Đánh giá các dịch vụ hỗ trợ với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình tại trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội thành phố hà nội - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------------BÙI THỊ TUYẾT NHUNG

ĐÁNH GIÁ CÁC DỊCH VỤ HỖ TRỢ VỚI NHÓM PHỤ NỮ BỊ
BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI TRUNG TÂM CUNG CẤP DỊCH VỤ
CÔNG TÁC XÃ HỘI HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

Mã số: 60 90 01 01
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Như Trang

Hà Nội – 2016


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................................5
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 5
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ...................................................................... 6
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn..................................................................14
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................... 15
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................... 15
6. Phương pháp nghiên cứu......................................................................... 16
7. Cơ cấu của luận văn ................................................................................ 17
NỘI DUNG .......................................................................................................................18
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH........................................................18
1.1 Những vấn đề lý luận .......................................................................... 18
1.1.1 Khái niệm 18
1.1.2 Các hình thức bạo lực gia đình


công tác xã hội..............................................................Error! Bookmark not defined.
2.1.1. Quy trình tiếp nhận đối tượng thông thường Error! Bookmark not
defined.
2.1.2. Quy trình tiếp nhận đối tượng khẩn cấp
defined.

Error! Bookmark not

2.2. Đặc điểm vấn đề bạo lực gia đình với nhóm phụ nữ tại Trung tâm cung
cấp dịch vụ công tác xã hội........................... Error! Bookmark not defined.
2.2.1. Các hình thức Bạo lực gia đình Error! Bookmark not defined.
2.2.2. Thời gian bị bạo lực gia đình Error! Bookmark not defined.
2.2.3. Hậu quả của Bạo lực gia đình với phụ nữ tại Trung tâm Cung cấp
dịch vụ Công tác xã hội Hà Nội Error! Bookmark not defined.
2.3. Thực trạng các dịch vụ hỗ trợ nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình được tiếp
nhận tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thành phố Hà Nội.Error!
Bookmark not defined.


2.3.1. Hoạt động tư vấn Error! Bookmark not defined.
2.3.2. Hoạt động hỗ trợ kết nối nguồn lực
defined.

Error!

Bookmark

not

2.3.3. Hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức Error! Bookmark not


Error! Bookmark not

3.6. Trường hợp điển cứu ...................................Error! Bookmark not defined.
Tiểu kết chương 3 .........................................................Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN ..................................................................Error! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................35


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự biến đổi nhiều mặt về kinh tế, chính trị, xã hội, từ vi mô đến vĩ mô, từ cá nhân
đến cộng đồng, từ kinh tế đến chính trị đã làm biến đổi tất cả và gia đình cũng không nằm
ngoài phạm vi này. Bạo lực gia đình được coi là một dạng tệ nạn xã hội gây hậu quả ở
nhiều mức độ lên đời sống gia đình và xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến nhân cách và quá
trình phát triển của mỗi cá nhân, gián tiếp tạo nên mầm mống các tệ nạn và tội phạm
nguy hiểm khác cho xã hội. Đối tượng của hành vi bạo lực trong gia đình thường là
những thành viên yếu đuối, dễ bị tổn thương và trong hầu hết các trường hợp thường là
phụ nữ, người già và trẻ em. Luật Bình đẳng giới là đạo luật mang số 73/2006/QH11
được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XII thông qua vào
ngày 29 tháng 11 năm 2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007. Luật
này quy định về bình đẳng giới ở Việt Nam. Đó là hành lang pháp lý để đảm bảo công
bằng xã hội.
Trong các năm từ 2011 – 2015 (ở nước ta) có 157.859 vụ bạo lực gia đình, trong
đó nạn nhân là nữ chiếm 74,24%. Trong số 492.520 vụ ly hôn đã giải quyết thì nguyên
nhân từ bạo lực gia đình chiếm 83,78%. Mỗi năm có hơn 8.000 vụ ly hôn mà nguyên
nhân từ bạo lực gia đình. Đây là thông tin được đại biểu Điểu Huỳnh Sang (Bình Phước),
phát biểu tại Quốc hội sáng 10/11/2016. Kết quả nhiều cuộc khảo sát và báo cáo địa
phương cho thấy, hiện nay bạo lực gia đình đã gây ra những hậu quả cho phụ nữ và xã
hội nói chung. Nạn nhân của BLGĐ rất cần sự giúp đỡ của xã hội và cộng đồng. Hiện

