MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Mác và Ăng-ghen khi nghiên cứu lịch sử tiến hoá của xã hội loài
người đã dựa trên quan điểm duy vật khẳng định vai trò của gia đình trong
sự phát triển của xã hội: "Những trật tự xã hội của con người ở một thời đại
lịch sử của một quốc gia do hai yếu tố con người quyết định. Đó là, trình độ
phát triển của lực lượng lao động và trình độ phát triển của gia đình”
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Rất quan tâm đến gia đình là đúng
và nhiều gia đình cộng lại thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình tốt, gia đình
tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây
dựng chủ nghĩa xã hội phải chú ý hạt nhân cho tốt"
Tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình đã được thể hiện trong các nghị
quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Từ đó, các ngành, các cấp, các
đoàn thể và tổ chức xã hội ra sức chăm lo gia đình và cơ hội để gia đình góp
phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ở bất kỳ thời đại nào gia đình đều giữ vai trò là tế bào của xã hội, là
một trong những nhân tố quyết định sự hưng thịnh của một quốc gia.Trong
những năm qua, cùng với các chủ trương phát triển kinh tế, chính trị, an sinh
xã hội cũng được chú trọng. Vấn đề phụ nữ, giới và bình đẳng giới ngày
càng được quan tâm. Đối tượng là phụ nữ ngày càng được tín nhiệm, đề cử
vào các vị trí quan trọng trong xã hội.Trong mỗi gia đình, người phụ nữ luôn
đóng vai một vai trò quan trọng để tạo lập nên hạnh phúc gia đình. Xã hội đã
phát triển kéo theo sự thay đổi vai trò của người phụ nữ ở xã hội nói chung,
trong gia đình nói riêng, nam nữ được đối xử công bằng, không còn tư tưởng
“ trọng nam khinh nữ” nữa.Bên cạnh đó vẫn còn hiện tượng phụ nữ bị ngược
đãi nhất là trong gia đình.Bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một hiện tượng
xảy ra hầu như ở khắp các nơi trên thế giới, mọi đẳng cấp trong xã hội và
trong mọi nền văn hoá. Bạo lực gia đình đã tàn phá, hủy hoại sự bình yên
của nhiều gia đình, làm băng hoại đạo đức xã hội, tước đoạt quyền được
SVTH: Vũ Thị Thảo – MSSV 5709149
sống hạnh phúc của những người vợ, người con. Bạo lực gia đình đối với
triển của đất nước có phần không nhỏ sự trợ giúp, can thiệp của công tác xã
hội để các gia đình Việt Nam ngày càng hạnh phúc, bình yên.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Trước đây hầu hết các Chính phủ coi bạo lực đối với phụ nữ là vấn đề
riêng tư (United Nation 1996) thì ngày nay nhiều nghiên cứu quốc tế đã cho
thấy bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình là hệ thống có tính toàn cầu, tác
động trong khoảng 20-50% số phụ nữ trên thế giới (WHO, 1998)
Bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình đã trở thành một nội dung quan
trọng trong Tuyên bố hành động của Hội phụ nữ thế giới lần thứ IV tại Bắc
Kinh năm 1995 và trong các văn bản của tổ chức Liên hợp quốc.
Từ ngày 4 – 6/12/2001, tại Phnômpênh Campuchia đã diễn ra Hội
nghị về luật pháp phòng chống bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình ở vùng
tiểu Mêkông, Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam. Hội nghị được tổ chức
và tài trợ bởi một số tổ chức quốc tế lớn như: Diễn đàn Châu Á (Forum Asia)
về quyền con người và phát triển, Diễn đàn Châu Á – Thái Bình Dương về
phụ nữ, Luật pháp và phát triển (APWLD); Quỹ phát triển của Liên hợp
quốc (UNIFEM); Đại sứ quán Hà Lan tại Băng Kốc…
Hội nghị diễn ra với 5 mục tiêu:
- Tăng cường cải thiện về Luật pháp cho sự tiến bộ về quyền con
người của phụ nữ ở các nước Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam.
- Xây dựng những hiểu biết chung về vấn đề bạo lực gia đình và khả
năng của từng nước trong việc phát triển các chiến lược kiểm soát bạo lực
gia đình.
