ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LỊCH SỬ
000
VI TRUNG DANH
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC
GIA ĐÌNH (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI
XÃ NGHĨA MAI, HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH
NGHỆ AN)
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
NGÀNH: CÔNG TÁC XÃ HỘI
KHÓA 34 (2010 – 2014)
Cán bộ hướng dẫn:
HỒ SỸ THÁI
HUẾ, 05/2014
Báo Cáo Tốt Nghiệp Cử Nhân CTXH GVHD: Hồ Sỹ Thái
Lời Cảm Ơn
Sau quá trình thực tập thực tế tại xã Nghĩa Mai, Huyện
Nghĩa Đàn, Tỉnh Nghệ An trong một thời gian tôi đã hoàn
thành bài báo cáo với đề tài“Công tác xã hội với phụ nữ bị
bạo hành gia đình tại xã Nghĩa Mai, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh
Nghệ An” Để hoàn thành bài báo cáo và đạt được kết quả
như vậy đó là sự đóng góp và giúp đỡ tận tình của các thầy
cô giáo trong Khoa Lịch Sử thuộc trường Đại Học Khoa
Học Huế. Đặc biệt tôi xin cảm ơn thầy Hồ Sỹ Thái đã
hướng dẫn cho tôi thực hiện đề tài cũng như bài niên luận
này. Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn Ủy ban xã Nghĩa
Mai, chính quyền địa phương và bà con các thôn trong xã
đã hướng dẫn và cung cấp cho tôi nhưng thông tin hữu ích
để tôi hoàn thành bài báo cáo này!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG BẠO HÀNH GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ NGHĨA MAI, HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
14
2.1. Thực trạng bạo hành gia đình đối với phụ nữ 14
2.1.1. Nguyên nhân BHGĐ 17
2.1.2. Các hình thức BHGĐ đối với phụ nữ 21
2.1.3. Hậu quả BHGĐ 21
2.2. Những hoạt động của chính quyền xã Nghĩa Mai trong việc phòng
chống BHGĐ đối với phụ nữ 24
2.2.1. Những kết quả đạt được 24
2.3.2. Thuận lợi, khó khăn 25
CHƯƠNG 3. CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO HÀNH
GIA ĐÌNH TẠI XÃ NGHĨA MAI, HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN 27
SV: Vi Trung Danh Lớp CTXHK34
Báo Cáo Tốt Nghiệp Cử Nhân CTXH GVHD: Hồ Sỹ Thái
3.1. Ý nghĩa của việc thực hiện CTXH với phụ nữ bị bạo hành gia đình tại
xã Nghĩa Mai 27
3.2. Thực hành CTXH với phụ nữ bị bạo hành gia đình tại xã Nghĩa Mai.27
3.2.1. Tiến trình 27
3.2.2. Các bước tiến hành CTXH với cá nhân 29
3.3. Đánh giá hiệu quả của hoạt động CTXH với phụ nữ bị bạo hành gia
đình tại xã Nghĩa Mai,Huyện Nghĩa Đàn,Tỉnh Nghệ An 37
3.3.1. Kết quả đạt được 37
3.3.2. Bài học kinh nghiệm 38
KẾT LUẬN 38
1. Kết luận 38
2. Kiến nghị 40
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC 1 44
SV: Vi Trung Danh Lớp CTXHK34
hội chủ nghĩa không tưởng Pháp S.Phuriê đã cho rằng: Trình độ giải phóng phụ
nữ là thước đo trình độ phát triển của xã hội. Luận điểm này tiếp tục được
khẳng định trong học thuyết Mác ngay từ khi nó ra đời và phát triển ở trình độ
mới cao hơn trong các giai đoạn tiếp theo. Những quan điểm trên đã cổ vũ cho
nhiều phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng giữa nam và nữ, trở thành một
trong những mục tiêu phấn đấu của nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới.
