ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO PHƢƠNG THÙY CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CAN THIỆP TRỢ GIÚP
NỮ CÔNG NHÂN BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
TẠI PHƢỜNG KHAI QUANG - THÀNH PHỐ VĨNH YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội-2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Hà Nội-2013
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu và can thiệp 7
2.1. Những nghiên cứu liên quan đến vấn đề bạo lực gia đình 7
2.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới 9
2.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam 12
2.2. Một số mô hình phòng chống bạo lực gia đình đã được triển khai trên
thế giới và ở Việt Nam 18
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 22
3.1. Ý nghĩa khoa học 22
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 23
4. Mục đích của đề tài 23
5. Khách thể, vấn đề nghiên cứu và can thiệp 24
5.1. Khách thể nghiên cứu và can thiệp 24
5.2. Vấn đề nghiên cứu và can thiệp 24
6. Phạm vi nghiên cứu và can thiệp 24
7. Câu hỏi nghiên cứu 24
8. Phƣơng pháp nghiên cứu và can thiệp 25
8.1. Phương pháp luận 25
8.2. Phương pháp nghiên cứu và can thiệp cụ thể 25
9. Cấu trúc luận văn 26
Chƣơng 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN 28
1.1. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu và can thiệp 28
1.1.1. Lý thuyết hệ thống - sinh thái 28
1.1.2. Lý thuyết can thiệp khủng hoảng 32
1.1.3. Lý thuyết nhận thức hành vi 34
2.3.1. Thực thi kế hoạch 87
2.3.2. Đánh giá - tiếp tục hay chấm dứt sự giúp đỡ 89
3
2.4. Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình can thiệp và biện pháp
khắc phục 91
2.4.1. Thuận lợi 91
2.4.2. Khó khăn và biện pháp khắc phục 91
3.5. Bài học kinh nghiệm 92
3.5.1. Mối liên hệ giữa kiến thức, kỹ năng và giá trị trong quá trình can
thiệp 92
3.5.2. Những kinh nghiệm rèn luyện kỹ năng trong thực hành Công tác xã
hội 94
3.5.3. Kinh nghiệm trong việc giải quyết vấn đề bạo lực gia đình 96
KẾT LUẬN 103
KHUYẾN NGHỊ 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BBĐG: Bất bình đẳng giới
BĐG: Bình đẳng giới
BL: Bạo lực
BLGĐ: Bạo lực gia đình
CLB: Câu lạc bộ
CTXH: Công tác xã hội
KCN: Khu công nghiệp
LHQ: Liên Hợp Quốc
NCN: Nữ công nhân
như nạn nhân ở khắp các vùng miền trong cả nước”
[60]
Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về BLGĐ
đặc biệt là BL của người chồng đối với người vợ. Bên cạnh đó, cũng có nhiều
chương trình, dự án phòng chống BLGĐ thông qua nghiên cứu, hành động, can
thiệp ở nhiều tỉnh thành trong cả nước. Những dự án, chương trình can thiệp, trợ
6
giúp này dần từng bước đem lại những hiệu quả tích cực nhằm hạn chế hậu quả
của BLGĐ nhưng những mô hình trợ giúp mới chỉ mang tính thí điểm, chưa mở
rộng cho những PN bị BLGĐ nói chung, mô hình trợ giúp cho những đối tượng
đặc thù chưa có. Vì vậy, việc cụ thể hóa các chương trình, dự án PCBLGĐ đến
từng địa phương, từng ngành từng lĩnh vực hay đến từng nhóm đối tượng đang
trở thành một yêu cầu cần thiết và quan trọng để công tác PCBLGĐ thực sự đem
lại hiệu quả cao nhất.
