Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại phường cao xanh, thành phố hạ long tỉnh Quảng ninh - Pdf 58

Ọ QUỐ
TRƢỜN



O

N


V N

NV N

==================

NGUYỄN THỊ HIỀN

ÔN


ÌN

T

ÁN
P ƢỜN

N VỚ P Ụ NỮ BỊ B O LỰ
O
N ,T N P Ố

V N

NV N

==================

NGUYỄN THỊ HIỀN

ÔN


ÌN

T

ÁN
P ƢỜN

N VỚ P Ụ NỮ BỊ B O LỰ
O
N ,T N P Ố

LON , TỈN

QUẢN

NN

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số


LỜ

ẢM ƠN

Trong quá trình làm luận văn, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Phó Giáo
sƣ -Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Hoa là ngƣời trực tiếp hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi nhiệt
tình trong suốt quá trình thực hiện. Tôi cũng xin cảm ơn tất cả các thầy, cô trong
Khoa Xã hội học, Trƣờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc
gia Hà Nội đã truyền tải kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi đƣợc học
tập và thực hiện luận văn.
Tôi trân trọng cảm ơn lãnh đạo Sở LĐTBXH tỉnh Quảng Ninh, UBND
thành phố Hạ Long, UBND phƣờng Cao Xanh, Hội LHPN thành phố Hạ Long,
Hội LHPN phƣờng Cao Xanh cùng tất cả những ngƣời tôi đã gặp trong quá trình
tìm kiếm thông tin để hoàn thành luận văn.
Mặc dù đã rất cố gắng, song với kinh nghiệm công tác xã hội trực tiếp của
bản thân còn hạn chế sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các thầy,
cô giáo, các đồng nghiệp và các bạn tham gia góp ý, tôi xin nghiêm túc tiếp thu,
điều chỉnh để Đề tài nghiên cứu này đóng góp hiệu quả cao trong thực tiễn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!


MỤ LỤ
LỜI CAM ĐOAN.................................................................................................. 1
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ................................................................... 7
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài can thiệp ............................................................................... 1
2. Mục tiêu và nhiệm vụ can thiệp ........................................................................ 4
3. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi can thiệp .......................................................... 4

Tiểu kết chƣơng 2................................................................................................ 71
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ..................................................................... 72
ết luận .............................................................................................................. 72
Khuyết nghị ......................................................................................................... 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 77
PHỤ LỤC ............................................................................................................ 78


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BBĐG: Bất bình đẳng giới
BĐG: Bình đẳng giới
BL: Bạo lực
BLGĐ: Bạo lực gia đình
CLB: Câu lạc bộ
CTXH: Công tác xã hội
GĐ: Gia đình
LHQ: Liên Hợp Quốc
NC: Nghiên cứu
NVCTXH: Nhân viên công tác xã hội
NVXH: Nhân viên xã hội
PCBLGĐ: Phòng chống bạo lực gia đình
PN: Phụ nữ
TC: Thân chủ


