊNH XÃ HỘI NÔNG THÔN
1.1. Khái niệm gia đình v xã hội nông thôn
1.1.1. Khái niệm gia đình
Gia đình là nơi mỗi người sinh ra, lớn lên. Nơi mà mỗi thành viên
gắn bó máu thịt với nhau, cùng sẻ chia mọi buồn vui cuộc đời, cùng đóng
góp công sức xây dựng và hưởng thụ mọi thành quả vật chất và tinh thần
do bản thân và các thành viên t o ra. Dù là mối quan hệ hôn nhân hay
huyết thống thì các thành viên trong một gia đình dường như vẫn gắn bó,
có tình cảm và tinh thần trách nhiệm với nhau hơn bất kì một mối quan hệ
nào khác ngoài xã hội.
Gia đình là nơi truyền đ t và nuôi dưỡng tình cảm con người, nơi con
người sẵn sàng sẻ chia tất cả mọi lợi ích vật chất và tinh thần mà không hề
toan tính cũng như hưởng thụ sự sẻ chia đó từ người khác không hề ngần
ng i, không cần tính toán thiệt hơn.
xã hội liên kết con người l i với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống
và chăm sóc con cái. Các mối quan hệ gia đình còn được gọi là mối quan hệ
họ hàng. Đó là những sự liên kết ít nhất cũng là của hai người dựa trên cơ sở
hôn nhân, huyết thống và việc nhận con nuôi. Những người này cũng phải
sống cùng với nhau” [11, tr. 54].
Khái niệm về gia đình mang tính pháp lí ở Việt Nam được ghi trong
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 8, phần 10, Giải thích từ ngữ):
"Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ
huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và
quyền giữa họ với nhau theo qui định của Luật này”. Có thể khẳng định
khái niệm gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã phản ánh
9
một cách khá đầy đủ và sâu sắc các thành tựu nhận thức về gia đình ở
nước ta thời gian qua. Vì vậy khái niệm này đã được thừa nhận rộng rãi và
sử dụng phổ biến. Trong luận văn này, tác giả cũng hoàn toàn nhất trí với
khái niệm này.
h i niệm xã hội nông thôn
Khái niệm “nông thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn…Trong
tâm thức người Việt, đó là một môi trường kinh tế sản xuất với nghề trồng lúa
nước cổ truyền, không gian sinh tồn, không gian xã hội và cảnh quan văn hoá
xây đắp nên nền tảng tinh thần, t o thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh của
người Việt.
Đến nay, khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định t i Thông
tư số 54/TT - NNPTNT/TT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, cụ thể: "Vùng/ khu vực nông thôn mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa
là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn;
được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã".
Nông thôn là một cộng đồng địa vực, cộng đồng cư trú có ranh giới
bình qua những hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình dưới sự lãnh đ o của hệ
thống chính trị bền vững. Con người chân chất, mộc m c, họ sống với nhau
bằng tình làng, nghĩa xóm rất sâu sắc. Những tưởng rằng, sẽ không dễ gì có
thể xâm nhập và làm ảnh hưởng đến môi trường sống của con người ở khu
vực nông thôn này. Thế nhưng, ngày nay trong xu thế hội nhập và phát triển,
dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường, đời sống của con người ở khu
vực nông thôn đang có sự biến đổi, đòi h i cần phải được cơ cấu và có các
chính sách bảo vệ nhất là từ phía các gia đình.
Để làm nổi bật được nội dung ổn định xã hội nông thôn, chúng ta cần
làm rõ khái niệm ổn định xã hội nông thôn. Vậy, ổn định xã hội nông thôn là
gì? Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này, tuy nhiên theo từ điển
11
tiếng việt, ổn định xã hội nông thôn đó là: Tr ng thái xã hội không có những
biến động, thay đổi đáng kể trong hình thức sinh ho t chung có tổ chức của
một bộ phận người, ở một trình độ phát triển nhất định của lịch sử thuộc khu
vực nông thôn.
1.2.2. Nội dung ổn định xã hội nông thôn
* Ổn định về kinh tế
Ở Việt Nam, nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí, vai trò đặc
biệt quan trọng, là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững,
giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ gìn, phát huy
bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái. Phát triển nông thôn,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn là nhiệm vụ
chiến lược, là cơ sở để bảo đảm ổn định tình hình chính trị - xã hội, t o sự
phát triển hài hoà và bền vững của đất nước trong suốt quá trình công nghiệp
hoá, hiện đ i hoá và hội nhập quốc tế.