Phải nói rằng đây là một thực trạng đã và đang diễn ra mang tính toàn
cầu, trong đó Việt Nam không phải là ngoại lệ. Theo báo cáo của Bộ Văn hoá,
Thể thao và Du lịch Việt Nam đã chỉ ra một trong năm tồn tại yếu kém của
ngành năm 2008, đó là: tình trạng bạo lực gia đình, bạo lực đối với người già,
phụ nữ và trẻ em gây nhức nhối công luận [4].
Hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, không ít các trường
SV: Vi Trung Danh Lớp CTXHK34 1
Báo Cáo Tốt Nghiệp Cử Nhân CTXH GVHD: Hồ Sỹ Thái
hợp bệnh nhân nhập viện vì chấn thương do các tác nhân bạo lực gia đình gây
ra, có những trường hợp rất man rợ và đáng thương tâm. Nhiều vụ ly hôn ra
toà là nguyên nhân của nạn bạo hành gia đình. Phụ nữ là những đối tượng
nhạy cảm, vì vậy, các triệu chứng trầm cảm, stress mạnh, nguy hại hơn là sự
suy giảm thần kinh đã trở thành bệnh là những di hậu của nạn bạo hành gia
đình. Không chỉ thế, người phụ nữ còn là đối tượng hứng chịu những tổn hại
về sinh lý dưới tác động của hành vi bạo lực về tình dục. Trong khi đó, tổn
thất cho việc giải quyết vấn đề bạo lực gia đình là không nhỏ, bao gồm nhiều
khoản chi phí cho các dịch vụ hỗ trợ luật pháp, công an, tòa án, xã hội; cho
công tác tuyên truyền, y tế, giáo dục. Đồng thời, phụ nữ - nạn nhân bạo lực
gia đình sẽ giảm năng suất lao động, giảm khả năng tạo thu nhập và việc làm.
Trong những năm qua, cùng với các chủ trương phát triển kinh tế,
chính trị, an sinh xã hội cũng được chú trọng. Vấn đề phụ nữ, giới và bình
đẳng giới ngày càng được quan tâm. Đối tượng là phụ nữ ngày càng được tín
nhiệm, đề cử vào các vị trí quan trọng trong xã hội. Tuy nhiên, trong quan hệ
gia đình, nhiều trường hợp phụ nữ vẫn là những nạn nhân chính của nạn bạo
Nghĩa Mai là một xã vùng núi của tỉnh Nghệ An, với 3 dân tộc anh em
cùng chung sống xen kẽ với nhau là: Thái, Thổ và Kinh. Vì xã đa số là đồng bào
dân tộc thiểu số và hạn chế trong việc tiếp cận với cách thức sản xuất mới nên
còn gặp rất nhiều khó khăn. Hiện nay, đời sống vật chất và tinh thần của người
dân ở đây đang dần được cải thiện và nâng cao nhưng mặt bằng dân trí vẫn còn
thấp và phát triển không đều. Nhiều quan niệm, tư tưởng phong kiến, nhất là tư
tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn chưa được xoá bỏ. Họ vẫn phải chịu thiệt thòi
cả về mặt vật chất lẫn tinh thần, vẫn phải chịu sự bất bình đẳng trong mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội và trong gia đình. Đặc biệt là tình trạng bạo lực trong
gia đình đối với phụ nữ đang gây nhiều bức xúc trong xã Nghĩa Mai. Với những
lý do nêu trên, tôi đã chọn đề tài: “Công tác xã hội với phụ nữ bị bạo hành gia
đình tại xã Nghĩa Mai, Huyện Nghĩa Đàn, Tỉnh Nghệ An” làm báo cáo tốt
nghiệp của mình. Với mong muốn tìm hiểu thực trạng thực hiện công tác
phòng chống nạn bạo hành gia đình và các yếu tố tác động đến quá trình thực
hiện công tác đó ra sao, để đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc
nghiên cứu, từ đó đưa ra các giải pháp đề xuất và kiến nghị với chính quyền
địa phương nhằm tháo gỡ, cải thiện và nâng cao đời sống sức khỏe nhân dân
địa phương nói chung và bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ xã nhà nói riêng.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
SV: Vi Trung Danh Lớp CTXHK34 3
Báo Cáo Tốt Nghiệp Cử Nhân CTXH GVHD: Hồ Sỹ Thái
Phụ nữ có vai trò ngày càng quan trọng trong mọi lĩnh vực. Họ là lực
lượng lao động chiếm hơn 40% dân số, phụ nữ có vai trò hết sức to lớn trong
công cuộc xoá đói giảm nghèo. Đầu tư cho phụ nữ là một trong những biện
pháp hiệu quả giúp phục hồi kinh tế thế giới. Nhận thấy vai trò quan trọng của
phụ nữ trong xã hội hiện đại và tác hại của BHGĐVPN là hết sức to lớn, vì
vậy đã có rất nhiều tác giả trong và ngoài nước viết về BHGĐ.