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, là một trong 8
tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đồng thời là một trong những tỉnh
dẫn đầu cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế - đặc biệt là kinh tế công nghiệp,
hàng loạt khu công nghiệp được hình thành, lực lượng lao động từ các nơi đổ xô
về các khu công nghiệp này, số lượng công nhân tăng lên nhanh chóng mà trong
số này lực lượng nữ công nhân chiếm phần lớn. Phường Khai Quang - thành phố
Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc là địa bàn được quy hoạch thành một khu công
nghiệp với rất nhiều công ty, doanh nghiệp được xây dựng và hoạt động tại đây.
Phường Khai Quang cũng là địa bàn tập trung rất nhiều nữ công nhân đang sinh
sống.
Đi cùng với sự phát triển kinh tế là những hệ lụy ảnh hưởng trực tiếp đến
đời sống của một bộ phận không nhỏ những NCN. Bởi nhiều nguyên nhân mà
nhiều chị em đang là nạn nhân của BLGĐ. Phải sinh sống, lập nghiệp xa gia
đình, xa quê hương, cha mẹ, họ hàng; phải sinh sống tại các khu nhà trọ thiếu
đảm bảo; đời sống gặp nhiều khó khăn nên khi bị BLGĐ họ thiếu sự quan tâm,
là một vấn đề xã hội cần được giải quyết.
Nãm 1992, trong báo cáo của Ủy ban loại bỏ phân biệt đối xử với PN - cơ
quan theo dõi, giám sát thực hiện Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt
đối xử với phụ nữ (gọi tắt là Công ước CEDAW được Đại hội đồng LHQ phê
chuẩn ngày 18/12/1979) đã khẳng định BLGĐ đối với PN xuất phát từ nguyên
nhân BBĐG. Trong báo cáo nêu rõ nhận định BLGĐ đối với PN ảnh hưởng
8
nghiêm trọng đến quyền con người và thông qua nhiều hoạt động đóng góp việc
giải quyết vấn đề này.
Tuyên bố Viên và chương trình hành động được Đại hội đồng LHQ thông
qua tháng 12/1993 tại thủ đô nước Áo có đoạn viết: “BL đối với PN là sự thể
hiện quan hệ bất bình đẳng mang tính lịch sử giữa nam và nữ, dẫn đến sự thống
trị của nam đối với nữ, sự phân biệt đối xử của nam đối với nữ và cản trở sự
tiến bộ đầy đủ của PN”
[4]
. Dựa vào mức độ nghiêm trọng của vấn đề, tuyên bố
đưa ra các điều khoản để bảo vệ PN. Bên cạnh đó, tuyên bố còn nhấn mạnh đến
vai trò của các tổ chức PN quốc tế cùng góp sức vào việc phòng chống nạn
BLGĐ đối với PN.
Tại Hội nghị Dân số và Phát triển được tổ chức ở Cai rô - Ai Cập năm
1994, BLGĐ được coi là một trong những mục tiêu cần được quan tâm trên thế
giới. Đây cũng là lúc mà chính phủ các nước cho rằng BLGĐ không còn là vấn
đề của riêng mỗi cá nhân mà là sự quan tâm của toàn thể cộng đồng. BLGĐ
không chỉ ảnh hưởng đến bản thân PN mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự
phát triển bền vững của gia đình.
Tuyên bố và chương trình hành động thông qua tại Hội nghị phụ nữ Thế
giới ở Bắc Kinh năm 1995 tiếp tục củng cố tinh thần của các hội nghị trước.
Từ ngày 4 đến 6/12/2001, tại Phnômpênh (Campuchia) đã diễn ra Hội
nghị về Luật pháp chống BL với PN trong gia đình ở vùng Tiểu Mê kông gồm
[17]
Nãm 1992, tác giả Margaret Schuler (chủ biên) và các cộng sự có tác
phẩm “Freedom from Violence - Women’s Strategies from Around the World”
(Tự do từ bạo lực - Chiến lược toàn cầu của phụ nữ) đã phản ánh tình trạng BL
chống PN tồn tại từ các nước phát triển như Mỹ đến các nước đang phát triển ở
châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh. Tính đa dạng của hoàn cảnh, văn hóa,
nguyên nhân, các hình thức BL mà tác giả đề cập đã nói lên tính phổ biến của
các dạng BL chống PN trong đó có BLGĐ. Tác phẩm đã cung cấp một cái nhìn
toàn cảnh về vấn đề và chiến lược liên quan đặc biệt đến BL giới - đó là mở rộng
chương trình tuyên truyền vận động, giáo dục, cải cách luật pháp và hành động
chống BL đối với PN.