Nghị quyết số 26 – NQ/TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 của Ban Chấp
nông thôn như: xem nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, chú trọng các chương
trình lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, phát triển kinh
tế trang tr i, đẩy m nh công nghiệp hoá, hiện đ i hoá nông thôn, xây dựng đời
sống văn hoá ở khu dân cư, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở… đã bắt đầu
t o ra những yếu tố mới trong phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Ngoài ra, trong điều kiện giao lưu, hội nhập quốc tế hiện nay, Nhà
nước đã phối hợp với các tổ chức quốc tế, các tổ chức xã hội trong nước để
thực hiện các chương trình xoá đói giảm nghèo, cải thiện môi trường thiên
nhiên và môi trường xã hội ở nông thôn. Các chủ trương của Đảng, chính
sách của Nhà nước ta đã và đang đưa nền kinh tế nông nghiệp nước ta sang
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chúng ta đã thực hiện quy luật sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp,
nông thôn nước ta. Người nông dân chủ động trong sản xuất kinh doanh, cơ
13
sở vật chất kỹ thuật (máy móc, điện, đường, trường, tr m, hệ thống thuỷ
nông…) đã có bước phát triển đáng kể. Lương thực tăng bình quân hàng năm,
bảo đảm được an ninh lương thực quốc gia, có dự trữ, liên tục xuất khẩu với
khối lượng lớn. Kinh tế nông thôn có sự chuyển dịch đa d ng hoá sản xuất
nông nghiệp và phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn. Trình độ
sản xuất nông nghiệp có nhiều tiến bộ, nhiều lo i sản phẩm đã được xây dựng
thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung. Trình độ thâm canh được nâng cao,
chất lượng nông sản được cải thiện đáng kể. Tổng giá trị sản xuất nông, lâm,
thuỷ sản tăng liên tục ở mức cao, kể cả trong điều kiện không thuận lợi của
ngo i cảnh (thời tiết, thị trường...). Cơ cấu kinh tế nông thôn có chuyển biến
tích cực.
Các ngành sản xuất phi nông nghiệp ở nông thôn đã được mở rộng tuy
chưa nhiều, trong đó có một số ngành nghề mới. Kết cấu h tầng nông thôn ở
kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán. Nông nghiệp phát triển nhanh,
khuyến khích mọi người tham gia vào thị trường, dần giảm bớt sự phân hoá
giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành
thị. Sản xuất hàng hoá có chất lượng cao, mang nét độc đáo, đặc sắc của từng
vùng, địa phương. Nông dân đã tập trung đầu tư vào những trang thiết bị,
công nghệ sản xuất, chế biến bảo quản, chế biến nông sản sau thu ho ch.
Nói tóm l i, ổn định về kinh tế, xóa đói giảm nghèo ở nông thôn là một
mục tiêu quan trọng để thúc đẩy ổn định các lĩnh vực khác, góp phần quan
trọng để ổn định xã hội nông thôn.
* Ổn định về chính trị, xã hội
Chính trị - xã hội ổn định không chỉ góp phần củng cố niềm tin của
nhân dân vào chế độ, mà còn là nhân tố cơ bản để mở rộng hợp tác quốc tế,
thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Thời gian qua, tuy ổn định chính trị - xã hội ở
nông thôn được giữ vững nhưng vẫn còn nhiều nhân tố phức t p không thể
15
xem thường. Nông thôn nước ta vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức, nguy
cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nơi trong khu vực và trên thế giới.
N n tham nhũng và tệ quan liêu, mất dân chủ, diễn biến hoà bình do các thế
lực thù địch gây ra là những nhân tố tiềm ẩn có thể gây mất ổn định chính trị xã hội trong nông thôn. Một lo t vấn đề về chính trị - xã hội nông thôn cần
phải giải quyết như: vấn đề dân chủ, vấn đề dân tộc, vấn đề tôn giáo, vấn đề
ruộng đất, vấn đề phân hoá giàu nghèo, vấn đề tư tưởng... Bởi vậy, cần phải
hết sức tăng cường giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội nông
thôn, t o điều kiện cần thiết để tiến hành sự nghiệp đổi mới thắng lợi. Chính
vì vậy, giữ vững ổn định chính trị - xã hội nói chung và ổn định chính trị - xã
hội nông thôn nói riêng là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc ở nước hiện nay.