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một biểu hiện của bất bình đẳng giới
và với tính chất là một sự sai lệch chuẩn mực xã hội. Vì thế, nó đã thu hút
được nhiều nhà khoa học, xã hội học, phụ nữ học trên thế giới quan tâm
trên cơ sở giới là sự bất bình đẳng và quan hệ giới.
Cuốn “Bạo lực gia đình - một sự sai lệch giá trị” của Lê Thị Quý -
Đặng Vũ Cảnh Linh, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2007 tập trung nghiên
cứu tình trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay, những
nguyên nhân và hậu quả của bạo lực gia đình và đặc biệt là công tác phòng
chống bạo lực gia đình - những bài học kinh nghiệm của Việt Nam.
Cuốn “Bình đẳng giới ở Việt Nam” của Trần Thị Vân Anh - Nguyễn
Hữu Minh (chủ biên), NXB khoa học xã hội, Hà Nội, 2008 đã góp phần
nghiên cứu về vấn đề bạo lực gia đình ở Việt Nam dưới góc độ giới, đồng
thời dành hẳn một chương để đưa ra những quan niệm chung nhất về bạo lực
gia đình và làm rõ các yếu tố tác động đến hành vi bạo lực.
Ngoài ra, còn rất nhiều giáo trình, luận văn, luận án hay các tạp chí
thông tin khoa học về phụ nữ có đăng các báo cáo phân tích và đánh giá về
vấn đề bình đẳng giới và bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Như vậy, có thể thấy vấn đề bạo lực trong gia đình đã được nhiều nhà
khoa học quan tâm nghiên cứu. Trong quá trình thực hiện đề tài này tác giả đã
tiếp thu được rất nhiều luận điểm cho đề tài của mình. Tuy nhiên tác giả nhận
thấy ở mỗi công trình trên vẫn còn một số vấn đề chưa được đề cập hoặc đề
cập chưa sâu, đặc biệt là việc khắc phục vấn đề bạo lực trong gia đình đối với
phụ nữ và quan trọng là quá trình can thiệp của nhân viên CTXH trong vấn đề
BHGĐVPN. Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt
nào với đề tài này, tác giả chọn đề tài này vì muốn chỉ ra thực trạng bạo lực
gia đình ở xã Nghĩa Mai và ứng dụng CTXH trong quá trình can thiệp để từ
đó tìm ra phương hướng, giải pháp để khắc phục và góp phần vào công cuộc
giải phóng phụ nữ nói chung.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu chung
- Tìm hiểu thực trạng BHGĐVPN tại xã Nghĩa Mai, huyện Nghĩa Đàn,
tỉnh Nghệ An.
SV: Vi Trung Danh Lớp CTXHK34 5
* Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở khảo sát
thực tế tại Xã Nghĩa Mai, Huyện Nghĩa Đàn,Tỉnh Nghệ An.