[49]
10
Nãm 1994, với tác phẩm “Loving to Survive - Sexual Terror Men’s
Violence and Women’s Live” (Tình yêu đến sự sống - Sự khủng bố tình dục của
người đàn ông và cuộc sống của người PN), các tác giả Dee.L.R. Graham,
Edna.I. Rawligs và Roberta.K. Rigsby đã nêu rõ các ảnh hưởng do BL của nam
giới đối với PN và tâm lý của họ. Tình trạng hiện tại của nhiều PN là ở dạng nô
lệ, bị giam cầm và việc liên tục bị đánh sẽ làm mất khả năng xây dựng năng lực
cho họ. Đây không phải là vấn đề mang tính “tự nhiên” mà là một vấn đề xã hội.
Trong tác phẩm này, các tác giả cho rằng chỉ có Thuyết nữ quyền cấp tiến là
thừa nhận BL của nam giới đã ảnh hưởng tới cuộc sống của người PN.
[46]
Nãm 1995, cuốn sách “Violence, Silence and Anger - Women’s Writing
as Transgression” (Bạo lực, im lặng và sự giận dữ - Bài viết của PN về sự tội
lỗi) do Deirdre Lashgari chủ biên tạo cơ sở cho các nhà nữ quyền trình bày các
tư tưởng về sự im lặng, sự tức giận và nhu cầu nói lên tiếng nói chống lại BL.
Nhiều hình thức BL đã được đề cập đến trong tác phẩm này như áp bức tình dục;
áp bức của chủ nghĩa thực dân; mâu thuẫn giữa mẹ và con gái; các chủ đề chống
và được tập huấn chuyên môn cũng như được hỗ trợ thường xuyên
- Thiết kế nghiên cứu phải bao gồm cả các hành động nhằm mục đích
giảm tất cả những nỗi đau khổ mà nghiên cứu có thể gây ra cho người tham gia
điều tra
- Điều tra viên cần được tập huấn để chỉ dẫn cho những người PN yêu cầu
được trợ giúp đến các dịch vụ hỗ trợ hoặc các nguồn hỗ trợ của địa phương - nơi
mà có ít nguồn lực, dự án nghiên cứu có thể cần tạo ra những cơ chế hỗ trợ ngắn
hạn
- Các cán bộ nghiên cứu và nhà tài trợ có quy định về đạo đức để giúp
đảm bảo rằng những kết quả nghiên cứu của họ có thể được hiểu và được dùng
một cách đúng đắn nhằm nâng cao sự phát triển của chính sách và các biện pháp
can thiệp
- Chỉ nên đưa các câu hỏi về BL vào các cuộc điều tra được thiết kế cho
mục đích khác khi đạt được các yêu cầu về phương pháp luận và về đạo đức.
[50]
Nãm 2008, tác giả Trần Đình Tuấn có bản dịch “Code of Ethics of the
National Association of Social Worker - approved by the 1996 NASW Delegate
Assembly and revised by the 2008 NASW Delegate Assembly” (Quy tắc đạo đức
12
của Hiệp hội quốc gia NVCTXH Mỹ - phê duyệt năm 1996 tại Đại hội đại biểu
NASW và sửa đổi tại Đại hội đại biểu NASW năm 2008). Trong bản quy điều
nêu rõ các trách nhiệm đạo đức của NVCTXH đối với khách hàng, đồng nghiệp,
nghề CTXH, xã hội; trách nhiệm ở nơi làm việc; trách nhiệm với tư cách là
những nhà CTXH chuyên nghiệp. Những quy điều đạo đức này là cơ sở để
NVCTXH ở Việt Nam tham khảo trong quá trình hoạt động vì Mỹ là nước có
ngành CTXH được xây dựng khá sớm và rất phát triển trong khi chúng ta chưa
có bản quy điều đạo đức cho ngành CTXH ở Việt Nam.