MỞ ẦU
1. LÝ DO

ỌN Ề T


đẳng trong quan hệ giới [2].
1


Đứng trên bình diện quốc gia, ở Việt Nam vấn đề bạo lực gia đình
(BLGĐ) đang là vấn đề thách thức của cá nhân cũng nhƣ của xã hội. Nó nhận
đƣợc sự quan tâm nhiều hơn, từ cộng đồng, khi càng ngày càng có nhiều vụ
BLGĐ đƣợc phát hiện. Theo báo cáo của một nghiên cứu quốc gia về BLGĐ đối
với phụ nữ ở Việt Nam đƣợc Chính phủ Việt Nam và Liên Hợp Quốc công bố
năm 2010: cứ ba phụ nữ (PN) có gia đình hoặc đã từng có gia đình thì có một
ngƣời (34%) cho biết họ đã từng bị chồng mình bạo hành thể xác hoặc tình dục.
Số phụ nữ có hoặc từng có gia đình hiện đang phải chịu một trong hai hình thức
bạo hành này chiếm 9%. Nếu xem xét đến cả ba hình thức bạo hành chính trong
đời sống vợ chồng - thể xác, tình dục và tinh thần - thì có hơn một nửa (58%)
phụ nữ Việt Nam cho biết đã từng là nạn nhân của ít nhất một hình thức bạo lực
gia đình kể trên. Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khả năng phụ nữ bị
chồng mình lạm dụng nhiều hơn gấp ba lần so với khả năng họ bị ngƣời khác
lạm dụng. Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trung bình một năm trên
cả nƣớc có tới 8.000 vụ ly hôn mà nguyên nhân do bạo lực gia đình. Cũng theo
số liệu thống kê của bệnh viện, các trung tâm, phòng cấp cứu lớn của cả nƣớc,
có hơn 27% phụ nữ bị ngƣợc đãi nhập viện, hơn 10% điều trị y khoa nghiêm
trọng hằng năm do nguyên nhân bạo lực gia đình [35]
Ở góc độ của một tỉnh, theo báo cáo của Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch
Quảng Ninh, từ năm 2009 đến tháng 6 năm 2018 trên toàn tỉnh đã xảy ra là
1.769 vụ BLGĐ, trong đó có 112 vụ đƣa ra tòa án xét xử, 31 trƣờng hợp bị áp
dụng biện pháp cấm tiếp xúc, 29 trƣờng hợp bị xử phạt hành chính và 5 trƣờng
hợp bị xử lý hình sự. Những năm gần đây, trung bình một năm có từ 250 đến
350 vụ BLGĐ trong đó hình thức bạo lực tinh thần là 47%; bạo lực thân thể
chiếm 41%; bạo lực tình dục chiếm 3%, bạo lực kinh tế chiếm 9%. Đối tƣợng
gây bạo lực đa số là đàn ông, nạn nhân thƣờng là phụ nữ và trẻ em [36].

Long, tỉnh Quảng Ninh”. Địa điểm phƣờng Cao Xanh đƣợc lựa chọn cho đề tài
nghiên cứu này vì theo số liệu thống kê thì phƣờng Cao Xanh có số vụ BLGD
xảy ra cao nhất trong thành phố Hạ Long. (Báo cáo số 21-BC/HLHPNTP ngày
30/1/2017 của Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Hạ Long). Năm 2017, thành phố
có 18 vụ BLGĐ thì có đến 6 vụ xảy ra ở phƣờng Cao Xanh. Dân trí trong
3


phƣờng phong phú từ công nhân thợ thuyền, thƣơng gia cho đến cán bộ trí thức
nhà nƣớc [Theo Nguồn phân bổ dân trí phường Cao Xanh tại Cổng Thông tin
điện tử thành phố Hạ Long ] đƣợc đặt vào trong ống kính của đề tài nhƣ là một
mô hình thích hợp để thâu thập dữ liệu, phân tích, chứng minh các sự kiện của
BLGD, đặc biệt đối với các nạn nhân là phụ nữ, trong các thành phần xã hội.
Sau đó, tác giả sẽ đƣa ra một số giải pháp nhƣ những nhịp cầu hƣớng dẫn nhằm
giúp phụ nữ thoát khỏi những khó khăn trong đời sống vật chất, tinh thần, chữa
trị sức khỏe và phục hồi sự vận hành các chức năng xã hội của họ. Ngoài ra nó
còn đóng góp vào việc giáo dục nhằm giúp họ nhận thức đƣợc giá trị tự thân, sự
bình quyền trong gia đình, và tính chính đáng khi cần tìm tới các cơ quan công
quyền và hội đoàn.
2. MỤ T ÊU V N

ỆM VỤ

NT

ỆP

2.1. Mục tiêu can thiệp
Trên cơ sở thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình, lựa chọn trƣờng hợp phụ
nữ bị bạo lực để trợ giúp công tác xã hội cá nhân, trên cơ sở đó đƣa ra giải pháp

- Ngƣời gây ra BLGĐ (chồng của thân chủ), thành viên gia đình (bố, mẹ,
con) và 01 hàng xóm của phụ nữ bị bạo lực.
3.3. Phạm vi can thiệp:
Nghiên cứu vấn đề bạo lực gia đình tại phƣờng Cao Xanh, thành phố Hạ
Long, Quảng Ninh, trong đó cụ thể về tình trạng bạo lực trong gia đình đối với
chị Nguyễn Thị H (trú tại tổ 2A, khu 1, phƣờng Cao Xanh).
- Phạm vi thời gian: 6 tháng, thời gian chủ yếu từ tháng 8/2017 đến tháng
02/2018
- Phạm vi không gian: Phƣờng Cao Xanh, TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
- Phạm vi nội dung: Bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã kết hôn, từ 18 đến
55 tuổi tại phƣờng Cao Xanh, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
4.