SV: Vi Trung Danh Lớp CTXHK34 6
Báo Cáo Tốt Nghiệp Cử Nhân CTXH GVHD: Hồ Sỹ Thái
* Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn 2008-2013.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu này vận dụng quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin và quan điểm của Đảng,
Nhà nước về việc thực hiện các chính sách, pháp luật đối với phụ nữ bị
BHGĐ. Đồng thời sử dụng các lý thuyết CTXH vào nghiên cứu này:
-Lý thuyết hành vi.
-Lý thuyết hành động xã hội.
-Lý thuyết nhu cầu.
-Lý thuyết hệ thống trong CTXH.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp quan sát:
Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu địa bàn thông qua tri giác
trực tiếp về xã Nghĩa Mai, Huyện Nghĩa Đàn, Tỉnh Nghệ An về quá trình xảy
ra các hành vi BHGĐ quá trình thực hiện công tác phòng chống BHGĐVPN
để có thông tin với độ chính xác cao, bản thân quan sát và ghi nhận đầy đủ
qua quan sát thấy được. Những thông tin này được bổ sung làm cho thông tin
thu được qua các tài liệu đầy đủ hơn.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Tiến hành nghiên cứu dựa trên mẫu phiếu điều tra của trung tâm
phòng chống BHGĐVPN với người dân ở các xóm: Lai Châu,xã Nghĩa Mai,
Huyện Nghĩa Đàn, Tỉnh Nghệ An. Bên cạnh đó mẫu phiếu điều tra còn được
cá nhân ngừơi nghiên cứu bổ sung và chỉnh sửa sao cho phù hợp với điều
kiện của địa phuương.
ngành dân số, y tế, tài liệu tập huấn cho quá trình thực hiện công tác phòng
chống BHGĐ…Các thông tin trong các tài liệu này được xử lí, phân tích và
nêu ra nhằm giải quyết các vấn đề trong giả thuyết nghiên cứu.
*Phương pháp công tác xã hội cá nhân:
Thông qua quá trình hoạt động nhóm, chúng tôi đã chọn ra 1 cá nhân
đặc biệt để tiến hành thực hành CTXH với cá nhân đó là thân chủ: Vi Thị
Cáng (xóm Lai Châu, xã Nghĩa Mai ,Huyện Nghĩa Đàn, Tỉnh Nghệ An).
SV: Vi Trung Danh Lớp CTXHK34 8
Báo Cáo Tốt Nghiệp Cử Nhân CTXH GVHD: Hồ Sỹ Thái
SV: Vi Trung Danh Lớp CTXHK34 9
Báo Cáo Tốt Nghiệp Cử Nhân CTXH GVHD: Hồ Sỹ Thái
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ
CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.1. Tổng quan về địa bàn xã Nghĩa Mai, Huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Lịch sử hình thành lập: Xã Nghĩa Mai được hình thành trước năm
1995 đến nay .
1.1.1.2. Vị trí địa lý
Xã Nghĩa Mai là một xã ở phía Tây Bắc Huyện Nghĩa Đàn cách trung
tâm huyện 15km ,cách Thành Phố Vinh >100km , phía Bắc giáp xã Nghĩa
Yên , phía Đông giáp xã Nghĩa Hưng, phía Nam giáp xã Nghĩa Hồng, phía
Tây giáp xã Nghĩa Thịnh.
1.1.1.3. Địa hình- khí hậu
Nhìn chung xã Nghĩa Mai có địa hình đồi núi, nằm trải dọc sát nguồn
song Hiếu và núi bọc nên địa hình khá phức tạp.
Xã Nghĩa Mai nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới ẩm, chịu ảnh hưởng
của gió mùa với 2 mùa mưa và mùa khô.
