Vận dụng những kiến thức, kỹ năng công tác xã hội trong can thiệp, trợ giúp người khuyết tật - Pdf 17

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I. Cơ sở lý luận: 2
1. Khái niệm người khuyết tật( tàn tật) 2
2. Quan điểm và luật pháp của Đảng, Nhà nước về người khuyết tật 5
3. Phân loại người khuyết tật 6
4. Thực trạng người khuyết tật 7
II. Vận dụng kiến thức, kỹ năng công tác xã hội vào can thiệp 8
1. Giới thiệu về ca: 8
2. Các bước can thiệp hỗ trợ 9
2.1. Đánh giá tình trạng ban đầu 9
2.2. Xác minh, đánh giá toàn diện 10
2.3. Lập kế hoạch can thiệp 14
2.4. Tổ chức thực hiện, triển khai kế hoạch 16
2.5. Giám sát và đánh giá kết thúc 17
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, người khuyết tật là một bộ phận không thể tách rời của
xã hội con người. Người khuyết tật chính là những con người chịu nhiều thiệt thòi
so với những con người bình thường khác trong xã hội.
Trong những năm qua chính quyền các nước trên thế giới nói chung và chính
quyền Việt Nam nói riêng dã có nhiều chính sách hỗ trợ đối với người khuyết tật
1
để họ có thể tự nuôi sống bản thân và có ích cho xã hội. Tiêu biểu như chính sách
dạy nghè, hỗ trợ việc làm… Mặc dù đã thực hiên khá nhiều các chính sách như vậy
nhưng người khuyết tật vẫn còn chịu khá nhiều thiệt thòi so với người bình thường.
Ở nước ta, người khuyết tật vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp
cận các dịch vụ xã hội như dịch vụ y tế, giáo dục, giải trí… Những khó khăn này đã

khái niệm nổi bật sau.
+ Theo công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về người khuyết tật: Người khuyết
tật bao gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần
kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự
tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như
những người khác trong xã hội.
+ Theo DDA (Disability Discrimination Act – Đạo luật chống phân biệt đối
xử với người khuyết tật do Quốc hội Anh ban hành), khi xét về mặt thời gian tác
động thì khiếm khuyết kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài mà ít hơn 12 tháng bình
thường không được coi là khuyết tật, trừ phi là bị tái đi tái lại, một số người có
khiếm khuyết kéo dài hơn một năm thì vẫn ở trong diện của DDA, cả khi họ sẽ
được phục hồi hoàn toàn.
+ Còn Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA -
Americans with Disabilities Act of 1990) định nghĩa người khuyết tật là người có sự
3
suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt
động quan trọng trong cuộc sống. Cũng theo ADA những ví dụ cụ thể về khuyết tật
bao gồm: khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh
thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, bại não, động kinh,
teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các bệnh lây và không lây như bệnh lao và
bệnh do HIV (có triệu chứng hoặc không có triệu chứng). Có sự thống nhất tương
đối về định nghĩa thế nào là khuyết tật của hai đạo luật này.
+ Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, có ba mức độ suy giảm là:
khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap). Khiếm
khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan
đến tâm lý hoặc/và sinh lý. Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động,
là hậu quả của sự khiếm khuyết. Còn tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt
thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình
trạng khuyết tật của họ (WHO, 1999). Còn theo quan điểm của Tổ chức Quốc tế
người khuyết tật, người khuyết tật trở thành tàn tật là do thiếu cơ hội để tham gia