- Chia sẻ kinh nghiệm từ các tổ chức Phi chính phủ ở một số nước đã
đạt được các thành tích trong việc thực hỗ trợ Pháp luật cho vấn đề bạo lực
gia đình.
- Thành lập mạng lưới thông tin giữa các cơ quan Quốc hội, phòng,
ban, cấp, ngành, các đoàn Luật sư và các tổ chức Phi chính phủ.
SVTH: Vũ Thị Thảo – MSSV 5709149
- Hội nghị đã nghe trình bày và thảo luận về các chủ đề như: vấn đề
cung cấp đầy đủ được một bức tranh toàn diện về bạo lực trên cơ sở giới.
* Năm 1999, Lê Thị Phương Mai đã nghiên cứu về “ Bạo lực và hậu
quả đối với sức khoẻ sinh sản : Hiện trạng của Việt Nam”. Nghiên cứu tập
trung vào tìm hiểu các nguyên nhân và các loại bạo lực. Trong báo cáo bao
gồm các trường hợp Bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình chủ yéu phỏng
vấn phụ nữ đến Tư vấn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả nhận thấy : Bạo
lực đối với phụ nữ trong gia đình có thể xảy ra ở mọi gia đình và mọi tầng
lớp xã hội.
* Bạo lực trên cơ sở giới: trường hợp ở Việt Nam, TS Vũ Mạnh Lợi,
TS Vũ Tuấn Huy, TS Hữu Minh, Jennifer Clenment thực hiện tại cuộc
nghiên cứu thăm dò cởi mở đối với người Việt Nam về thực trạng bạo lực
chống lại phụ nữ ở các xã phường…
* Báo cáo về bạo lực với phụ nữ trong gia đình ở Việt Nam (1999), TS
Lê Thị Quý. Tác giả Lê Thi Quý đã xác định 4 nguyên nhân của bạo lực đối
với phụ nữ trong gia đình là kinh tế, học vấn, thói quen văn hoá – xã hội và
bệnh thần kinh của người có hành vi bạo lực. Đồng thời tác giả còn nêu rõ
hậu quả của nạn bạo lực.
* Bình đẳng giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản và chống bạo lực
gia đình(2002) của Hội kế hoạch hoá gia đình Việt Nam.
* Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam (1999), GS.Lê
Thi, NXB Phụ nữ Hà Nội.
* Bạo lực trong gia đình, Bùi Thu Hằng.
* Bạo lực trong gia đình (1999), Lê Thị Quý.
* Vì một xã hội không bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em (2002), Trung
tâm sức khoẻ phụ nữ và gia đình Workbank.
Nhìn chung đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập tới vấn đề bạo
lực đối với phụ nữ trong gia đình tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu
nhằm đưa ra mô hình trợ giúp đối với đối tượng là phụ nữ bị bạo lực. Ở địa
SVTH: Vũ Thị Thảo – MSSV 5709149
phương tôi việc nghiên cứu về bạo lực gia đình là hạn chế hầu như chỉ có
* Vận dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp
trường hợp phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Ngọc Quan- Đoan Hùng- Phú Thọ.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu , bổ sung và tích luỹ vốn tri
thức lí luận liên quan đến đề tài ở nhiều góc độ: Triết học, tâm lí học, công
tác xã hội đồng thời nghiên cứu những chủ trương, chính sách, văn bản pháp
luật, các công trình khoa học về bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình.Mục
đích của phương pháp này là thu thập những vấn đề lí luận liên quan đến đề
tài như: bạo lực, gia đình, bạo lực gia đình, bạo lực đối với phụ nữ.Vì đó là
cơ sở cho việc xây dựng phương pháp điều tra, phân tích về thực trạng bạo
lực đối với phụ nữ trong gia đình trên thế giới nói chung và ở địa phương tôi
nói riêng.
- Báo cáo tóm tắt nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ
Việt Nam.
- Báo cáo của chính quyền xã Ngọc Quan về thực trạng bạo lực gia
đình đối với phụ nữ.
- Tìm hiểu thái độ và nhận thức của sinh viên trường Đại học sư phạm
Hà Nội về bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình, Hà Thị Minh.
Ngoài ra khoá luận còn sử dụng phương pháp phân tích tài liệu từ
phim ảnh, internet, sách, báo, băng hình…trên cơ sở đó phân tích, sàng lọc
thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu.Kết hợp tham khảo một số đề tài
nghiên cứu khoa học, luận văn có liên quan đến đề tài trước đó để tham khảo
thêm về phương pháp nghiên cứu làm cơ sở bổ sung cho đề tài của mình.