[39]
2.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
hậu quả của BLGĐ có thể dẫn đến cái chết trực tiếp hoặc gián tiếp của PN. Phần
lớn những trường hợp chết gián tiếp là do nạn nhân tự tử bằng việc dùng thuốc
bảo vệ thực vật.
[37]
Cùng năm này, nghiên cứu “BL của chồng đối với vợ ở Việt Nam trong
những năm gần đây” của nhóm tác giả: Nguyễn Hữu Minh, Lê Ngọc Lân,
Nguyễn Thị Mai Hoa, Trần Thị Cẩm Nhung - Viện Gia đình và Giới có nhận
định: Chủ thể gây ra BLGĐ là người chồng, người bạn đời hoặc chồng cũ. Tác
giả cũng nhấn mạnh sự khác nhau về hình thức BL giữa nông thôn và thành thị.
Ở nông thôn thường diễn ra các hình thức BL về thể chất, ở thành thị thường xảy
ra BL về tinh thần và tình dục. Thông qua nghiên cứu, nhóm tác giả đưa ra một
số khuyến nghị như: Cần nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo về BLGĐ đối
với PN. Đồng thời, cần tiến hành nghiên cứu toàn diện về BL trong gia đình
nhằm tìm hiểu sâu về nguyên nhân, hậu quả của vấn đề để có những biện pháp
can thiệp kịp thời, hợp lý.
Năm 2000, trong tác phẩm “Domestic Violence in Vietnam” do tổ chức
Asia Pacific forum on Women, Law and Development (APWLD) xuất bản, tác
giả Lê Thị Qúy dựa trên những số liệu, dẫn chứng cụ thể đã khẳng định hậu quả
của BLGĐ là: “Để lại những di chứng nặng nề trên đời sống tình cảm, tinh thần,
nhận thức của nạn nhân, là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tan vỡ gia
đình ”
[33]
Năm 2002, tác giả Lê Thị Phương Mai và cộng sự có báo cáo “Ngăn chặn
BL trong gia đình: Phổ biến tài liệu hướng dẫn tư vấn chống BL cho các cộng
đồng nông thôn”. Trong đó, tác giả đã đưa ra một số nhận định về nguyên nhân
14
của BLGĐ là tàn dư của BBĐG, những quan niệm truyền thống lạc hậu về vai
trò của người PN trong gia đình, sự thờ ơ, thiếu hỗ trợ của cộng đồng trước
những hành vi BL với PN Tác giả cũng chia ra ba loại BL là: BL thể chất, BL
phẩm “BLGĐ - một sự sai lệch giá trị”. Bên cạnh những vấn đề lý luận về
BLGĐ, hai nhà nghiên cứu đã có những mô tả, phân tích, nhận xét rất chi tiết
15
một số nghiên cứu can thiệp trong thực tiễn về BLGĐ và BL chống PN trong gia
đình, một số dự án PCBLGĐ ở Việt Nam tại các địa bàn: Hà Nội, Phú Thọ, Thái
Bình, Thừa Thiên Huế. Nhiều mô hình PCBLGĐ được đưa ra phân tích: Mô
hình truyền thông; mô hình can thiệp, cứu giúp nạn nhân; mô hình tư vấn, hỗ trợ
về tâm lý và giáo dục; mô hình can thiệp tại cộng đồng. Trên cơ sở đánh giá hiệu
quả, hạn chế của một số mô hình đã thực hiện tại địa phương các tác giả đã rút ra
nhiều bài học kinh nghiệm qúy báu cho công tác PCBLGĐ ở nước ta.
