Tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Ngôi nhà Bình yên – Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN VĂN THANH

THAM VẤN CÁ NHÂN CHO PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA
ĐÌNH TẠI NGÔI NHÀ BÌNH YÊN – TRUNG ƢƠNG HỘI LIÊN HIỆP
PHỤ NỮ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI Hà Nội, 2014 MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI CẢM ƠN 6
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 8
LỜI MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Tổng quan những nghiên cứu liên quan đến tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực gia
đình 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4. Ý nghĩa nghiên cứu 9
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 10
6. Phạm vi nghiên cứu 10
7. Câu hỏi nghiên cứu 11
8. Giả thuyết nghiên cứu 11
9. Phương pháp nghiên cứu 11
NỘI DUNG CHÍNH
13
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA THAM VẤN CÁ
NHÂN CHO PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 13
1.1. Các khái niệm chính sử dụng trong quá trình tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị

ƢƠNG HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM 38
2.1. Thực trạng hoạt động tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Ngôi
nhà bình yên 38
2.1.1. Quy trình tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại ngôi nhà
bình yên 38
2.1.2. Các hình thức tổ chức tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại
ngôi nhà bình yên 42
2.1.3. Nội dung tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại ngôi nhà
bình yên 45
2.1.4. Người được tham vấn cá nhân tại ngôi nhà bình yên 55
2.1.5. Thực trang cán bộ làm công tác tham vấn tại ngôi nhà bình yên 58
2.1.6 Thực trạng việc kết hợp tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị bạo lực gia đình
tại NNBY với các hình thức khác 63
2.2. Kết quả đạt được trong thời gian qua từ năm 2007 đến nay 64
2.2.1. Số lượng và chất lượng các ca tham vấn 64 2.2.2. Những thay đổi của phụ nữ bị bạo lực gia đình tại ngôi nhà bình yên trước
và sau khi đã được tham vấn 66
2.3. Thực trạng các yếu tố tác động tới tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị bạo lực gia
đình tại NNBY 70
2.3.1. Trình độ chuyên môn và kinh nghiệm của cán bộ tham vấn tại ngôi nhà
bình yên 70
2.3.2. Cơ sở vật chất phục vụ cho việc tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị bạo lực
gia đình tại ngôi nhà bình yên 74
2.3.3. Cơ sở pháp lý cho việc thực hiện tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị bạo lực
gia đình 75
2.3.4. Trình độ học vấn và hoàn cảnh của phụ nữ bị bạo lực gia đình 76
2.4. Thực hành thực nghiệm trên 02 trường hợp phụ nữ bị bạo lực gia đình tại ngôi
nhà bình yên 79

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLGĐ
CTXH:
LHPN:
NNBY
NTV
NVXH:
TLH:
TC
ThV
TW:

Bạo lực gia đình
Công tác xã hội
Liên hiệp phụ nữ
Ngôi nhà bình yên
Nhà tham vấn
Nhân viên xã hội
Tâm lý học
Thân chủ

Bảng 2.6. Đánh giá của cán bộ tham vấn và phụ nữ bị bạo lực gia đình về nội dung
tham vấn về sức khỏe cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại NNBY 50
Bảng 2.7. Đánh giá của cán bộ tham vấn và phụ nữ bị bạo lực gia đình về nội dung
tham vấn về kỹ năng sống cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại NNBY 52
Bảng 2.8. Đánh giá của cán bộ tham vấn và phụ nữ bị bạo lực gia đình về nội dung
tham vấn về làm kinh tế cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại NNBY 54
Bảng 2.9. Nghề nghiệp của phụ nữ bị bạo lực gia đình tại NNBY 56
Bảng 2.10.Trình độ học vấn của phụ nữ bị bạo lực gia đình tại NNBY 57
Bảng 2.11. Các kiến thức của cán bộ tham vấn tại NNBY được tập huấn 60
Bảng 2.12 Các kỹ năng mà cán bộ tham vấn tại NNBY được tập huấn 62
Bảng 2.13. Đánh giá của phụ nữ bị bạo lực gia đình về chất lượng của công tác
tham vấn cá nhân tại NNBY 65
Bảng 2.14. Nhận thức, cảm xúc, giao tiếp của phụ nữ bị bạo lực gia đình tại NNBY
trước và sau khi đã được tham vấn 67
Bảng 2 .15. Bảng đánh giá nhu cầu chị Nguyễn Thị X
84
Bảng 2.16. Các hoạt động can thiệp cho chị Nguyễn Thị X
90
Bảng 2 .17. Bảng đánh giá nhu cầu chị Trần Thị Y
97
Bảng 2.18. Các hoạt động can thiệp cho chị Trần Thị Y 102

