ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------
NGUYỄN THỊ PHƢỢNG LIÊN
VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ
HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG THAM VẤN CHO
PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI VĂN
PHÒNG HỖ TRỢ NẠN NHÂN – TRUNG TÂM
CSAGA
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60 90 01 01
Hà Nội - 2016
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................................................ 5
1.
Lý do chọn đề tài ........................................................................................................................... 5
2.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu ...................................................................................................... 7
5.2.
Khách thể nghiên cứu .......................................................................................................... 13
6.
Phạm vi nghiên cứu..................................................................................................................... 14
6.1.
Nội dung ............................................................................................................................... 14
6.2.
Thời gian nghiên cứu........................................................................................................... 14
6.3.
Không gian nghiên cứu (địa điểm)...................................................................................... 14
7.
Câu hỏi nghiên cứu ..................................................................................................................... 14
8.
Giả thuyết nghiên cứu................................................................................................................. 15
9.
Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................................................ 15
Bạo lực với phụ nữ. ................................................................................................... 20
1.1.3. Bình đẳng giới ...................................................................................................................... 21
1.1.4. Khái niệm vai trò .................................................................................................................. 22
1.1.5. Tham vấn .............................................................................................................................. 23
2
1.1.5.1.
Định nghĩa................................................................................................................. 23
1.1.5.2.
Phân loại tham vấn ................................................................................................... 25
1.1.5.3.
Quy trình tham vấn.................................................................................................... 27
1.1.6. Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu...................................................................... 29
1.2.
1.1.6.1.
Thuyết Nhu cầu ......................................................................................................... 29
1.3.2.2.
Chính sách và chiến lược .......................................................................................... 40
Tiểu kết chương 1: ........................................................................................................................ 42
CHƢƠNG 2. NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN CHO PHỤ
NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI VĂN PHÒNG HỖ TRỢ NẠN NHÂN BẠO LỰC GIỚI TRUNG TÂM CSAGA ....................................................................................................................... 43
2.1. Thực trạng hoạt động tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực gia đình của nhân viên công tác
xã hội tại Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân - Trung tâm CSAGA ........................................................ 43
2.1.1. Quy trình tham vấn .............................................................................................................. 43
2.1.1.1.
Giai đoạn 1: Tạo lập mối quan hệ và lòng tin .......................................................... 45
2.1.1.2.
Giai đoạn 2: Xác định vấn đề, giúp thân chủ phát hiện vấn đề họ đang tồn tại ....... 48
2.1.1.3.
Giai đoạn 3: Lựa chọn giải pháp .............................................................................. 50
2.1.1.4.
Giai đoạn 4: Triển khai giải quyết vấn đề ................................................................ 52
2.1.1.5.
Giai đoạn 5: Kết thúc ................................................................................................ 53
2.2.2. Vai trò tham vấn ................................................................................................................... 71
2.2.3. Vai trò vận động/ kết nối nguồn lực .................................................................................... 76
2.2.4. Vai trò người giáo dục ......................................................................................................... 80
2.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các vai trò của nhân viên công tác xã hội
trong hoạt động tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Văn phòng hỗ trợ nạn nhân tại
Trung tâm CSAGA ........................................................................................................................... 83
2.2.5.1.
Các yếu tố từ nhân viên công tác xã hội làm công tác tham vấn .............................. 84
2.2.5.2.
Các yếu tố khách quan .............................................................................................. 86
2.2.5.3.
Sự hợp tác của người phụ nữ bị bạo lực gia đính ..................................................... 87
Tiểu kết chương 2: ........................................................................................................................ 90
KẾT LUẬN - KHUYẾN NGHỊ ......................................................................................................... 91
3.1.
Kết luận .................................................................................................................................... 91
3.2.
Khuyến nghị............................................................................................................................. 92
3.2.1. Về Trung Tâm CSAGA ........................................................................................................ 92
3.2.2. Về bản thân nhân viên công tác xã hội ............................................................................... 93
tin đại chúng và đã có nhiều báo cáo nghiên cứu về bạo lực gia đình được
thực hiện và đã có các mô hình phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
được áp dụng tại các địa phương. Sự mất bình đẳng giữa đàn ông và phụ nữ
đã có từ lâu trong lịch sử và văn hóa của nhiều quốc gia theo chế độ phụ hệ
trong đó có Việt Nam đã làm nên những thái độ và niềm tin chắc chắn của xã
hội về vị trí, vai trò và trách nhiệm hơn hẳn một bậc của người đàn ông so với
người phụ nữ.