[34]
Theo các tác giả Nguyễn Hữu Minh và Lê Ngọc Lân - Viện nghiên cứu Gia
đình và Giới với nghiên cứu “BLGĐ đối với PN Việt Nam và những yếu tố tác
động”
năm 2007 đã phân BLGĐ thành 3 loại:
BL thân thể: Đánh đập, làm tổn thương thể xác.
BL tinh thần: Bao gồm cả lời nói và tình cảm như lăng mạ, chửi rủa,
mắng mỏ, đe dọa, chiến tranh lạnh, ngoại tình,…
BL tình dục: Cưỡng ép vợ trong quan hệ tình dục trái với ý muốn của
người vợ.
[20]
Đề tài luận văn thạc sĩ "Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân - nghiên
cứu trường hợp tại xã Gia Vượng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình và phường
Tứ Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Kim Dung do PGS.TS
Hoàng Bá Thịnh hướng dẫn đã phản ánh kết quả: Cưỡng bức tình dục trong hôn
nhân xảy ra phổ biến tại địa bàn nghiên cứu và để lại nhiều hậu quả nghiêm
trọng về thân thể, tâm lí và xã hội cho người PN. Tình trạng này xảy ra không
phụ thuộc vào vị trí địa lí, tầng lớp xã hội, độ tuổi hay trình độ văn hoá và nó có
là BL tinh thần - loại BL “đem lại sự đau đớn, khổ sở nhất”, nó để lại sự tổn
thương tâm lý rất nặng nề nhưng lại khó nhận biết; đặc điểm tâm lý của người
PN khi bị chồng BL về tinh thần diễn biến theo một vòng tròn: Khi bị chồng BL
thì đau đớn, mệt mỏi, giận dữ; sau những ăn năn, hứa hẹn của người chồng thì
họ lại tha thứ, thương hại; sau đó, người chồng vì mọi lý do lại hành hạ vợ về
tinh thần, có khi cả thể xác, tình dục. Cứ như vậy, vòng tròn BL tiếp tục quay và
người PN khó có thể dứt ra được.
[7]
Nãm 2010, Tổng cục thống kê phối hợp với tổ chức LHQ tại VN thực hiện
“Nghiên cứu quốc gia về BLGĐ đối với phụ nữ ở Việt Nam”. Kết quả nghiên
cứu đã đưa ra những con số đáng báo động về tình hình BLGĐ ở nước ta: Nếu
17
xem xét đến cả ba hình thức bạo hành chính trong đời sống vợ chồng - thể xác,
tình dục và tinh thần, thì có hơn một nửa (58%) PN Việt Nam cho biết đã từng là
nạn nhân của ít nhất một hình thức BLGĐ kể trên. Mặc dù BLGĐ là một hiện
tượng rất phổ biến nhưng vấn đề này vẫn bị giấu diếm nhiều. Báo cáo này cũng
nêu bật tính cấp thiết của việc phá bỏ sự im lặng để giải quyết BLGĐ.
[36]
Liên quan đến khách thể nghiên cứu trong đề tài này, nãm 2011, Liên
đoàn lao động tỉnh Vĩnh Phúc có công trình nghiên cứu “Thực trạng và các giải
pháp nhằm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho công nhân lao động
trong các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” đã chỉ rõ: hầu
hết các doanh nghiệp chưa chú trọng nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho
công nhân lao động; rất nghèo nàn; đời sống vãn hóa tinh thần của công nhân lao
động trong các KCN hết sức khô khan; các hoạt động chủ yếu: phổ biến, tuyên
truyền chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước, tổ chức giao lưu văn hóa
ít được quan tâm. Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách và pháp luật của Đảng,
Nhà nước mới chỉ được một số luật như: Luật lao động, Luật công đoàn, Luật
bảo hiểm xã hội mà chưa có Luật PCBLGĐ; các tổ chức công đoàn cơ sở được
trên thế giới và ở Việt Nam
Ở Mỹ - Mô hình Duluth về cách tiếp cận cộng đồng hợp tác trong việc
giải quyết vấn đề BLGĐ
Mô hình này được phát triển tại thành phố Duluth, Minnesota, Mỹ.