5.2 Phương pháp phỏng vấn
Tôi sử dụng phương pháp này làm phương tiện cho các phương pháp
nêu trên đồng thời thu thập một số thông tin cụ thể, chính xác góp phần tăng
SVTH: Vũ Thị Thảo – MSSV 5709149
độ tin cậy và sức thuyết phục của khoá luận.Cụ thể tôi tiến hành trao đổi, trò
chuyện trực tiếp với nhóm phụ nữ bị bạo lực tại khu hành chính 7 xã Ngọc
chính quyền và các tổ chức đoàn thể có liên quan.
6. Ý nghĩa của đề tài
6.1 Ý nghĩa lí luận
Đề tài có ý nghĩa trong việc cung cấp những thông tin cơ bản về nạn
bạo lực gia đình đồng thời giúp sinh viên công tác xã hội nắm vững lí thuyết
phương pháp công tác xã hội cá nhân.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Giúp sinh viên công tác xã hội hiểu rõ hơn về thực trạng phụ nữ bị bạo
lực gia đình tại địa phương từ đó vận dụng kiến thức đã học trong việc trợ
giúp - Đó là cách vận dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trợ giúp đối
tượng là phụ nữ bị bạo lực gia đình tại địa phương mình.
7. Kết cấu của khoá luận
Chương I Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
Chương II Thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Ngọc
Quan – Đoan Hùng – Phú Thọ.
Chương III Vận dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân
trong việc trợ giúp trường hợp phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Ngọc
Quan – Đoan Hùng – Phú Thọ.
SVTH: Vũ Thị Thảo – MSSV 5709149
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1Các khái niệm
1.1.1.1Bạo lực gia đình
“Bạo hành gia đình/Bạo lực gia đình là thuật ngữ dùng để chỉ các hành
vi bạo lực giữa các thành viên trong cùng một gia đình. Hành vi bạo lực
thường thấy nhất là giữa vợ và chồng nhưng bạo lực giữa cha mẹ với con cái
hay ông bà, anh em ruột với nhau hoặc giữa mẹ chồng và con dâu cũng có
xảy ra và được xếp vào nhóm các hành vi này. Nạn nhân của bạo lực thân
thể thường là phụ nữ - vợ hoặc mẹ của đối tượng, với nam giới họ là nạn
không liên quan gì với ý thức được coi là cái bên trong.
Đi theo những người nghiên cứu tâm lý học động vật lấy nguyên tắc
“thử và lỗi” làm nguyên tắc khởi thủy điều khiển mọi hành vi, Oat-xơn muốn
loại trừ tâm lý học duy tâm với phương pháp nội quan bằng cách nghiên cứu
hành vi theo phương pháp lâu nay vẫn dùng trong tâm lý học động vật.
[11]
1.1.2.2 Thuyết hệ thống sinh thái
Lí thuyết hệ thống và sinh thái giúp cho những người thực hành công
tác xã hội phân tích thấu đáo sự tương tác trong các hệ thống xã hội và hình
dung những tương tác này ảnh hưởng ra sao tới hành vi con người.
Lí thuyết hệ thống sinh thái chỉ ra sự tác động mà các tổ chức, các
chính sách, cộng đồng và nhóm ảnh hưởng lên cá nhân.Mục đích của công
tác xã hội cá nhân là cải thiện mối tương tác giữa thân chủ và hệ thống.
Các nghiên cứu chỉ ra rằng mạng lưới xã hội gồm bạn bè, người thân,
láng giềng, bạn đồng nghiệp và cả con vật cưng chiều giúp giảm thiểu tác
động tai hại của những căng thẳng trong cuộc sống.Trái lại, người thiếu
mạng lưới xã hội đáp ứng với những căng thẳng trong cuộc sống bằng trầm
cảm, dùng ma tuý hay uống rượu, có hành vi bạo lực hoặc đối phó bằng
những cách thức không phù hợp.