U

Ỏ V

Ả T UYẾT

NT

ỆP

4.1. Câu hỏi can thiệp
Thực trạng bạo lực gia đình tại phƣờng Cao Xanh, thành phố Hạ
Long đang diễn ra nhƣ thế nào?
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ gây ra những hậu quả gi?
Phƣơng pháp công tác xã hội cá nhân có thể giúp gì cho phụ nữ bị
bạo lực trong gia đình? Những thuận lợi, khó khăn trong việc áp dụng công tác
xã hội cá nhân đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình?

Các bài viết, số liệu, công trình nghiên cứu đƣợc đăng trên tạp chí
Khoa học về Phụ nữ, tạp chí Xã hội học, tạp chí Cộng sản, báo gia đình, xã
hội.
Kết quả từ nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đới với phụ nữ ở
Việt Nam, khung theo dõi và đánh giá việc thực hiện Luật phòng chống bạo
lực gia đình tại Việt Nam.
Tài liệu tập huấn công tác quản lý nhà nƣớc về gia đình và phòng,
chống bạo lực gia đình, tài liệu về công tác bình đẳng giới vì sự tiến bộ của
phụ nữ, sổ tay công tác quản lý nhà nƣớc về gia đình…
Cáo báo cáo liên quan của các tổ chức, ban, ngành, đoàn thể đến
phƣòng Cao Xanh, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
5.2. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
Đề tài tiến hành 15 cuộc phỏng vấn sâu. Trong đó 8 cuộc phỏng vấn
đối với nạn nhân, 4 cuộc phỏng vấn đối với ngƣời gây ra bạo lực, 3 cuộc
phỏng vấn đối với nhân viên CTXH, cán bộ chính quyền địa phƣơng, công
an, cán bộ Hội LHPN, ban, ngành, đoàn thể. Mục tiêu chung của phỏng vấn
sâu không phải để hiểu một cách đại diện, khái quát về tổng thể mà giúp
6


nhân viên CTXH hiểu sâu, hiểu kỹ về vấn đề bạo lực gia đình đối với phụ nữ
và hiệu quả của CTXH cá nhân đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình. Ngƣời
phỏng vấn tự do hoàn toàn trong cách dẫn dắt cuộc phỏng vấn, đặt trình tự
các câu hỏi và cách thức đặt câu hỏi nhằm thu thập thông tin mong muốn.
Trong quá trình phỏng vấn nhân viên công tác xã hội tập trung phỏng vấn sâu
các cá nhân để thu thập thông tin. Việc chọn ngƣời để phỏng vấn có chủ
định, đó là những ngƣời có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
5.3. Phƣơng pháp quan sát
Phƣơng pháp quan sát đƣợc áp dụng trong suốt quá trình trợ giúp để
nắm bắt đƣợc một số thông tin sơ bộ tại địa bàn thực hiện.

qua quan hệ một - một (quan hệ NVCTXH - TC).
- Các bƣớc tiến hành:
1. Tiếp cận thân chủ
7. Đánh giá

2. Xác định vấn đề

6. Trị liệu

5 . Kế hoạch trị liệu

3. Thu thập dữ kiện
4.Chẩn đoán

- Các kỹ năng: Giao tiếp, quan sát, lắng nghe, vấn đàm, vãng gia, tham
vấn...
- Quá trình sử dụng phƣơng pháp này không chỉ là tƣơng tác giữa
NVCTXH với TC mà còn sử dụng trong tƣơng tác với ngƣời chồng, với ngƣời
thân, hàng xóm, cán bộ địa phƣơng nơi ở... của TC
Việc xác định chuẩn xác, đúng về con ngƣời thân chủ là một yếu tố quan trọng
giúp cho quá trình thực hiện can thiệp, hỗ trợ thân chủ đúng hƣớng, đạt kết quả
tối ƣu. Do vậy, nhân viên CTXH đề ra nhiệm vụ, mục tiêu và xây dựng phƣơng
pháp thực hiện nhƣ sau:
8