1.1.1.4. Tài nguyên thiên nhiên
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 20.138,71 ha; Đất thổ cư 54,36 ha;
đất nông nghiệp 815 ha; đất lâm nghiệp 9.376,29 ha ; đất nuôi trồng thủy sản
Ang.
+Yên Lý, đông giáp xã Nghĩa Yên, tây giáp Làng Vàng,nam giáp rừng.
- Dân số :có 3.673 hộ với 11.250 nhân khẩu.
- Cơ cấu độ tuổi :Trẻ em từ dưới 16 tuổi trở xuống :3.596 người(nam :
1.805 ;nữ 1.791) ; người lớn :7.654 người (nam :3.839; nữ : 3.815).
- Người khuyết tật :210 người
- Tỉ lệ hộ nghèo: 19,86%(531 hộ nghèo/1.540 nhân khẩu).
- Tỉ lệ hộ cận nghèo: 20.86% (558 hộ nghèo/2.491 nhân khẩu)
-Tỉ lệ hộ nghèo và cận nghèo:40,73%.
- Dân tộc : Kinh, Thái,Thanh,Thổ.
- Tôn giáo: có 959 người theo đạo thiên chúa.
- Cơ sở hạ tầng:
+ Giao thông : Có 30 km đường nhựa là đường chính liên xã, Có trên 18
km đường bê tông nông thôn, còn lại chủ yếu là đường cấp phối và đường đất.
+ Thủy lợi: Có 2 hồ chứa (Đập Sông Sào, Khe Ang), có 2 tram bơm.
+ Điện : Hệ thống điện phủ khắp xã có trên 100% hộ xử dụng điện
nhưng nhiều cụm dân cư mạng lưới điện chưa được an toàn do xây dựng đã
lâu (từ 2002).
+ Trường học : 7 trường gồm có 106 lớp với 4.329 học sinh và 179
giáo viên.
+ Trường mầm non : Có 2 trường 9 khu vực, 18 lớp với 718 học sinh
và 33 giáo viên .
SV: Vi Trung Danh Lớp CTXHK34 11
Báo Cáo Tốt Nghiệp Cử Nhân CTXH GVHD: Hồ Sỹ Thái
+ Trường tiểu học : Có 3 trường, 9 khu vực, 44 lớp với 1.637 học sinh
và 77 giáo viên.
+ Trường trung học cơ sở: Có 2 trường, 44 lớp với 1.974 học sinh và 69
giáo viên.
+ Trạm y tế : Xây dựng mới năm 1991, gồm 2 dãy nhà 2 tầng.
+ Có một chợ nằm trên địa bàn Làng Nạn.
chuyên ngành chính trị học. Với cách định nghĩa như vậy, bạo lực vẫn thường
được hiểu với tính chất của một phương thức vận động chính trị: “bạo lực là
sức mạnh dùng để trấn áp lật đổ” (Từ điển Tiếng Việt, 2003). Còn theo từ
điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học: “Bạo lực là một giai cấp (các nhóm chính
trị - xã hội) nào đó áp dụng những hình thức cưỡng bức khác nhau, kể cả sự
tác động bằng vũ trang, đối với các giai cấp (các nhóm chính trị - xã hội)
khác nhau nhằm mục đích giành lấy hoặc duy trì sự thống trị về kinh tế,
chính trị những quyền hay đặc quyền khác nhau” [6;28].
Các nhà khoa học đã phân chia các dạng thức bạo lực trong xã hội: có
thể là bạo lực về chính trị, khủng bố, lật đổ hoặc bạo lực về kinh tế, tranh
giành lợi nhuận; bạo lực ở cấp độ giai cấp hoặc ở cấp độ các nhóm và tầng
lớp xã hội; bạo lực trong phạm vi địa phương, hoặc trong phạm vi gia đình;
bạo lực giữa các cá nhân với cá nhân. Từ đó ta có thể thấy, bạo lực gia đình là
một dạng thức của bạo lực trong xã hội,“Nó là việc các thành viên trong gia
đình vận dụng sức mạnh để xử lý các vấn đề trong gia đình” [15;7].