1

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Phụ nữ Việt nam chiếm 50,8% dân số, 50,3% lực lượng lao động của cả
nước, họ có vai trò và tiềm năng to lớn tạo ra của cải vật chất cho xã hội, góp phần
vào sự tăng trưởng của nền kinh tế đất nước và có chức năng quan trọng là làm vợ,

Mô hình NNBY là một trong những mô hình mới của công tác xã hội ở nước
ta, với các hoạt động trợ giúp cho phụ nữ bị bạo lực gia đình trong đó hoạt động
tham vấn cá nhân là một hoạt động đang được đánh giá cao nhưng mô hình này
chưa được nhân rộng. Nghiên cứu lựa chọn đề tài tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị
bạo lực gia đình nhằm đánh giá những ưu điểm và hạn chế của hoạt động tham vấn
cá nhân tại NNBY để nhân rộng mô hình này trên địa bàn cả nước.
2.Tổng quan những nghiên cứu liên quan đến tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực
gia đình
2.1. Các nghiên cứu về bạo lực gia đình
BLGĐ không phải chỉ là vấn đề của một gia đình hay chỉ tồn tại ở một vài
nước mà BLGĐ, đặc biệt là bạo lực với phụ nữ đang trở thành vấn đề phổ biến
trong tất cả các nước trên toàn cầu. Do tính chất phức tạp và mức độ nghiêm trọng
cũng như ảnh hưởng của BLGĐ đến nền an sinh của mỗi cá nhân và toàn xã hội,
nhiều quốc gia trên thế giới (Adapted from “Violence Against Women,” WHO,
FRH/WHD/97.8, “Women in Transition” Regional Monitoring Report, UNICEF
1999, and a study by Domestic Violence Research Centre, Japan.)
Trung Quốc: theo báo cáo của chính phủ có tới 305 gia đình có bạo lực; Hàn
Quốc 40-60% phụ nữ bị bạo lực, Nhật Bản 60% phụ nữ được hỏi cho là đã từng bị
bạo lực; Thái Lan 20%, Malaxia 39% (K.Soin, 2001).
Tác phẩm “”Loving to Survive - Sexual Terro Men’s Violence and Women’s
Live” (Tình yêu và sự sống sót - sự khủng bố tình dục của đàn ông và cuộc sống
của phụ nữ) của Dee L.R. Graham và hai đồng nghiệp là Edna. Rawlings và
Roberta K.Rigsby đã phân tích các ảnh hưởng của bạo lực nam giới đối với phụ nữ
và tâm lý của họ.
3

Tại Việt Nam cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về gia đình và BLGĐ:
Năm 2001, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã thực hiện đề tài “BLGĐ đối với
phụ nữ tại Việt Nam” nghiên cứu tại 3 tỉnh Lạng Sơn, Thái Bình và Tiền giang đề
tài đã tìm hiểu nhận thức, thái độ của người dân và cán bộ thi hành pháp luật của