và hiệu quả, trong đó phải kể đến những văn bản chủ yếu sau:
* Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được Quốc Hội
thông qua năm 1992 và sửa đổi năm 2001. Việc bảo vệ người khuyết tật được nêu
tại Điều 59 và 67.
* Pháp lệnh Người Khuyết tật (1998). Điều 9 nghiêm cấm mọi hành vi phân
biệt đối xử hoặc ngược đãi người khuyết tật.
* Bộ Luật Lao động (năm1994). Phần III của Bộ Luật quy định về việc làm
cho người khuyết tật tại cơ quan và doanh nghiệp. Điều 123 nêu chỉ tiêu 2% đến
3% lực lượng lao động trong doanh nghiệp phải là người khuyết tật.
5
* Luật Đào tạo Nghề (năm 2006)
* Bộ Quy chuẩn và Tiêu chuẩn về tiếp cận đối với người khuyết tật (2002),
đưa ra những tiêu chuẩn tiếp cận cấp quốc gia.
* Ban Điều phối Quốc gia về Vấn đề Người khuyết tật (2001).
* Đề án Trợ giúp Người Khuyết tật của Chính phủ giai đoạn 2006-2010.
Được phê duyệt tháng 10 năm 2006. Đề án đưa ra phương pháp tiếp cận toàn diện
đối với vấn đề người khuyết tật với việc mở rộng đối tượng tham gia đề án và có sự
tham gia của nhiều bộ ngành liên quan.
* Giáo dục hòa nhập tầm nhìn tới năm 2015. Chính phủ đặt mục tiêu thực
hiện giáo dục hòa nhập cho tất cả trẻ em khuyết tật vào năm 2015.
* Luật Người Khuyết tật mới đang được dự thảo (từ tháng 5 năm 2009) và
dự tính được Quốc hội thông qua vào năm 2010.
Việt Nam vẫn được sự trợ giúp của quốc tế để hỗ trợ người khuyết tật, như trong
năm 2008, Hoa Kỳ đã tài trợ hơn 2,6 triệu USD mở rộng hai dự án trợ giúp người
khuyết tật tại Việt Nam.
3. Phân loại người khuyết tật.
Có nhiều cách phân loại người khuyết tật khác nhau có thể chia:
* Người khuyết tật có 3 dạng khuyết tật là khuyết tật vận động, khiếm thị và
khiếm thính. Đối với từng dạng khuyết tật có những tính chất và cách thích ứng xã
hội khác nhau.

tháng trung bình từ 1,25 triệu đồng trở xuống. Ngoài ra, vấn đề kỳ thị và phân biệt
đối xử với NKT vẫn đang diễn ra hàng ngày và ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc
sống, lao động, học tập của NKT. Hiện số NKT bị kỳ thị cao nhất là dạng khuyết
tật giao tiếp với 95,5%, khuyết tật trí não là 81% và khuyết tật trong tự chăm sóc
bản thân là 80%.
Mặc dù trong những năm gần đây, Đảng, Nhà nước ta đã có rất nhiều chính
sách hỗ trợ NKT nhưng vẫn còn những vấn đề mà NKT đang gặp phải vẫn là sự kỳ
7
thị và phân biệt đối xử, số đông NKT chưa biết hoặc chưa có điều kiện, khả năng
tiếp cận, hiểu biết về những chính sách ưu đãi dành cho họ , điều đó đã dẫn đến
khả năng hòa nhập và phát triển của NKT bị hạn chế. Mặt khác, NKT thuộc nhóm
yếu thế do sự khiếm khuyết của cơ thể, các chức năng xã hội của họ có thể bị suy
giảm.
Từ thực tế này, sự tham gia của nhân viên CTXH sẽ giúp NKT tiếp cận với
các nguồn lực, tư vấn cho họ phát huy khả năng, trình độ để NKT trở nên mạnh mẽ
hơn, tự tin sống độc lập, hòa nhập cộng đồng và tham gia bình đẳng vào các hoạt
động xã hội, có cơ hội được lao động, học tập như những người bình thường. Nhân
viên CTXH cũng sẽ tham vấn cho NKT có điều kiện tiếp cận để được chăm sóc sức
khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, làm việc, trợ giúp pháp lý, giúp
họ hiểu và nắm bắt được các quyền của họ theo quy định của pháp luật
Nhân viên CTXH cũng có vai trò và trách nhiệm quan trọng trong tiến trình tạo ra
sự thay đổi tích cực đối với đời sống của NKT, thúc đẩy môi trường xã hội, bao
gồm chính sách, pháp luật, cộng đồng thân thiện để NKT dễ dàng hòa nhập xã hội.
Nhân viên CTXH còn là người tư vấn, giới thiệu những chính sách an sinh xã hội
mà NKT được hưởng như miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt
động xã hội, tiếp cận dễ dàng hơn với các công trình, phương tiện giao thông công
cộng, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và tham gia đào tạo kỹ năng sống, tổ chức
các dịch vụ nâng cao khả năng sống độc lập của NKT.
II. Vận dụng kiến thức, kỹ năng công tác xã hội vào can thiệp
1. Giới thiệu về ca:

Nhìn vào bảng mô tả về thân chủ và gia đình thân chủ, chúng ta có thể thấy.
Gia đình M có 05 thành viên. Bố M thường xuyên đau yếu và hay cáu gắt với mẹ
của M. Hai em của M còn nhỏ và đang đi học.
9
Như vậy, gia đình M là gia đình nông nghiệp và đông con nên cuộc sống gia
đình khá khó khăn. Bố M thường xuyên đau yếu nên ngánh nặng gia đình chủ yếu
tập trung vào mẹ của M Không những vây, M bị liệu nên ngánh nặng của bố mẹ M
lại càng nặng thêm.
2.2. Xác minh, đánh giá toàn diện
Sau khi tiếp nhận thông tin về hoàn cảnh của thân chủ M, nhân viên xã hội
đã tiếp cận và xác minh, đánh giá toàn diện về vấn đề của thân chủ. Để xác minh,
đánh giá toàn diện về thân chủ, có thể đi từ việc phân tích nguyên nhân, xác định
vấn đề ưu tiên từ phía thân chủ cũng như gia đình thân chủ.
- Cây vấn đề
10
Mặc cảm, tự ty
Không tìm được công
việc
Gia đình khó khăn
Bị
khuyết
tật
Không
có trình
độ
Bố hay
ốm
đau
Các
em

i
MẸ
BỐ
Ông
ngoại
Ghi chú:
Bình thường
Mâu thuẫn
Gắn bó
Đã mất
Nhìn vào sơ đồ phả hệ này chúng ta có thể thấy. Gia đình M có 05 thành viên
(bố mẹ và ba con). Trong gia đình, M có mối quan hệ thân thiết với mẹ và hai em,
có mối quan hệ không gắn bó lắm với bố. Ông bà nội của M đã mất, ông bà ngoại
vẫn còn sống nhưng ông bà cũng không giúp đỡ được nhiều cho gia đình M. Điều
này được thể hiện qua gạch nối chỉ mối quan hệ giữa gia đình M với ông bà ngoại.
Để tìm hiểu cũng như hiểu rõ hơn về hoàn cảnh của gia đình M, ta có thể
thông qua biểu đồ sinh thái. Qua biểu đồ sinh thái có thể thấy rõ ràng hơn mối quan
hệ giữa gia đình M với các mối quan hệ bên ngoài như: họ hàng hai bên nội ngoại,
hàng xóm láng giềng, trường học, bệnh viện, hội người khuýêt tật.
- Biểu đồ sinh thái:
12
Phạm Thị
Tuyết M
Gia đình
M
Hàng xóm
láng
giềng
Trường
học

Sinh ra trong một gia đình nghèo và bị khuyết tật nên M rất cần có sự quan
tâm của chính quyền địa phương. Như hiện tại chính quyền địa phương chưa thực
sự quan tâm đến nhu cầu hiện tại của M cũng như giúp gia đình M thoát khỏi đời
sống khó khăn hiện tài.
13
Hội người khuyết tật trước có mối liên hệ với M, khi M còn đi học nhưng
hiện tại do M đã kết thúc việc học nên Hội người khuyết tật cũng không thực sự
quan tâm chú ý đến hoàn cảnh của M
Hội phụ nữ, đoàn thanh niên…cũng chưa thực sự quan tâm đến M. Đoàn
thanh niên chưa có hoạt động thiết thực để giúp đỡ M.
- Điểm mạnh, hạn chế của M
Đểm mạnh Hạn chế
- Là người chăm chỉ, yêu thương bố mẹ
và các em
- Có nghị lực và ý chí vươn lên trong
cuộc sống
- Là người khuyết tật
- Không có việc làm
- Gia đình nghèo khó
2.3. Lập kế hoạch can thiệp
Sau khi thu thập được những thông tin cần thiết và cùng thân chủ xác định
lại vấn đề một cách chính xác, như kế hoạch đã đề ra tôi cùng thân chủ tiến hành
lập kế hoạch giải quyết vấn đề.
- Họ và tên thân chủ: Phạm Thị Tuyết M
- Tuổi: 18 tuổi
- Giới tính: nữ
- Vấn đề cần giải quyết: Hỗ trợ M học nghề để M có thể tự nuôi sống bản
thân và giúp đỡ gia đình
- Thời gian thực hiện: 5 tháng ( từ tháng 4/2014 đến tháng 9/2014)
stt

ngành quản lý
về lĩnh vực
người khuyết
tật có trách
nhiệm giúp đỡ
hoàn thiện hồ
sơ và thủ tục
để M nhân
được hỗ trợ
học nghề.
quan về vấn đề
giải quyết cho
người khuyết
tật
Các tổ chức phi
chính phủ
2
Giúp M
tìm được
cơ sở học
nghề
Giới thiệu đến
trường dạy
nghề cho người
khuyết tật
Chính quyền
địa phương
Hàng xóm láng
giềng
Bạn bè…