Thế mạnh chủ yếu của mô hình các hệ thống sinh thái là phạm vi rộng
đến nỗi những vấn đề tiêu biểu của con người như chăm sóc sức khoẻ, quan
hệ gia đình, thu nhập bất thường, khó khăn về sức khoẻ tâm thần…có thể
gộp tất cả vào mô hình này, giúp người thực hành nghề nghiệp phân tích các
SVTH: Vũ Thị Thảo – MSSV 5709149
biến số phức tạp liên quan đến vấn đề này. Đánh giá cội rễ của vấn đề và
quyết định trọng tâm can thiệp là những bước đi đầu tiên khi áp dụng mô
hình các hệ thống sinh thái.
[1; 76]
1.1.2.3 Thuyết xung đột
thành tựu bước đầu rất quan trọng. Quốc hội quyết định sửa đổi Hiến pháp
năm 1980 để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới.
Hiến pháp này quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,
quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu,
nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, thể chế hoá mối
quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý.
Điều 52: “ Mọi công dân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật”
Điều 63: “ Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc
phạm nhân phẩm phụ nữ”
Điều 71: “ Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm
danh dự, nhân phẩm công dân”
1.1.3.2 Luật tố tụng hình sự Số: 19/2003/QH11
Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối
quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm của những người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những
người tham gia tố tụng, của các cơ quan, tổ chức và công dân; hợp tác quốc
tế trong tố tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm,
phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi
phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Bộ luật tố tụng hình sự góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức,
bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý
thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Điều 5. Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật
Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình
đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo,
SVTH: Vũ Thị Thảo – MSSV 5709149
thành phần xã hội, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo
pháp luật.
gia đình, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; trách nhiệm của cá nhân,
gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình và xử lý vi
phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình có sáu chương với 46 điều đã
được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 21-11-2007 và Chủ
tịch nước ký lệnh công bố ngày 5-12-2007, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-
2008.
Điều 2. Các hành vi bạo lực gia đình
1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:
a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến
sức khoẻ, tính mạng;
b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu
quả nghiêm trọng;
d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình
giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị,
em với nhau;
đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục;
e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân
tự nguyện, tiến bộ;
g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư
hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của
các thành viên gia đình;
h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính
quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra
tình trạng phụ thuộc về tài chính;
i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
SVTH: Vũ Thị Thảo – MSSV 5709149
2. Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng
đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không
b) Cấp cứu nạn nhân bạo lực gia đình;
c) Các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính hoặc pháp luật về tố tụng hình sự đối với người có hành vi
bạo lực gia đình;
d) Cấm người có hành vi bạo lực gia đình đến gần nạn nhân; sử dụng
điện thoại hoặc các phương tiện thông tin khác để có hành vi bạo lực với nạn
nhân (sau đây gọi là biện pháp cấm tiếp xúc).
2. Người có mặt tại nơi xảy ra bạo lực gia đình tuỳ theo tính chất, mức
độ của hành vi bạo lực và khả năng của mình có trách nhiệm thực hiện các
biện pháp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này.
3. Thẩm quyền, điều kiện áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp quy
định tại điểm c khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật về tố tụng hình sự.
4. Việc áp dụng biện pháp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này được
thực hiện theo quy định tại Điều 20 và Điều 21 của Luật này.
Điều 26. Cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình
1. Cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình là nơi chăm sóc, tư vấn,
tạm lánh, hỗ trợ những điều kiện cần thiết khác cho nạn nhân bạo lực gia
đình.
2. Cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình bao gồm:
a) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
b) Cơ sở bảo trợ xã hội;
c) Cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình;
d) Cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình;
đ) Địa chỉ tin cậy ở cộng đồng.
SVTH: Vũ Thị Thảo – MSSV 5709149
3. Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn hoạt động trợ giúp nạn
nhân của các cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình.
1.1.3.5 Luật hôn nhân và gia đình 2010
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi
vững.
Điều 19. Bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng
Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về
mọi mặt trong gia đình.
Điều 21. Tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng
1. Vợ, chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho
nhau.
2. Cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh
dự, nhân phẩm, uy tín của nhau.
1.1.3.6 Luật bình đẳng giới nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam
Luật này quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của
đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách nhiệm
của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới.
Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội
như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn
nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố
quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
và gia đình.
Điều 18. Bình đẳng giới trong gia đình.
1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ
khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.