Chương trình Duluth đã kết hợp những bộ phận khác nhau của hệ thống luật
pháp như cảnh sát, tòa hình sự, tòa dân sự và tăng cường mối liên kết giữa hệ
thống luật pháp và các nguồn khác như nhà tạm lánh dành cho những PN bị đánh
đập và các chương trình vận động. Cách tiếp cận này đã được nhân rộng ở rất
nhiều quốc gia trên khắp thế giới, bao gồm một số quốc gia tại Trung và Đông
Âu. Tuy nhiên, việc duy trì nhà tạm lánh đòi hỏi nhiều nguồn lực. Thay vì nhà
tạm lánh, nhiều nước trong khu vực thành lập các địa chỉ an toàn nơi mà PN có
thể lánh nạn như đền thờ, nhà thờ.
Ở Australia, Canada, châu Âu
Các nước này áp dụng mô hình là tập hợp những người gây BL theo từng
nhóm và thảo luận về vai trò giới, hướng dẫn họ phương pháp kiềm chế nóng
giận, căng thẳng và cách thể hiện cảm giác đối với người khác, giúp họ ư thức
được trách nhiệm đối với hành động của mình. Mô hình này bước đầu có hiệu
19
quả vì nhiều PN cho biết chồng họ có cách xử tốt hơn sau khi tham gia khoá học.
Ưu điểm của mô hình là nội dung thảo luận đơn giản vì vậy có thể tập hợp được
nhiều nam giới tham gia. Thông qua mô hình cũng làm tăng nhận thức của nam
giới về hành vi BL đối với PN để họ có cách xử sự phù hợp với PN. Tuy nhiên,
mô hình này chưa đề cập đến thời gian của khoá học và những chế tài đối với
những người không tham gia khoá học. Vì vậy, sau một thời gian thực hiện, mô
hình này chưa mang lại hiệu quả vì nam giới không tham gia khóa học.
Ở Braxin
Tại đây, nhà nước xây dựng mô hình đồn cảnh sát toàn PN. Việc xây dựng
mô hình này giúp các nạn nhân dễ dàng chia sẻ hơn khi gặp nạn. Song, trong mô
hình lại thiếu các dịch vụ tư vấn pháp lý và hỗ trợ cho nạn nhân. Thêm vào đó,
tốt. Mô hình sử dụng chi phí thấp nhưng đạt hiệu quả cao. Ngoài ra, mô hình này
huy động được sự tham gia của người dân một cách tự nguyện, phát huy được
nguồn nhân lực tại địa phương và tạo điều kiện cho các đoàn thể của địa phương
tham gia vào việc phục vụ thành công mô hình.
* Một mô hình khác do Trung tâm Phụ nữ và Phát triển hợp tác với các tổ
chức: PN Bắc Âu chống BLGĐ, PN châu Âu chống lại BL, Ủy ban châu Âu
cùng xây dựng là mô hình “Ngôi nhà bình yên” (Nhà tạm lánh) dành cho những
nạn nhân của BLGĐ. Các nạn nhân khi đến “Ngôi nhà bình yên” đều được hỗ trợ
về nơi ăn ở an toàn, chăm sóc sức khỏe, giải quyết các vấn đề tâm lý, hỗ trợ dạy
nghề, tham gia các buổi nói chuyện chuyên đề về chăm sóc sức khỏe sinh sản, kỹ
năng giao tiếp. Những PN là nạn nhân của BLGĐ sẽ lưu trú tối đa là 4 tháng.
Đây là mô hình giúp cho những nạn nhân bị BLGĐ cách ly được với người gây
ra BL. Tuy nhiên, sau thời gian lưu trú vấn đề đặt ra là làm thế nào để các nạn
nhân tự tin tái hoà nhập cộng đồng. Vì vậy, việc đưa nạn nhân vào “Nhà tạm
lánh” chỉ là biện pháp tạm thời nhưng lâu dài cần phải phối hợp đồng bộ nhiều
biện pháp khác nhau.