25/9/2014
Chị M có
việc làm ổn
định và thu
nhập tốt
15
giềng giúp
đỡ…
2.4. Tổ chức thực hiện, triển khai kế hoạch
Sau khi cùng thân chủ lên kế hoạch thực hiện, nhân viên xã hội cùng thân
chủ từng bước triển khai kế hoạch theo tiến trình đã thống nhất.
- Trước tiên là việc cùng thân chủ triển khai kế hoạch thứ nhất: Kêu gọi
nguồn lực giúp M nhận được trợ học nghề. Trong quá trình triển khai kế hoạch đầu
tiên của tiến trình đã thống nhất nhưng cần có sự kết hợp như kết nối nguồn lực có
liên quan ở những tiến trình sau như khi kết nối nguồn lực giúp M có thể hoàn
thiện thủ tục xin hưởng trợ cấp dành cho người khuyết tật cần kết hợp luôn việc kết
nối và xin trợ giúp từ phía các cơ quan về việc hỗ M có một công việc làm ổn định
để ổn định cuộc sống.
Nhân viên xã hội cần tìm hiểu rõ về luật người khuyết tật và những chính
sách, chế độ mà người khuyết tật được hưởng. Việc tìm hiểu về những cơ quan ban
ngành đoàn thể phụ trách về vấn đề này cũng rất cần thiết để có những phương án
cũng như sự kiến nghị đạt kết quả tốt nhất.
Thân chủ cùng nhân viên xã hội đến cơ quan phụ trách về mảng khuyết tật,
nêu lên những vấn đề và giảm định khuyết tật của M, sau khi xem xét, điều tra cơ
quan đã xác nhận M bị khuyết tật đi lại và nhận được trợ giúp và sẽ hoàn thiện hồ
sơ sớm để M được nhận trợ cấp.
Như vậy, bằng kỹ năng thu thập thông tin, nghiên cứu tài liệu cũng như kỹ
năng giao tiếp… nhân viên xã hội đã cùng thân chủ thực hiện thành công và đem
lại kết quả tốt trong kế hoạch đầu tiên, M – bị liệt sẽ sớm nhận được và được hưởng

tật
Quá trình kêu gọi sự hỗ trợ và
hoàn thiện thủ tục còn lâu gây
tốn kém thời gian
Giúp anh M có
công việc làm
ổn định
Liên hệ được một vài cơ sở
làm nghề thủ công, dễ làm và
gần địa phương hỗ trợ M học
nghề và tạo công ăn việc làm
M chưa thích nghi được với
công việc và lương hàng tháng
còn thấp
17
KẾT LUẬN
Mặc dù trong những năm gần đây, Đảng, Nhà nước ta đã có rất nhiều chính
sách hỗ trợ người khuyết tật nhưng vẫn còn những vấn đề mà người khuyết tật đang
gặp phải vẫn là sự kỳ thị và phân biệt đối xử, số đông người khuyết tật chưa biết
hoặc chưa có điều kiện, khả năng tiếp cận, hiểu biết về những chính sách ưu đãi
dành cho họ , điều đó đã dẫn đến khả năng hòa nhập và phát triển của người
khuyết tật bị hạn chế. Mặt khác, người khuyết tật thuộc nhóm yếu thế do sự khiếm
khuyết của cơ thể, các chức năng xã hội của họ có thể bị suy giảm.
Từ thực tế này, sự tham gia của nhân viên CTXH sẽ giúp người khuyết tật
tiếp cận với các nguồn lực, tư vấn cho họ phát huy khả năng, trình độ để người
khuyết tật trở nên mạnh mẽ hơn, tự tin sống độc lập, hòa nhập cộng đồng và tham
gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội, có cơ hội được lao động, học tập như
những người bình thường. Nhân viên CTXH cũng sẽ tham vấn cho người khuyết
tật có điều kiện tiếp cận để được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn
hóa, học nghề, làm việc, trợ giúp pháp lý, giúp họ hiểu và nắm bắt được các quyền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status