Phƣơng pháp, kỹ nãng, công
TT
1



- Các quan hệ xã hội của TC hàng xóm, đồng nghiệp, bạn
- Thông tin về vấn đề gây bè...
tổn thƣơng TC

- Tiếp cận với ngƣời chồng
- Kết hợp cung cấp thông tin
về BLGĐ (vừa giúp TC hiểu
thêm về vấn đề, vừa xác định
quan điểm, thái độ... của TC
trƣớc vấn đề)

3

Tổng hợp thông - Đánh giá nhiều chiều vấn - Phân tích, xử lý thông tin
tin, phân tích,

đề của TC

đánh giá

- Xác định nhu cầu của TC

- Thống nhất với TC

(sắp xếp theo thứ tự, bắt đầu
từ nhu cầu cấp thiết nhất)
- Xác định điểm mạnh, điểm
yếu của TC
4


N

ÊN ỨU

NT

ỆP

Bạo hành trong gia đình là một dạng bạo lực trong xã hội. Nó hiển nhiên
không phải là vấn đề mới có trong xã hội hiện đại của chúng ta. Trên thực tế, nó
xảy ra trong mọi thời đại, ở nhiều dân tộc và giữa các giai tầng xã hội của loài
ngƣời. Mức độ bạo hành của nó tùy thuộc vào văn hóa, luật pháp và sự nhận
thức con ngƣời trong xã hội đó.
6.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Báo cáo “Nghiên cứu sâu về bạo hành với phụ nữ” của Nguyên Tổng thƣ
ký Liên Hiệp Quốc (LHQ) Kofi Annan đƣợc trình bày tại Kỳ họp lần thứ 61 của
Đại hội đồng LHQ thể hiện rõ tình hình BL với PN đang diễn ra ở 71 quốc gia
thuộc phạm vi nghiên cứu. Trong báo cáo, Tổng thƣ ký làm rõ các yếu tố và
nguy cơ gây ra BL với PN. Trong bản báo cáo đó, ông Anna đã viết rõ rằng việc
sử dụng BL là để giải quyết xung đột trong gia đình. Bản báo cáo cũng nêu ra
nhiều tiêu cực nhƣ sự thờ ơ của nhà nƣớc, thiếu vắng trách nhiệm trong cấp độ
của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng. Bản báo cáo cũng nêu đƣợc ra ít nhiều
những hoạt động có triển vọng nhằm giải quyết vấn nạn này nhƣ dựa vào luật
10


pháp và các cấp dịch vụ vào phòng ngừa bạo lực. Tuy nhiên, thách thức đặt ra
cho nhân loại không ít; ngân quỹ thiếu hụt, nguồn lực về nhân lực không đồng
đều dẫn đến tình trạng quần chúng không đƣợc tiếp cận toàn diện và thiếu sự xử