Bạo lực gia đình là hiện tượng phổ biến trên thế giới nhưng vẫn có rất
nhiều người nhận thức chưa đúng về nó. Luật phòng, chống bạo lực gia đình
của Quốc hội nước ta chỉ rõ: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên
gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh
tế đối với các thành viên khác trong gia đình” [2;25].
Như vậy, bạo lực gia đình bao gồm các yếu tố bạo hành về thể chất, về
tinh thần và cả về kinh tế. Ngoài ra, theo phân loại các hình thức bạo lực gia
đình còn bao gồm cả yếu tố bạo lực tình dục. Những hành vi bạo lực gia đình
gây ra để lại nhiều tổn hại đối với cộng đồng xã hội, đối với con người, đặc
biệt đối với nạn nhân bị bạo hành - đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp.
1.2.3. Công tác xã hội
Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau về công tác xã hội. Có hai định
nghĩa đáng chú ý là:
• Định nghĩa của Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ (NASW -
1970): "Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc
trong gia đình khi lén lút, lúc công khai, đã và đang xảy ra phá vỡ hạnh phúc
của một số gia đình, nhất là các cặp vợ chồng trẻ. Vì vậy chúng ta cần phải
đấu tranh nhằm ngăn chặn, tiến tới xoá bỏ hoàn toàn các hành vi bạo lực gia
đình đối với phụ nữ.
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, bạo lực gia đình bao gồm nhiều
dạng. Trong xã hội Việt Nam nó thường diễn ra dưới hai hình thức: “bạo lực
nhìn thấy được” và “bạo lực không nhìn thấy được”. Hai dạng bạo lực này ở
nơi này được thể hiện trong mối quan hệ khăng khít, ở nơi khác lại được thể hiện
trong sự độc lập, tách biệt lẫn nhau. Điều này phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể
của từng gia đình, vào nhận thức và hành động của các thành viên trong gia
đình.
Thứ nhất: bạo lực nhìn thấy được
Vấn đề bạo lực và các hành vi bạo lực trong gia đình là một vấn đề
phức tạp, thể hiện ở nhiều góc độ. Trong thực tế, các nghiên cứu chủ yếu tập
trung ở các hành vi bạo lực nhìn thấy được mà ít có những phân tích sâu đối
với những hành vi bạo lực không nhìn thấy được trong gia đình.
Bạo lực nhìn thấy được đó là bạo lực về thân thể, tình dục với các hành
vi đánh đập, hành hạ đến thương tích phải tìm đến cái chết; hay bị hành hạ
chửi rủa hắt hủi khi không sinh được con trai; người chồng đòi lấy vợ hai
hoặc người chồng khinh bỉ coi vợ như người ở…Ta có thể nhận thấy đây là
một dạng bạo lực rất nguy hiểm. Nó làm cho người phụ nữ bị tổn thương, đau
đớn hoặc đôi khi mất đi cả tính mạng của mình.