độc giả, cho những người quan tâm đến việc giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới và
trên hết cho các nhà hoạch định chính sách một cách nhìn sâu hơn về bản chất của vấn
đề bạo lực gia đình đối với phụ nữ, tính tiến triển của nó và sự cần thiết áp dụng các
giải pháp phòng ngừa mầm mống của bạo lực gia đình trước khi nó trở thành bạo lực
thật sự. Cuốn sách này bao gồm cả tổng quan các nghiên cứu đã có trước đây, phân tích
định lượng một số cuộc nghiên cứu có liên quan đến bạo lực gia đình và nghiên cứu
định tính về diễn tiến của bạo lực gia đình ở Việt Nam.
Nhóm tác giả Phạm Kiều Oanh và Nguyễn Thị Khoa với bài viết: “Bạo lực
trong gia đình từ góc nhìn của người nghèo”, đăng trên tạp chí Khoa học về Phụ
nữ, số 2/2003 được trích ra từ một nghiên cứu về tình trạng bạo lực trong gia
đình của Tổ chức Action Aid Việt Nam, được thực hiện tại tỉnh Lai Châu và
Ninh Thuận. Mục đích chính của nghiên cứu này là tìm hiểu nhận thức của nhân
dân và chính quyền địa phương về bạo lực trong gia đình và các phương án can
thiệp khả thi để giảm thiểu tình trạng này tại cộng đồng. Cách hiểu về bạo lực
của người dân cũng như cán bộ chính quyền địa phương trong nghiên cứu này
cũng nghiêng về vũ lực, đánh đập. Về nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực,
nghiên cứu nhấn mạnh đến nguyên nhân kinh tế với nhận định khó khăn về kinh
tế dễ gây ra xích mích giữa hai vợ chồng. Mặc dù không phân tích rõ sự khác
nhau giữa nhận thức của người dân và các cán bộ cấp tỉnh, huyện, xã nhưng
người đọc vẫn thấy được cán bộ có cách nhìn nhận vấn đề về bạo lực gia đình
đầy đủ và chính xác hơn so với những người dân.
Trong khuôn khổ chương trình hợp tác quốc gia giữa Chính phủ Việt Nam và
Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) 2006-2010, Bộ Văn hóa Thể thao và Du
lịch đã phối hợp với Tổng cục Thống kê và Viện Gia đình và Giới thuộc Viện Khoa
học Xã hội Việt Nam tiến hành điều tra Gia đình Việt Nam. Cuộc điều tra này được
tiến hành trên phạm vi toàn quốc, tập trung vào 4 lĩnh vực là: quan hệ gia đình; các
5

giá trị, chuẩn mực của gia đình; kinh tế gia đình và phúc lợi gia đình. Trong đó có 1
chương dành cho nội dung mâu thuẫn, xung đột và bạo lực gia đình. Bằng những số

được kết hợp những cuộc trao đổi thăm dò diễn ra trước đó cũng như những nghiên
cứu trắc nghiệm và gắn với các chương trình can thiệp hỗ trợ khác” [28,tr.85].
Trên nền tảng những tư tưởng và cách tiếp cận của Parsons, G. Williamson
(1930), trong lý thuyết về ThV với tên gọi “Tiếp cận đặc điểm và nhân tố”, các tác
giả đã bổ sung và phát triển quy trình ThV giải quyết vấn đề với 5 bước cơ bản từ
chẩn đoán, kết thúc đến theo dõi. [2,tr.65].
Tại Mỹ, Canada, Singapore, Philippin Khi phụ nữ bị BLGĐ sẽ nhận được
sự hỗ trợ của NTV, nhân viên CTXH. Khi phụ nữ bị BLGĐ đến hoặc được giới
thiệu đến trung tâm ThV, trung tâm CTXH hoặc nơi làm việc của NTV, nhân viên
CTXH tiếp nhận, đánh giá, xác định vấn đề, xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đề.
NTV, NVXH sẽ là người đồng hành cùng với phụ nữ bị BLGĐ trong suốt quá trình
trợ giúp. Dựa trên những kiến thức và hiểu biết tâm lý, tâm lý xã hội NTV, nhân
viên CTXH tìm cách hỗ trợ về tâm lý xã hội và trị liệu với từng cá nhân. Thông
thường hình thức ThV và trị liệu đối với các nạn nhân là ThV trực tiếp trong các
trung tâm, phòng ThV với phụ nữ bị BLGĐ. Những NVXH, NTV là những người
kết nối dịch vụ hỗ trợ cho phụ nữ bị BLGĐ điều phối các dịch vụ.
Các thành viên trong gia đình của các phụ nữ bị BLGĐ sẽ được cung cấp các
dịch vụ xã hội. Ngoài dịch vụ ThV cá nhân, các thành viên trong gia đình cũng
được hỗ trợ thông qua các dịch vụ ThV gia đình, ThV nhóm, tham gia các câu lạc
bộ, tham gia các khóa tập huấn về kỹ năng sống, tập huấn về kiến thức gia đình và
nâng cao nhận thức về BLGĐ.
2.2.2. Nghiên cứu liên quan đến tham vấn và tham vấn cho phụ nữ bị bạo
lực gia đình ở trong nước
Do những hạn chế về chủ quan và khách quan, nên việc tìm kiếm các
nguồn tư liệu, tài liệu liên quan đến vấn đề ThV cho phụ nữ bị BLGĐ ở Việt
Nam không nhiều vì vậy trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu gặp phải một
7