Ngoài ra nó cũng có các chủ về đề chống chiến tranh và hậu quả của nó đối với
PN và trẻ em cũng nhƣ các vấn đề khác nhƣ vấn đề giới, chủng tộc, giai cấp, văn
hóa và BL...
Tại Hội nghị y khoa do Viện Nhân Đạo Pháp tổ chức năm 2001, Hội nghị
đã báo cáo nghiên cứu “Phụ Nữ, Nạn Nhân Của BLGĐ và Vai Trò Của Giới Y
Khoa” của giáo sƣ Roger Herrion. Giáo sƣ Roger Herrion và nhóm nghiên cứu
đã điều tra 700 phụ nữ trong độ tuổi từ 25 - 49 và đƣa ra kết luận rằng “Có 60%
ngƣời thƣờng xuyên chịu những cú đấm, đá, chửi bới, cƣỡng dâm. Ngoài những
chấn thƣơng về thể xác, các nạn nhân còn bị tổn thƣơng về tinh thần. Đặc biệt,
phụ nữ mang thai sẽ ảnh hƣởng đến đứa con sau khi ra đời”. Nghiên cứu cũng
chỉ ra rằng “phần lớn những kẻ bạo hành là ngƣời có quyền lực trong xã hội và
hầu nhƣ tất cả đều có ảnh hƣởng của rƣợu, bia. Điều đáng quan tâm là khi bị
BL, PN rất ngại tố cáo với cảnh sát vì họ lo sợ hoặc xấu hổ”.
Năm 2001, các tác giả Charlotte Watts, Lori Heise, Mary Ellsberg và
Claudia Garcia Moreno của Tổ Chức YTế Thế Giới – World Health
Organisation (WHO)- viết tác phẩm “Putting Women First: Ethical and Safety
Recommendations for Research on Domestic Violence Against Women” (Đặt
PN Lên Hàng Đầu: Các Khuyến Nghị về an toàn và đạo đức cho nghiên cứu về
BLGĐ đối với PN) trong đó nêu rõ các khuyến nghị cần thiết khi nghiên cứu về
BLGĐ đối với PN, đó là:
- Sự an toàn của ngƣời trả lời và của nhóm nghiên cứu là sự quan trọng tối
cao và sẽ định hƣớng cho toàn bộ các quyết định trong dự án.
- Các cuộc điều tra rộng rãi cần phải có một phƣơng pháp luận đúng đắn
và phải đƣợc xây dựng trên những kinh nghiệm nghiên cứu hiện hành về vấn đề
này.
- Tính bảo mật là điều cần thiết để đảm bảo cho cả sự an toàn của các PN
tham gia điều tra và cả chất lƣợng của số liệu
12





cũng cho biết rằng một vài quốc gia phụ nữ còn không thể ra khỏi nhà nếu
không đƣợc phép.
Báo cáo cũng cho biết ảnh hƣởng của việc mang thai ở độ tuổi vị thành
niên - cũng là một hình thức gây ra sự hạn chế năng lực của PN - đang ngày
càng nghiêm trọng. Khoảng 20% số trẻ em gái tại các nƣớc đang phát triển
mang thai trƣớc năm 18 tuổi và nếu đánh giá trên cơ sở tài chính thì vấn đề này
khiến GDP của Trung Quốc giảm 1%, còn GDP của Uganda giảm 30%.
Báo cáo chỉ ra rằng những thành quả đạt đƣợc trong giáo dục đã chứng
minh đƣợc rằng các quy phạm xã hội có thể thay đổi bởi sức ép và sự khuyến
khích [của các nhà giáo dục và các thành viên trong cộng đồng]. Giáo dục sẽ
giúp đẩy mạnh việc phát triển năng lực từ đó ccó thể giúp cải thiện cuộc sống
của phụ nữ.
Một xã hội đƣợc coi là văn minh khi và chỉ khi quyền con ngƣời đƣợc đề
cao, quyền bình đẳng nam nữ phải đƣợc đƣa vào pháp luật và phải thực thi nó ở
mọi giai tầng của xã hội. Hơn nữa phải có quy định đƣa nó vào trong giáo dục
để mỗi con ngƣời nhận thức đƣợc giá tự thân của họ theo hiến pháp và luật định
thì vấn đề bạo lực gia đình mới có khả năng suy giảm đối với phụ nữ.
6.2.Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Từ những năm 90 của thế kỷ 20, các nghiên cứu chuyên sâu về bạo lực gia
đình ở Việt Nam đã bắt đầu đựơc quan tâm và triển khai thực hiện. Lê Thị Quý,
Vũ Mạnh Lợi, Nguyễn Hữu Minh, Hoàng Bá Thịnh, Trần Thị Vân Anh, Vũ Tuấn
Huy, Lê Ngọc Văn… là những nhà khoa học có rất nhiều công trình, bài viết
nghiên cứu về vấn đề này.
Bài viết “Bạo lực gia đình - Bất bình đẳng trong quan hệ giới” của Lê Thị
Quý đăng trên tạp chí Khoa học về phụ nữ số 4/2000 dựa trên cơ sở thu thập phân
tích một số tài liệu kết hợp với việc điều tra xã hội học năm 1998 tại xã C.N (Từ
Liêm, Hà Nội) và các mối quan hệ trong gia đình của nhóm nghiên cứu Giới
(khoa Xã hội học, phân viện báo chí tuyên truyền, Học viện Chính trị quốc gia Hồ

có tới 30% phụ nữ bị đánh đập, lạm dụng, cƣỡng bức theo nhiều hình thức, phần
lớn là do những ngƣời quen biết, chồng và những ngƣời thân trong gia đình. Trong
15