Bạo lực không còn là việc nội bộ tự giải quyết trong mỗi gia đình, mà đã
trở thành một tệ nạn cần có sự quan tâm của toàn xã hội. Năm 2007, Chính phủ
Việt Nam ban hành luật phòng, chống bạo lực gia đình. Theo Luật phòng, chống
5
bạo lực gia đình là hành vi bị nghiêm cấm cần được loại trừ, nhất là đây không
còn là vấn đề riêng tư của mỗi gia đình. Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong
những quốc gia đầu tiên ký Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử
đối với phụ nữ của Liên Hiệp Quốc (CEDAW) và chương trình hành động Bắc
Kinh. Điều này cho thấy được sự quân tâm của Nhà nước và Chính Phủ trong
việc xoá bỏ nạn bạo lực chống lại phụ nữ.
Mặc dù đã có những cảnh báo của nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng trước
mắt cũng như lâu dài của bạo lực đối với đời sống tinh thần và thể xác của
người phụ nữ nhưng cho đến thời gian rất gần đây ở Việt Nam, những nghiên
cứu về bạo lực phụ nữ vẫn còn ở mức hạn chế về quy mô và tính nghiêm túc,
hoặc ít ra cũng không ở mức độ phổ biến. Các kiến nghị hiếm hoi của những
nghiên cứu về bạo lực đối với phụ nữ cũng vẫn còn chưa được các nhà chính
sách xã hội sử dụng hoặc sử dụng rất ít ỏi. Đặc biệt là chưa có nhiều nghiên
cứu về bạo lực gia đình chống lại phụ nữ dưới góc nhìn công tác xã hội.
Trước những tác động của BLGĐ, NVCTXH có vai trò quan trọng trong
việc cung cấp dịch vụ xã hội, tư vấn pháp luật, trị liệu tâm lý, tuyên truyền,
nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho mỗi người dân. Cụ thể, NVCTXH sẽ
bạo lực gia đình tại Văn phòng hỗ trợ nạn nhân - Trung Tâm CSAGA” để
làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Các nghiên cứu về bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình là một hiện tượng xuất hiện trong suốt chiều dài lịch sử
của thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Trong thế giới đương đại bạo
lực gia đình, mà đối tượng chính của nó là phụ nữ và trẻ em, vẫn tồn tại và
đang có xu hướng gia tăng. Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy rằng
BLGĐ là một hiện tượng mang tính toàn cầu: “Phần lớn bạo lực chống lại
phụ nữ xảy ra trong gia đình” [39]
7
Bà Radhika Coomaraswamy, cựu Báo cáo viên đặc biệt của Ủy ban
Nhân quyền LHQ về nạn bạo hành phụ nữ, nói rằng đối với đại đa số phụ nữ,
vấn đề này là “điều cấm kỵ, phải che giấu, và là một thực trạng đáng xấu hổ”.