số khó khăn. Dưới đây chúng tôi xin nêu ra một số nghiên cứu liên quan đến
vấn đề ThV cho phụ nữ bị BLGĐ.

ThV cho phụ nữ bị BLGĐ cũng là một chủ đề được các tổ chức quốc tế đóng
tại Việt Nam như: Unicef, Care, Radda Barnen, Plan…quan tâm. Đã có được những
dự án với sự giúp đỡ của các chuyên gia ThV về BLGĐ, họ đã tổ chức triển khai
tương đối nhiều khóa tập huấn về ThV về BLGĐ [3,tr.80].
Chuyên mục tư vấn Thanh Tâm trên báo phụ nữ: Mỗi số báo hàng ngày của
Báo phụ nữ đều có mục tư vân Thanh Tâm, số lượng người tìm đến ThV trên báo
phụ nữ rất đa dạng về độ tuổi, ở các vùng miền khác nhau với nhiều vấn đề khác
nhau như: hôn nhân gia đình, tình yêu giới tính…trong đó có ThV về BLGĐ. Trong
quá trình nghiên cứu trên chuyên mục này về các bài ThV liên quan đến BLGĐ,
việc ThV cho những người bị BLGĐ chưa mang lại hiệu quả cao bởi nhiều lý do
khác nhau như: Những người ThV không có chuyên môn về ThV nên đã dẫn đến rất
nhiều thân chủ được ThV không hài lòng, có những bài người tiến hành ThV đã
phán xét thân chủ, áp đặt các giải pháp, thân chủ không được quyền tự quyết, đưa
lời khuyên cho thân chủ, ThV chưa tập trung vào những vấn đề mà thân chủ đang
muốn được tháo gỡ…
Chi hội phụ nữ các cấp, hoạt động ThV cho các chị em phụ nữ bị BLGĐ
thường xuyên được tiến hành bởi các chi hội phụ nữ, các thành viên tổ hòa giải của
cụm dân cư hoặc tổ dân phố. Tuy nhiên đang tồn tại một thực trạng đó là các cán bộ
hội phụ nữ, các cán bộ hòa giải cơ sở làm công tác ThV cho các chị em phụ nữ bị
BLGĐ chưa mang lại hiệu quả cao. Đa số họ mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra những
lời khuyên cho cho thân chủ chứ chưa thực sự ThV cho chị em hội viên phụ nữ của
mình bị BLGĐ hoặc mới chỉ bằng kinh nghiệm và niềm say mê nghề nghiệp chứ
chưa được qua đào tạo một cách bài bản và chuyên nghiệp. Chính vì lý do đó nên
cũng chưa thực sự mang lại hiệu quả cao trong việc hỗ trợ cho các nạn nhân là phụ
nữ bị BLGĐ.
ThV của NNBY cho các nạn nhân bị BLGĐ được tiến hành bởi các cán bộ
tham vấn cho đến nay phòng ThV đã ThV khoảng 3000 lượt. Do là những người có
9