Thực trạng bạo lực gia đình nói chung, bạo lực nhìn thấy được nói
riêng của toàn xã Nghĩa Mai ngày càng tăng với con số đáng lo ngại. Năm
2009 có 11 vụ bạo lực do mâu thuẫn gia đình bị đánh đập ngược đãi. Đến
năm 2010 con số này là 13 vụ, năm 2011 số vụ bạo lực ở mức nghiêm trọng
là 15 vụ. Tổng là 39 vụ cả nghiêm trọng và nhẹ. Như vậy, tình trạng bạo hành
gia đình trên địa bàn xã đang có chiều hướng ngày càng gia tăng.[8]
Thực trạng này ngày càng phổ biến khắp các cơ sở thôn xóm trong toàn
xã, chiếm tỷ lệ lớn trong các vụ án về hôn nhân và gia đình. Theo thống kê
phương tiện nghe nhìn. Việc triển khai các chính sách, đường lối, thực hiện chủ
trương pháp luật của nhà nước chủ yếu dựa vào đội ngũ cán bộ cơ sở. Tuy nhiên,
trình độ nhận thức của đội ngũ cán bộ cơ sở còn rất hạn chế. Với cách nghĩ đơn
giản, nhiều chị em phụ nữ chấp nhận những hành vi thô bạo của các ông chồng
với quan điểm cho rằng “phải biết thông cảm”, chỉ có một số hành vi được xác
định khá rõ là hành vi bạo lực gia đình như đánh đập, chửi mắng. Còn những
SV: Vi Trung Danh Lớp CTXHK34 16
Báo Cáo Tốt Nghiệp Cử Nhân CTXH GVHD: Hồ Sỹ Thái
người nam giới lại có xu hướng phủ nhận tình trạng bạo lực gia đình tại địa
phương hay gia đình.
Thông thường, người phụ nữ khi bị chồng đánh đập, chửi bới sẽ cam
chịu, chờ đợi sự tỉnh ngộ của đức ông chồng, không muốn làm to chuyện vì
quan niệm xấu chàng hổ ai… Chỉ có những trường hợp nào nghiêm trọng đến
tính mạng thì lúc đó, chị em mới nói ra nỗi khổ nhục mình phải chịu.
Chẳng hạn như trường hợp của chị Lường Thị N xóm Lai Châu là một
người hiền lành chăm chỉ hết lòng vì chồng, vì con. Chồng chị là anh Lò Văn
P lại là người hay uống rượu và mỗi khi say xỉn lại về nhà mắng chửi đánh
đập vợ mình. Mặc dù vậy chị N vẫn cắn răng chịu đựng, thế nhưng chị càng
nhịn thì chồng chị lại lấn tới và gần đây chị đã bị chồng đánh trọng thương
phải vào viện điều trị và sau nhiều lần hai bên gia đình, cán bộ thôn, toà án
huyện hoà giải nhưng chị N vẫn kiên quyết ly hôn.
Qua khảo sát thực tế cho thấy tình trạng bạo lực trong gia đình diễn ra
phổ biến ở các gia đình dân tộc, với nhiều hình thức khác nhau. Ở cấp độ
nguy hiểm nhất là tình trạng tự tử do mâu thuẫn gia đình, mâu thuẫn vợ chồng
khá nhiều.
Đối với người dân tộc thiểu số, do phong tục tập quán lạc hậu, tuy tình
trạng ly hôn không nhiều nhưng thực tế người vợ thường phải cam chịu và
chấp nhận kể cả trong trường hợp người chồng rất vũ phu, đối xử tệ bạc, đã
dẫn họ đến cái chết bằng cách tự tử. Vì vậy, số vụ tự tử liên quan đến bạo lực
gia đình ở các dân tộc trên địa bàn xã Nghĩa Mai là khá nhiều.
địa bàn xã Nghĩa Mai
Trình độ học vấn Tỷ lệ bị chửi Tỷ lệ bị đánh
Mù chữ 37,1% 14,1%
Từ lớp 1 – 5 30,2% 8,8%
Từ lớp 6 – 9 22,4% 5,5%
Từ lớp 10 – 12 17,4% 5,1%
Từ cao đẳng đại học trở lên. 9,6% 0,9%
Nguồn: Sưu tầm
* Nguyên nhân về nhận thức
Nhiều kẻ bạo hành có những hành động, cử chỉ lời nói xúc phạm và gây
tổn thương tới người khác nhưng họ không cho đó là bạo hành. Họ chưa hiểu
rõ bạo hành là như thế nào mà thường nghĩ bạo hành đơn giản là đánh đập,
hành hạ nhưng thực ra bạo hành không chỉ làm tổn thương về mặt thể chất mà
còn cả về mặt tinh thần như: lạnh nhạt, hững hờ, thiếu quan tâm, vv… Chính
SV: Vi Trung Danh Lớp CTXHK34 18
Báo Cáo Tốt Nghiệp Cử Nhân CTXH GVHD: Hồ Sỹ Thái
vì thiếu kiến thức về bạo hành nên nhiều kẻ bạo hành đã thực hiện hành vi
bạo hành với người khác mà không hề hay biết.