* Mô hình CLB “Cùng chia sẻ” là mô hình do Trung tâm nghiên cứu và
ứng dụng khoa học về Giới - Gia đình - Phụ nữ và Vị thành niên (CSAGA) kết
hợp với Hội Phụ nữ quận Cầu Giấy thành lập dưới sự tài trợ của CLB Phụ nữ
Quốc tế Hà Nội (HIWC). CLB “Cùng chia sẻ” dành cho các nạn nhân của
BLGĐ được thành lập từ năm 2005. Tại đây, CSAGA tham gia với vai trò điều
21
hành và tổ chức các hoạt động bằng phương pháp nghệ thuật và sáng tạo nhằm
giúp các thành viên CLB phá vỡ sự im lặng, chia sẻ các câu chuyện của mình và
học hỏi kinh nghiệm từ các thành viên khác và sự tư vấn của các chuyên gia của
CSAGA CLB sinh hoạt định kì 1 tháng/1 lần. Đến với CLB, các chị em được
cung cấp những thông tin, kiến thức liên quan đến về BLGĐ, giới, BĐG, kỹ
năng sống để xây dựng gia đình hạnh phúc. Bên cạnh đó, chị em cũng được
hướng dẫn và cùng thảo luận những biện pháp phòng tránh và giải quyết vấn đề
Nhiều mô hình, dự án được đưa ra, triển khai nhằm PCBLGĐ, hỗ trợ các
nạn nhân của BLGĐ. Có mô hình thì đã đạt được hiệu quả nhất định nhưng cũng
có những mô hình chưa đạt được kết quả như mong muốn. Một điều có thể dễ
nhận thấy là các mô hình này phần lớn tập trung vào các đối tượng nạn nhân của
BLGĐ là PN, trẻ em, còn nam giới thì hầu hết được can thiệp với tư cách là thủ
phạm gây ra BLGĐ. Tính hiệu quả của các biện pháp can thiệp phải được đánh
giá dựa trên sự thay đổi của nạn nhân và cuối cùng là phải làm sao nạn nhân thực
sự mạnh mẽ khi trở về với cộng đồng. Muốn vậy, can thiệp phải cụ thể với từng
người, trong từng hoàn cảnh khác nhau trong khi các mô hình được xây dựng lại
dựa trên kết quả khảo sát rất nhiều đối tượng khác nhau. Do vậy, vận dụng
CTXH để can thiệp với từng đối tượng cụ thể bị BLGĐ là rất cần thiết.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài sử dụng các lý thuyết làm phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu
và can thiệp: Lý thuyết hệ thống - sinh thái; Lý thuyết can thiệp khủng hoảng;
Lý thuyết nhận thức hành vi và Lý thuyết gắn bó. Quá trình thực hiện cũng như
kết quả can thiệp làm sáng tỏ ý nghĩa, sự vận dụng của các lý thuyết vào một
lĩnh vực/ một đối tượng cụ thể trong CTXH.
Đề tài góp phần làm rõ mối liên hệ giữa kiến thức, kỹ năng và giá trị trong
ứng dụng CTXH vào thực tế.
Đề tài thể hiện quá trình nghiên cứu và can thiệp về một vấn đề cụ thể, với
một đối tượng cụ thể trong CTXH, qua đây nhằm góp phần hình thành một cách
nhìn mới về BLGĐ, về giới, về gia đình, về vai trò của NVCTXH đối với một
nhóm đối tượng đặc thù trong CTXH là những NCN bị BLGĐ.
23
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Việc can thiệp giúp cho chính bản thân NCN là nạn nhân của BLGĐ nâng
cao nhận thức, nâng cao năng lực để có thể tự lực thoát khỏi tình trạng BLGĐ và