Sự ổn định chính trị - xã hội trong thời đ i ngày nay không chỉ phụ
thuộc vào tiềm lực kinh tế, quân sự, mà còn phụ thuộc vào sự trong s ch
sống văn hoá ở khu dân cư, giúp nhau xoá đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu
chính đáng. Xây dựng hình mẫu người nông dân sản xuất gi i, bao gồm cả
sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp. Xây dựng, củng cố, bảo vệ môi
trường, du lịch sinh thái. Cần tăng cường hơn nữa bảo vệ rừng đầu nguồn,
chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải từ các khu
công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững. Các nội dung trên trong cấu
trúc mô hình nông thôn mới có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Nhà nước đóng
vai trò chỉ đ o, tổ chức điều hành quá trình ho ch định và thực thi chính sách,
xây dựng đề án, cơ chế, t o hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn
lực, t o điều kiện, động viên tinh thần. Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ
động trong thực thi và ho ch định chính sách. Trên tinh thần đó, các chính
sách kinh tế - xã hội sẽ t o hiệu ứng tổng thể nhằm xây dựng mô hình nông
thôn mới.
17
* Ổn định về trật tự, an ninh quốc phòng
Trật tự, an ninh quốc phòng là sự ổn định và phát triển bền vững của
toàn xã hội, thể hiện sự độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và
các lợi ích quan trọng khác của quốc gia.
Ở nước ta, trật tự, an ninh, quốc phòng là sự ổn định, phát triển bền
vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, sự bất khả xâm ph m độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc.
“Trật tự là tình tr ng ổn định, có thứ bậc trên dưới, trước sau”, “An
toàn là yên ổn trọn vẹn, yên ổn hẳn, không sợ tai n n” [18, tr.16, 704]. Như
vậy, nói đến trật tự, an toàn xã hội là nói đến tình tr ng (tr ng thái) ổn định,
có trật tự, kỷ cương của xã hội. Trật tự, kỷ cương đó được xác lập trên cơ sở
các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành (được gọi là những quy ph m
hành động nhằm đảm bảo cho cuộc sống xã hội được an toàn; Bài trừ các tệ
n n xã hội. Tệ n n xã hội là cơ sở xã hội của tình tr ng ph m tội, là một
trong những nguồn gốc phát sinh tội ph m. Phòng, chống tệ n n xã hội là
nhiệm vụ của toàn xã hội, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, bằng
những biện pháp đồng bộ, tích cực, kiên quyết và triệt để; Bảo vệ môi
trường. Bảo vệ môi trường là tập hợp những biện pháp giữ cho môi trường
trong s ch, đảm bảo sự cân bằng sinh thái... nhằm t o ra một không gian tốt
nhất cho cuộc sống của con người; Kết hợp giữa chủ động phòng ngừa với
chủ động tiến công, lấy chủ động phòng ngừa là cơ bản trong công tác bảo
vệ an ninh, quốc phòng.
Giữ gìn trật tự, an ninh quốc phòng không chỉ là nhiệm vụ hàng đầu
của các cơ quan Đảng, Nhà nước mà còn là sự nghiệp của toàn dân. Các cơ
quan, tổ chức và mọi công dân có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ trật tự, an
ninh, quốc phòng theo quy định của pháp luật. Giữ gìn trật tự, an ninh, quốc
phòng chính là việc tiến hành các ho t động nhằm phòng ngừa, phát hiện,
ngăn chặn tội ph m, đấu tranh làm thất b i âm mưu và ho t động xâm h i an
ninh, quốc phòng trên các lĩnh vực.
19
Tóm l i, giữ gìn trật tự, an ninh quốc phòng là tổng hợp các ho t động
nhằm bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội nông thôn, góp
phần giữ gìn trật tự xã hội, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ và các lợi ích quan trọng khác của đất nước.
* Ổn định về v n hóa gi o ục ch m sóc s c h
Hiến pháp sửa đổi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
2013 qui định rất rõ ràng về văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức kh e nhân dân.
Về văn hóa, Hiến pháp quy định Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân lo i; Nhà nước, xã hội phát triển văn học, nghệ thuật