Trong tất cả các trường hợp BHGĐ tại xã Nghĩa Mai, dù nguyên nhân
chính là gì thì cũng không thể thiếu nguyên nhân về nhận thức, chính về nhận
thức của người dân về BHGĐ kém thì mới dẫn đến các nguyên nhân khác, và
ở đây, nguyên nhân BHGĐ do nhận thức là chiếm khoảng 65%.
* Nguyên nhân do tàn dư về xã hội:
Trước hết là do tư tưởng độc quyền, gia trưởng của người chồng, coi
khinh vợ, tự cho mình có quyền được đối xử tàn bạo với vợ nhưng vợ thì
không được làm những điều đó với chồng.
Do mềm yếu và tính cam chịu của phụ nữ Á Đông nên người vợ thường
không dám có những hành vi biểu hiện chống trả, từ đó khiến cho người
chồng càng ngày càng lấn át người vợ.
Do người phụ nữ luôn cho rằng bị bạo hành là một chuyện xấu, chuyện
người vợ quá mạnh, luôn đòi hỏi người chồng phải đáp ứng, hoặc lấy
chuyện tình dục ra để trừng trị mỗi khi người chồng mắc lỗi.
Vì đây là nguyên nhân mang tính tế nhị nên khi thu thập thông tin
chúng tôi không được cung cấp một cách chính xác, thân chủ cố tình che dấu
cho trường hợp của gia đình mình.
* Nguyên nhân do ngoại tình
Đây là nguyên nhân trực tiếp của những trận bạo hành trong gia đình.
Người vợ hoặc chồng đi ngoại tình về nhà rồi kiếm cớ đay nghiến, dằn hắt vợ
hoặc chồng con nhưng phổ biến hơn vẫn là người chồng. Chồng có thể đánh
đập, chửi bới, lăng nhục thậm chí là chê bai vợ để biện minh cho hành động
ngoại tình của mình. Có những trường hợp vợ chồng nghi ngờ nhau ngoại
tình rồi tìm cách xỉa xói, ghen tuông, gây gổ và thậm chí còn đánh đập vợ.
* Nguyên nhân do xung đột gia đình
Vấn đề nuôi dạy con cái để xẩy ra những tranh cãi bất đồng. Vấn đề chi
tiêu mua sắm không thống nhất, vấn đề trách nhiệm của mỗi người trong gia
đình và thiết lập các mối quan hệ với những người bên ngoài, vv….
* Nguyên nhân từ hai bên gia đình
Sự tác động của hai bên gia đình, đặc biệt là gia đình nhà chồng. Chuyện
mẹ chồng nàng dâu, mẹ vợ và chàng rể và các mối quan hệ khác trong gia
đình một khi “cơm không lành, canh không ngọt” là nguyên nhân chính khiến
cho vợ hoặc chồng có những hành động hoặc lời nói bạo hành với người kia.
* Những nguyên nhân khác
Ngoài các nguyên nhân chính gây nên tình trạng bạo lực gia đình đối với
phụ nữ đã kể trên thì cũng cần phải kể đến một số nguyên nhân như: do nhận
thức về giới và sự bình đẳng giới còn hạn chế; tác động của các chất kích
thích, của thói trăng hoa, Sự cuồng tín tôn giáo, chênh lệch học vấn, suy thoái
lối sống, đạo đức, lấy nhau không xuất phát từ tình yêu,…;sự khủng hoảng
SV: Vi Trung Danh Lớp CTXHK34 20