Theo thống kê của một tổ chức ở Hà Lan nghiên cứu về nạn nhân cho biết, có
đến 23% phụ nữ ở một nước Nam Mỹ, tức là cứ trong 4 người thì gần như có
1 người, bị bạo hành trong gia đình. Cuốn sách: “Violence, Silence and Anger
- Women’s Writing as Transgression” do Deirdre Lashgari chủ biên tạo cơ sở
cho các nhà nữ quyền trình bày các tư tưởng về sự im lặng, tức giận và nhu
cầu nói lên tiếng nói chống lại bạo lực. [32]
Năm 2004, các tác giả Margaret Brome Janet Saul Karen Lang Rebeca
Lee-Pethel Neil Rainford Jocelyn Wheaton đã đề cập đến các vấn đề như làm
thế nào để “phòng ngừa” bạo lực tình dục, trong tài liệu CDC, Sexual violence
prevention: beginning the dialogue, các tác giả đã xây dựng các khái niệm,
phương pháp hành động dựa trên cơ sở y tế công cộng nhằm phòng ngừa và
bảo vệ các nạn nhân bạo lực tình dục. Từ “Thảo luận ban đầu này của y tế
công cộng’ đã đặt nền tảng cho các cuộc đối thoại trong tương lai về cách
Theo kết quả nghiên cứu "Ước tính thiệt hại kinh tế do bạo lực gia đình
gây ra với phụ nữ tại Việt Nam" thì tổng thiệt hại về năng suất lao động chiếm
tới 1,78% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2012 của Việt Nam. Bạo lực là
nguyên nhân dẫn tới kìm hãm tăng trưởng kinh tế và gia tăng đói nghèo ở các
quốc gia. Rõ ràng là bạo lực gia đình đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng
đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của người phụ nữ. Ở Việt Nam, cứ bốn
phụ nữ từng bị chồng bạo hành thể chất hoặc tình dục thì có một người cho
biết họ phải chịu đựng những vết thương trên cơ thể và hơn một nửa trong số
này cho biết họ đã bị thương tích nhiều lần. So với những phụ nữ chưa từng bị
bạo hành thì những người đã từng bị chồng bạo hành có nhiều khả năng bị
bệnh tật và sức khỏe kém hơn gần hai lần và khả năng nghĩ đến việc tự tử
nhiều hơn gấp ba lần. [30]
9
2.2. Nghiên cứu liên quan đến tham vấn và tham vấn cho phụ nữ bị bạo
lực gia đình ở trong nước
Do những hạn chế về chủ quan và khách quan, nên việc tìm kiếm các
nguồn tư liệu, tài liệu liên quan đến vấn đề tham vấn cho phụ nữ bị BLGĐ
ở Việt Nam không nhiều vì vậy trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu
gặp phải một số khó khăn. Dưới đây chúng tôi xin nêu ra một số nghiên
cứu liên quan đến vấn đề Tham vấn cho phụ nữ bị BLGĐ.
Trước năm 1945 ở một số bệnh viện như bệnh viện Bạch Mai đã có mặt
của một số cán bộ xã hội và họ đã sử dụng kỹ năng tham vấn vào quá trình
trợ giúp cho bệnh nhân chữa trị tại bệnh viện. Ở Miền nam trước những năm
1975 đã có những khóa đào tạo tham vấn được đề cập trong các khóa đào tạo
cán sự xã hội do thạc sỹ Nguyễn Thị Oanh, TS Trần Thị Giồng tiến hành và
sau đó là mô hình tham vấn học đường cũng được đề cập và phát triển ở
miền nam vào những năm 90 của thế kỷ XX.
bài tập luyện thực hành tham vấ n tâ m lý . Đây thưc ̣ sự là cuốn sách quý báu
cho những sinh viên và người làm việc trong lĩnh vực tham vấ n [23].
Hoạt động tham vấn cho các chị em phụ nữ bị BLGĐ thường xuyên
được tiến hành bởi các chi hội phụ nữ, các thành viên tổ hòa giải của cụm
dân cư hoặc tổ dân phố. Tuy nhiên đang tồn tại một thực trạng đó là các cán
bộ hội phụ nữ, các cán bộ hòa giải cơ sở làm công tác Tham vấn cho các chị
em phụ nữ bị BLGĐ chưa mang lại hiệu quả cao. Đa số họ mới chỉ dừng lại
ở việc đưa ra những lời khuyên cho cho thân chủ chứ chưa thực sự Tham vấn
cho chị em hội viên phụ nữ của mình bị BLGĐ hoặc mới chỉ bằng kinh
nghiệm và niềm say mê nghề nghiệp chứ chưa được qua đào tạo một cách
bài bản và chuyên nghiệp. Chính vì lý do đó nên cũng chưa thực sự mang lại
hiệu quả cao trong việc hỗ trợ cho các nạn nhân là phụ nữ bị BLGĐ.
Từ tổng quan nghiên cứu có thể nhận thấy rằng hiện nay đã có nhiều
nghiên cứu về phụ nữ bị BLGĐ tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu nào về vai
trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động tham vấn cho phụ nữ bị
11
BLGĐ. Do vậy, luận văn “Vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong
hoạt động tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Văn phòng hỗ trợ
nạn nhân - Trung Tâm CSAGA” là đề tài mới và không trùng tên với các
đề tài đã công bố.