SVTH: Vũ Thị Thảo – MSSV 5709149
2. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản
chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và
quyết định các nguồn lực trong gia đình.
3. Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa
chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian
nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật.
4. Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện
toàn cầu và đòi hỏi 1 cáh tiếp cận đa ngành để giải quyết triệt để.
1.2.2 Thực trạng bạo lực gia đình ở Việt Nam (2010)
1.2.2.1 Bạo lực thể xác do chồng gây ra
32% phụ nữ từng kết hôn cho biết họ đã phải chịu bạo lực thể xác
trong đời và 6% đã từng trải qua bạo lực thể xác trong vòng 12 tháng trở lại
đây.
Hình 1.1 Tỉ lệ phụ nữ bị chồng gây ra bạo lực thể xác chia theo độ
tuổi ở Việt Nam; 2010 (N = 4561)
[14; 14]
Có sự khác biệt giữa các khu vực và trình độ học vấn và với phụ nữ có
trình độ văn hóa thấp hơn thì tỷ lệ bị bạo lực thể xác cao hơn so với phụ nữ
SVTH: Vũ Thị Thảo – MSSV 5709149
có trình độ học vấn cao hơn và trong số những phụ nữ bị bạo lực cao hơn thì
mức độ nghiêm trọng của những hành vi bạo lực cũng cao hơn.
Trong số những phụ nữ đã từng mang thai, tỷ lệ bị bạo lực thể xác
trong ít nhất một lần mang thai là 5% và tỷ lệ bị bạo lực khi đang mang thai
cao nhất ở những phụ nữ chưa từng đến trường.
1.2.2.2 Bạo lực tình dục do chồng gây ra
Phụ nữ gặp khó khăn hơn khi tiết lộ những trải nghiệm bạo lực tình
dục so với những trải nghiệm bạo lực thể xác. Tương tự như vậy, việc nói về
bạo lực tình dục trong hôn nhân được xem như một chủ đề không phù hợp.
Tuy nhiên, trong các buổi phỏng vấn có 10% phụ nữ từng kết hôn cho biết
họ đã từng bị bạo lực tình dục trong đời và 4% trong 12 tháng qua. Đáng chú
ý là bạo lực tình dục hiện tại không thay đổi nhiều ở những nhóm tuổi khác
nhau (tới 50 tuổi) và trình độ học vấn của phụ nữ.
1.2.2.3 Bạo lực tinh thần và kinh tế do chồng gây ra
Bạo lực tinh thần và kinh tế cũng không kém phần quan trọng so với
bạo lực tình dục và thể xác và thường ảnh hưởng đến phụ nữ nhiều hơn bạo
lực tình dục và thể xác. Tuy nhiên, trong khuôn khổ một cuộc khảo sát thì
khó có thể xác định những loại hình bạo lực này và câu hỏi đặt ra chỉ bao
CHƯƠNG II
SVTH: Vũ Thị Thảo – MSSV 5709149
Chỉ thể
xác 3,6%
Tình dục
+ thể xác
0,1%
Chỉ tình
dục 0,9%
Tình dục +
tinh thần 2,5%
Thể xác + tình dục +
tinh thần 6,8%
Chỉ bạo lực
tinh thần
23,5%
Thể xác +
tinh thần
20,1%
THỰC TRẠNG PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI XÃ NGỌC
QUAN – ĐOAN HÙNG – PHÚ THỌ
2.1 Khái quát về địa bàn xã Ngọc Quan - Đoan Hùng - Phú Thọ
2.1.1 Lịch sử hình thành xã Ngọc Quan
Ngọc Quan là xã nằm ở phía Tây của huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú
Thọ.Trải qua các thời kì lịch sử, địa danh tỉnh, huyện cũng như xã Ngọc
Quan có nhiều thay đổi.Thời Vua Hùng dựng nước xã Ngọc Quan thuộc bộ
Văn Lang, bộ chủ của nhà nước Văn Lang- nhà nước đầu tiên của dân tộc
Việt. Đời nhà Trần xã Ngọc Quan thuộc huyện Tây Lan châu Tuyên Quang,
lộ Tam Giang. Đến thời nhà Lê, nhà Nguyễn, xã Ngọc Quan thuộc huyện
Ngọc Quan, phủ Đoan Hùng, lộ Thao Giang, trấn Sơn Tây.Khi thực dân