đó, có 15% phụ nữ bị chồng đánh, gần 80% bị chồng mắng chửi, hơn 70% bị
chồng bỏ mặc, gần 10% bị chồng cấm đoán quan hệ và gần 20% bị chồng cƣỡng
ép quan hệ tình dục.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng trong những năm gần đây mặc dù chất
lƣợng cuộc sống ngày càng đƣợc cải thiện, các quyền cơ bản của con nguời đƣợc
tôn trọng hơn nhƣng bạo lực gia đình có xu hƣớng gia tăng (Vũ Mạnh Lợi và đồng
nghiệp, 1999; Lê Thị Quý, 2000). Điều đáng quan tâm là bạo lực gia đình đã trở
thành một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng tan vỡ của gia đình.
Lê Thị Quý, Đặng vũ Cảnh Linh (2007) trong nghiên cứu “Bạo lực gia
đình - một sự sai lệch giá trị” đã trình bày những lý luận và phƣơng pháp luận về
bạo lực trong gia đình nêu lên những bài học kinh nghiệm của Việt Nam trong
công tác phòng chống bạo lực gia đình.
Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh (2009) trong nghiên cứu “Bạo lực
gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng, diễn tiến và nguyên nhân” đã nêu
những vấn đề nhận diện bạo lực gia đình và cơ sở pháp lí phòng chống bạo lực
gia đình, mức độ phổ biến phổ biến của bạo lực gia đình và các yếu tố ảnh hƣởng,
phân tích thực trạng bạo lực gia đình, hậu quả và môi trƣờng nảy sinh bạo lực gia
đình, các yếu tố thúc đẩy và hạn chế các hành vi bạo lực.
Trong nghiên cứu “Các giải pháp hạn chế bạo lực gia đình đối với phụ nữ
và trẻ em”, Bùi Thị Xuân Mai (2009) cùng các cộng sự đã nghiên cứu, đề xuất các
giải pháp khả thi để hạn chế bạo lực gia đình với phụ nữ và trẻ em hiện nay ở Việt
nam.
Từ năm 2006 hết năm 2011, “kết quả nghiên cứu của Bộ Văn hoá - Thể
thao và Du lịch, Tổng cục Thống kê, Viện gia đình và giới” thì có 21,2 % các cặp
vợ chồng có trải qua hình thức bạo lực từ chửi mắng, nhục mạ, buộc quan hệ tình

đình; (3) Một số yêu cầu và lý thuyết cơ bản ứng dụng trong lĩnh vực phòng,
chống bạo lực gia đình; (4) Các phương pháp công tác xã hội trong lĩnh vực
phòng, chống bạo lực gia đình; (5) Kỹ năng và quy trình hỗ trợ công tác xã hội
trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình ; (6) Quy trình can thiệp và hỗ trợ
người gây bạo lực; (7) Phòng ngừa bạo lực gia đình; (8) Một số kỹ thuật công tác
xã hội ứng dụng trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình ; (9) Các mô hình
17


can thiệp và tư vấn trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình. Đây là giáo
trình đƣợc sử dụng để đào tạo cho SV các trƣờng cao đẳng nghề và là tài liệu
tham khảo tốt cho những ngƣời nghiên cứu liên quan đến chủ đề này.
Mặc dù đã có không ít cảnh báo của nhiều nhà nghiên cứu về những hậu
quả trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài của bạo lực đối với đời sống tinh thần và thể chất
của ngƣời phụ nữ, nhƣng công tác phòng chống nạn bạo lực trong gia đình vẫn
thiếu tính đồng bộ và triệt để.
Trong bối cảnh chung đó, kế thừa các giá trị của những công trình nghiên
cứu khoa học về trợ giúp nạn nhân bị bạo lực, tôi chọn đề tài “Công tác xã hội cá
nhân với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long,
tỉnh Quảng Ninh.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status