3. Ý nghĩa của nghiên cứu
3.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ hệ thống lý thuyết CTXH như: thuyết
hành vi, thuyết nhu cầu, thuyết hệ thống, thuyết thân chủ trọng tâm, lý thuyết
vai trò, các khái niệm về BLGĐ, BL giới, định kiến giới… Trên cơ sở đó kết
quả nghiên cứu làm sáng tỏ tính đúng đắn trong việc vận dụng các phương
pháp, kỹ năng CTXH trong hoạt động tham vấn cho PN bị BLGĐ. Kết quả
động tham vấn của NVCTX với phụ nữ bị BLGĐ tại VPHTNN -Trung tâm
CSAGA.
Từ kết quả nghiên cứu, đưa ra những khuyến nghị, giải pháp nâng cao
vai trò của nhân viên xã hội trong khi tiến hành hoạt động tham vấn với phụ
nữ bị bạo lực gia đình tại trung tâm CSAGA và địa phương nơi phụ nữ bị
BLGĐ cư trú.
5. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động tham vấn với phụ
nữ bị bạo lực gia đình tại Văn phòng hỗ trợ nạn nhân – Trung Tâm CSAGA.
5.2. Khách thể nghiên cứu
- Cán bộ quản lý, nhân viên công tác xã hội đang trực tiếp tham gia quản
lý, hỗ trợ tại văn phòng hỗ trợ nạn nhân - trung tâm CSAGA
- Khách hàng tham vấn thường xuyên tại CSAGA là phụ nữ đã có gia
đình bị bạo lực về thể chất, tinh thần, tình dục… trong gia đình
13
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Nội dung
Khi làm việc với PN bị BLGĐ, nhân viên công tác xã hội có thể cung
cấp một hay nhiều dịch vụ xã hội để hỗ trợ PN bị BLGĐ như: nâng cao năng
lực tâm lý xã hội (phục hồi tâm lý sau sang chấn, kỹ năng sống và giá trị
sống,…) và năng lực kinh tế (kỹ năng nghề và cơ hội việc làm)…. Cùng với
việc hỗ trợ nhiều hoạt động như thế, NVCTXH sẽ đóng nhiều vai trò khác
nhau chẳng hạn như: Vai trò là người vận động nguồn lực, vai trò là người kết
nối, vai trò là người biện hộ, vai trò là người vận động/hoạt động xã hội, vai
trò là người giáo dục, vai trò là người tư vấn, vai trò là người tham vấn, vai
trò người tạo sự thay đổi…
- Năng lực, kinh nghiệm, trình độ chuyên môn của NVCTXH, NVCTXH
làm công tác kiêm nhiệm, cơ sở vật chất hay sự hợp tác của PN bị
BLGĐ khi được tham vấn là những nhân tố có thể ảnh hưởng đến việc
thực hiện vai trò của NVXH trong khi tham vấn cho PN bị BLGĐ.
9. Phƣơng pháp nghiên cứu
9.1. Phương pháp thu thập và nghiên cứu tài liệu
Các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí, các bài đánh giá, bài viết
và kỷ yếu hội thảo của một số tổ chức làm việc về vấn đề bạo lực gia đình,
bạo lực tình dục như CWD, CCHIP… Các bài viết số liệu, công trình nghiên
cứu được đăng trên các tạp chí Xã hội học, báo Gia đình và Xã hội, các
website trong và ngoài nước
Các báo cáo như: Báo cáo nghiên cứu về bạo lực gia đình năm 2006, báo
cáo kết quả từ Nghiên cứuquốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt
Nam 2010, báo cáo hàng năm của trung tâm CSAGA, các tài liệu, bài viết
được lưu ở Thư viện Giới của CSAGA.
15
Các văn pháp pháp lý như Công Ước CEDAW, Hiến pháp năm 2013,
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2004, Luật Bình đẳng giới năm 2007, Nghị
Định 08/2009/ NĐ - CP, ngày 04 tháng 02 năm 2009 của Chính Phủ quy định
chi tiết về việc thi hành một số điều luật phòng chống bạo lực gia đình.
9.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Luận văn tiến hành phỏng vấn sâu 20 người, gồm các đối tượng sau:
lãnh đạo trung tâm CSAGA 02 người, Phụ nữ bị BLGĐ: 10 người, nhân viên
công tác xã hội thực hiện tham vấn: 05 người, cán bộ quản lý: 03 người.