kinh nghiệm và được đào tạo chuyên sâu về ThV nên các nạn nhân đến với phòng

4.2. Về thực tiễn
Làm rõ được những hoạt động tham vấn cần thiết cho phụ nữ bị bạo lực gia
đình nói chung và tại NNBY nói riêng.
Chỉ rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa tham vấn và công tác xã hội.
Chỉ ra được những điểm mạnh thuộc mô hình tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị
bạo lực gia đình tại NNBY để phổ biến và nhân rộng trên cả nước.
Chỉ ra những yêu cầu về tính chuyên môn cần tiếp tục hoàn thiện đối với
tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại NNBY như đội ngũ cán bộ
tham vấn, cơ sở vật chất…
Là tài liệu tin cậy cho các hoạt động nghiên cứu có liên quan.
5. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
5.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại NNBY Trung ương Hội liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam
5.2. Khách thể nghiên cứu
Phụ nữ bị bạo lực gia đình
Cán bộ quản lý NNBY
Cán bộ xã hội/ Nhân viên xã hội, cán bộ tham gia tham vấn cá nhân cho
phụ nữ bị bạo lực gia đình
Người thân của các nạn nhân bị bạo lực gia
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Thời gian: nghiên cứu các hoạt động tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị bạo lực
gia đình tại NNBY từ năm 2007 đến nay
6.2. Địa bàn nghiên cứu: Ngôi nhà bình yên – Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam
6.3. Nội dung nghiên cứu: quy trình tham vấn, nội dung, hình thức, cán bộ làm
công tác tham vấn, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tham vấn cá nhân cho
phụ nữ bị bạo lực gia đình và các kết quả đã đạt được.
11


9.2 Phỏng vấn sâu

̉
ng số pho
̉
ng vấn sâu la
̀
15 trươ
̀
ng hơ
̣
p, bao gồm: Phụ nữ bị bạo lực gia đình
(05 người), cán bộ dự án (01 người), cán bộ quản lý (01 người), cán bộ tham vấn
(06 người), quản gia (01 người), bảo vệ (01 người).
9.3 Thảo luận nhóm
Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi thực hiện 01 thảo luận nhóm gồm 08
người: cán bộ quản lý, cán bộ tham vấn, cán bộ dự án, nhân viên xã hội tại
NNBY.
9.4 Phương pha
́
p nghiên cư
́
u trường hợp
Trong nghiên cứu này nghiên cứu và thực hành, thực nghiệm trên 02 trường hợp
phụ nữ bị bạo lực gia đình tại NNBY
9.5. Phương pha
́
p điều tra bằng bảng hỏi
Hiện nay tại NNBY hiện có 10 phụ nữ bị bạo lực gia đình đang tạm trú và 15
cán bộ nhân viên, do cỡ mẫu ít nên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu tổng thể bằng

Theo từ điển Tiếng việt (2003) “Bạo lực là sức mạnh dùng để trấn áp, lật đổ.
Nó có thể là bạo lực chính trị, bạo lực vũ trang, trên phạm vi toàn xã hội, giữa các
quốc gia, trên lãnh thổ một đất nước, nó có thể là bạo lực gây thương tích, tổn
14

thương về kinh tế, thể chất hay tinh thần của người này cho người khác trong các
nhóm xã hội hay gia đình”
Xét về bản chất bạo lực là việc sử dụng sức mạnh để triệt hạ, gây những tổn
thương về thể chất, tinh thần cho người khác.
1.1.1.3. Bạo lực gia đình
BLGĐ là một dạng bạo lực xã hội, hiện tượng BLGĐ đã tồn tại từ rất lâu
trong mọi thời đại và trong mọi xã hội. BLGĐ có thể là hành vi đánh đập, đe dọa,
gây sức ép về thể chất và tâm lý diễn ra giữa những người thân trong gia đình.Theo
luật phòng chống BLGĐ năm 2007 “BLGĐ là hành vi cố ý của thành viên gia đình
gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành
viên khác trong gia đình” [14,tr.1].
Các thành viên gây ra BLGĐ ở đây được xem xét cả những người sống
chung với nhau nhưng không có quan hệ hôn nhân hay những người đã ly hôn.
Các hình thức bạo lực gia đình hiện nay gồm: bạo lực thển xác, bạo lực tinh
thần, bạo lực tình dục, bạo lực kinh tế. Theo điều 2 của Luật phòng chống BLGĐ
được xác định cụ thể như sau:
Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc có hành vi cố ý khác xâm hại đến sức
khỏe, tính mạng.
Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự hoặc nhân phẩm.
Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả
nghiêm trọng.
Ngăn cản việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông
bà và cháu, cha mẹ và con, giữa vợ và chồng, giữa anh chị em với nhau.
Cưỡng ép quan hệ tình dục.
Cưỡng ép tảo hôn, cưỡng ép két hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự

- Ảnh hưởng của bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Hiện nay bạo lực gia đình đã và đang để lại nhiều hậu quả nặng nề cho phụ nữ
nói riêng và các nạn nhân bị bạo lực gia đình nói chung. Bạo lực gia đình dẫn đến
nhiều hậu quả nặng nề đối với phụ nữ như:
16

Về thể xác của phụ nữ: gãy xương, tàn phế, bầm dập, rách da, suy giảm chức
năng vận động… thậm chí nạn nhân có thể bị tử vong
Về tâm lý và hành vi của phụ nữ: Hoảng loạn, lo âu, buồn chán, trầm cảm, tâm
thần, lạm dụng các chất kích thích, lệch lạc về hành vi.
Về kinh tế: Tốn kém tiền của do chi phí đề khám và điều trị bệnh tật. Không
những thế mà trong thời gian điều trị bệnh nạn nhân không những phái chi phí, tốn
tiền cho việc khám và chữa bệnh đồng thời nạn nhân phải nghỉ việc nên không có
nguồn thu nhập cho bản thân, gia đình và xã hội. Ngoài ra nều tình trạng bạo lực gia
đình xảy ra nhiều nhà nước cần phải chi phí nhiều cho công tác tuyên truyền đẩy
mạnh bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình.
Về mặt xã hội: làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, ảnh hưởng đến cộng đồng, trật
tự trị an.
Như vậy chúng ta thấy rằng bạo lực gia đình là vấn đề ảnh hưởng không chỉ
đến bản thân họ mà còn ảnh hưởng đến toàn xã hội.
1.1.2. Một số vấn đề về tham vấn và tham vấn cá nhân
1.1.2.1. Tham vấn
Hiện nay có rất nhiều các nghiên cứu đưa ra những quan niệm khác nhau về
ThV trong nội dung luận văn này xin đề cập đến một số định nghĩa về ThV như sau:
Theo P.K.Odhner (1998), “ThV là quá trình trợ giúp con người có mục đích rõ
ràng và mang tính chuyên nghiệp, đòi hỏi NTV cần phải dành một thời gian nhất
định và sử dụng các kỹ năng một cách thuần thục để giúp đỡ đối tượng (còn gọi là
thân chủ) tìm hiểu, xác định vấn đề và triển khai những giải pháp trong điều kiện
cho phép”. Ông cho rằng, đây là một khoa học thực hành nhằm giúp đỡ con người
vượt qua những khó khăn của họ, giúp họ có được khả năng hoạt động độc lập trong

thân chủ tự tìm ra giải pháp để giải quyết vấn đề khó khăn mà bản thân mình đang
gặp phải.
1.1.2.2. Mục đích và vai trò của tham vấn
Mục đích của ThV không phải đưa ra những lời khuyên hay quyết định thay
thân chủ. Mục đích cuối cùng của ThV là giúp thân chủ tăng cường hiểu biết về bản

Trích đoạn Lý thuyết nhu cầu của A.Maslow Lý thuyết lấy thân chủ làm trọng tâm Carl Rogers Lý thuyết nhận thức của Albert Ellic Trình độ chuyên môn và kinh nghiệm của cán bộ tham vấn tại ngôi nhà Trường hợp 1
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status