9.3. Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát cũng được sử dụng trong suốt quá trình nghiên
cứu để nhằm hiểu rõ hơn các thông tin qua thái độ cử chỉ, hành vi cũng như
môi trường làm việc của NVCTXH.
chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con
người. Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các
thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống
hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức
với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để
thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người.
Từ những định nghĩa này, ta có thể tìm hiểu đặc trưng cơ bản của gia
đình để xem xét các mối quan hệ của gia đình ở góc độ là một nhóm XH,
nhóm tâm lý - tình cảm đặc thù, với các mối quan hệ bên trong, với sự tác
động qua lại trong nội bộ của các thành viên để thỏa mãn những nhu cầu của
17
mỗi người, đặc biệt là mối quan hệ giữa vợ và chồng. Gia đình có quy luật
phát triển mang tính chất và đặc thù riêng với tư cách là một thể thống nhất,
một tế bào hoàn chỉnh và là một đơn vị cơ sở của một xã hội cụ thể.
1.1.2. Khái niệm bạo lực gia đình và các khái niệm liên quan
1.1.2.1. Khái niệm bạo lực/ bạo lực gia đình
- Khái niệm bạo lực
Theo báo cáo của tổ chức WHO: “Bạo lực là việc đe dọa hay dùng sức
mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với một
nhóm người hay một cộng đồng người mà gây ra hay làm gia tăng khả năng
gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển
hay gây ra sự mất mát” [33].
- Khái niệm BLGĐ
Có rất nhiều định nghĩa liên quan đến bạo lực/ bạo hành trong gia đình cụ thể
như sau:
Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã đưa ra định nghĩa về bạo lực gia đình
như sau: “Bất kỳ một hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến,
hoặc có khả năng dẫn đến, những tổn hại về thân thể, tình dục hay tâm lý hay
lên thân thể nạn nhân như đánh đập; nhục hình; tước đoạt tuỳ tiện về tiền
của, tài sản; cưỡng bức tình dục; …
Bạo lực tinh thần: Bạo hành tinh thần là bất kỳ hành vi cố ý nào làm tổn
thương tinh thần của đối phương, ví dụ làm cho đối phương lo lắng, buồn
khổ, suy nghĩ căng thẳng, tinh thần suy sụp,nghĩ đến cái chết ..v.v.Trong
loại hình bạo lực này đáng chú ý là loại bạo hành ngôn ngữ.
Các hành vi bạo hành về tinh thần bao gồm:
19
Dùng lời nói chửi bới, mắng nhiếc, đay nghiến nhằm hạ thấp hay xúc
phạm đối phương
Có lời nói hay hành vi đe dọa, xúc phạm nhân phẩm, tống tiền, tống
tình đối phương
Kiểm soát hay không cho đối phương tự do giao tiếp xã hội
Kiểm soát về kinh tế, không cho đối phương được tham gia bàn bạc,
thảo luận hay ra quyết định về kinh tế
Cố ý lạnh nhạt (gây chiến tranh lạnh) nhằm gây áp lực, làm đối phương
căng thẳng và phải chấp nhận điều gì đó mà họ không muốn
Không cho hoặc dọa không cho gặp mặt, nuôi dưỡng con
Dùng lời nói hay hành động đe dọa, ngăn cản không cho ly hôn, hoặc
không cho kết hôn theo mong muốn chính đáng
Và nhiều hành vi tương tự khác
Theo quan hệ của các đối tượng BLGĐ có thể phân chia thành một số loại
hình BLGD: bạo lực giữa vợ chồng với nhau (bạo hành hôn nhân); bạo lực
giữa các thành viên lớn tuổi; bạo lực của người lớn đối với trẻ em; bạo lực
ngược – người nhỏ tuổi với người lớn tuổi hơn.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến BLGĐ đó là sự mất bình đẳng và
nhận thức kém về bình đẳng giới. Bình đẳng giới là một trong những giá trị
mang tính toàn cầu. Mục tiêu cơ bản của bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt
đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa
nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
Nhận biết về bình đẳng giới đúng đắn sẽ làm giảm tình trạng bạo lực gia
đình trong xã hội nói chung và đối với nghề nghiệp CTXH nói riêng sẽ giúp
21
nhân viên công tác xã hội có cái nhìn đa chiều đúng đắn khi xử lý các trường
hợp.
1.1.4. Khái niệm vai trò
Vai trò của cá nhân như là một vai diễn là một hoặc nhiều chức năng mà
cá nhân ấy phải đảm trách trước xã hội. Theo Robertsons vai trò là một tập
hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị
thế xã hội nhất định
Khái niệm vai trò xã hội bắt nguồn từ khái niệm vai diễn trên sân khấu.
Vai diễn trên sân khấu đòi hỏi diễn viên phải nhập tâm, bắt chước và học tập
đóng vai của những nhân vật được đạo diễn phân đóng.
Các nhà Xã hội học đã vay mượn từ kịch bản của sân khấu để miêu tả
các vai trò xã hội. Vai trò xã hội không có tính chất tưởng tượng, bắt chước
cứng nhắc và nhất thời. Những hành vi thực tế của một người nhờ học hỏi
được những kinh nghiệm, lối sống, tác phong từ trước đó trong cuộc sống.
Vai trò xã hội của một người có nghĩa là người đó phải đảm nhận hay thể
hiện đầy đủ các hành vi, nghĩa vụ, hệ thống chuẩn mực trên cơ sở vị thế của
người đó. Đồng thời họ cũng nhận được những quyền lợi xã hội tương ứng
với việc thực hiện vai trò của họ. Mỗi cá nhân có vô vàn vai trò, có bao nhiêu
thân chủ “nghĩ, cảm giác và hành động khác với trước và để từ đó họ có thể
đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống của họ một cách có hiệu quả
hơn”.
Theo Rogers Jenny trong cuốn Caring for people cho rằng, tham vấn là
hoạt động nhằm giúp đỡ con người tự giúp chính họ, hoạt động này giúp đối
tượng (người cần được tham vấn) nâng cao khả năng tự tìm giải pháp, đối phó
với vấn đề và thực hiện tốt chức năng của mình trong cuộc sống. [45]
23
Trần Thị Minh Đức định nghĩa tham vấn là “một quá trình tương tác
giữa NVCTXH - người có chuyên môn và kỹ năng tham vấn, có các phẩm chất
đạo đức của nghề tham vấn - với thân chủ (còn được gọi là khách hàng) người đang có vấn đề khó khăn về tâm lý cần được giúp đỡ. Thông qua sự
trao đổi, chia sẻ thân mật, tâm tình (dựa trên những nguyên tắc đạo đức và
mối quan hệ mang tính nghề nghiệp), thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của
mình, tự tìm lấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình”.
[22]
Từ những khái niệm trên, có thể kết luận rằng: Tham vấn là quá trình
tương tác giữa NVCTXH (người có chuyên môn, kĩ năng, người có phẩm chất
đạo đức nghề nghiệp) và thân chủ (là người có khó khăn trong cuộc sống cần
được giúp đỡ) thông qua sự trao đổi, chia sẻ thân mật, chân tình (dựa vào
nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính nghề nghiệp) giúp thân chủ
hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm thấy tiềm năng bản thân để giải
quyết vấn đề của chính mình, tăng cường khả năng ứng phó và phục hồi chức
năng tâm lý xã hội của thân chủ trong tương lai.
Mục đích tổng quát của tham vấn là giúp thân chủ tăng cường khả năng
tự ứng phó với hoàn cảnh khó khăn không chỉ trong hiện tại mà cả trong
tương lai.
Giúp thân chủ thay đổi trạng thái cảm xúc, hành vi tiêu cực, cải thiện và
giải quyết vấn đề của chính mình.
Tham vấn gián tiếp: Thân chủ và NVCTXH không đối thoại trực tiếp mà
thường thông qua khâu trung gian như qua báo chí, qua đài, qua điện thoại,
qua internet...
Căn cứ vào các phương tiện thông tin
Hiện nay có 7 loại hình tham vấn: Tham vấn qua điện thoại, qua đài, qua
truyền hình, qua Internet, chat room, qua báo, tại các trung tâm tham vấn.
Căn cứ vào đối tượng tham vấn:
Tham vấn chia thành 3 loại: tham vấn cá nhân, tham vấn gia đình và
tham vấn nhóm:
25