Mỗi công trình nghiên cứu lại đưa đến những cách tiếp cận khác nhau khi bàn về vấn đề
BLGĐ, đóng góp vào cái nhìn chung cho lĩnh vực này.
Trong số các nghiên cứu của nước ngoài, phải kể đến đóng góp của nhà nữ quyền
Dobash với cuốn sách “Violence Against Wives” (Tạm dịch là Bạo lực chống lại những
người vợ - 1979) là một trong những công trình nghiên cứu nổi tiếng về BLGĐ. Nghiên
cứu được tiến hành ở Scotland bao gồm những cuộc phỏng vấn sâu và phỏng vấn không
chính thức 137 phụ nữ đang lánh nạn vì bạo lực của người chồng. Trong số đó, có tới
84% các trường hợp phụ nữ bị tấn công lần đầu tiên trong 3 năm đầu của hôn nhân.
Dobash đã chỉ ra nguyên nhân chính của các vụ bạo lực trong hôn nhân là do uy quyền


của người chồng và sự phụ thuộc của người phụ nữ vào đàn ông. Uy quyền của người
chồng thường được khơi tỏa bởi sự ghen tuông, tình dục, con cái, tiền nong, say rượu ….
Dobash cũng chỉ ra rằng phụ nữ bị bạo lực thường có xu hướng quay lại với người chồng
bạo lực vì bị phụ thuộc về kinh tế và lo lắng về sự thiếu vắng vai trò của người bố đối với
con cái của họ. Chính từ những lo lắng đó nên khi xảy ra bạo lực, những người phụ nữ
thường không muốn đi trình báo cảnh sát hoặc cơ quan chức năng. Do vậy, họ thường
không nhận được sự hỗ trợ từ gia đình, cộng đồng hay các dịch vụ phúc lợi.
Năm 2004, cuốn sách “Healing the trauma of domestic violence” (Hàn gắn
những khủng hoảng sang chấn của BLGĐ) của Esward.S.Kubany xuất bản tại Canada đã
đề cập đến các kĩ thuật giúp những phụ nữ là những nạn nhân bị BLGĐ có thể vượt qua
được những khủng hoảng, sang chấn do bạo lực đem lại.
Năm 2005, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) phối hợp với Trường Dược nhiệt đới
của Mỹ đã thực hiện một nghiên cứu đa quốc gia với chủ đề “Women’s Health and
Domestic Violence against Women” (Sức khỏe phụ nữ và BLGĐ chống lại phụ nữ).
Nghiên cứu đã tiếp cận với phụ nữ trên 10 quốc gia bao gồm Bawngladet, Brazin,
Ethiopia, Nhật, Peru, Namibia, Samoa, Serbia và Montenegro, Thái Lan và nước Cộng
hòa Tanzania cho thấy có 15% đến 71% phụ nữ phải chịu đựng một hình thức bạo lực
nào đó về thể xác và tình dục ngay trong gia đình họ và đây là vấn đề có tính chất toàn
cầu hiện đang xảy ra ở cả các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển. Chi phí kinh

người đã có nhiều công trình nghiên cứu về BLGĐ. Có thể kể đến như bài viết “Một số
vấn đề về Bạo lực gia đình hiện nay” được đăng trên Tạp chí Khoa học về phụ nữ năm
1991. Trong bài viết tác giả đã nhận định nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và đề ra
phương hướng giải quyết thỏa đáng, tích cực về vấn đề BLGĐ … là một công việc không
chỉ mang tính chất nhân đạo mà còn góp phần nâng cao không ngừng địa vị và vai trò của
người phụ nữ trong xã hội. Tác giả đã điểm qua tình hình BLGĐ ở nước ta và chỉ rõ
những nguyên nhân của tình trạng này là do: tư tưởng trọng nam khinh nữ, chênh lệch


giàu nghèo, hủ tục lạc hậu, đạo đức lối sống suy đồi, tệ nạn xã hội, trình độ văn hóa thấp
… Tác giả cũng đã đưa ra một số khuyến nghị để giải quyết tình trạng BLGĐ.
Năm 1994, tác giả Lê Thị Quý tiếp tục có bài viết “Bạo lực gia đình ở Việt Nam”
đăng trên tạp chí Khoa học và Phụ nữ . Trong bài viết, tác giả đã chỉ ra năm nguyên nhân
chính của nạn BLGĐ là: nguyên nhân kinh tế, nguyên nhân nhận thức, nguyên nhân văn
hóa – xã hội, nguyên nhân sức khỏe, nguyên nhân từ phía những người phụ nữ, và một nguyên
nhân sâu xa nhất là sự bất bình đẳng trong quan hệ giới.
Công trình nghiên cứu “Bạo lực trên cơ sở giới” (1999) của TS Vũ Mạnh Lợi,
Vũ Tuấn Huy, Nguyễn Hữu Minh – thuộc Viện nghiên cứu Gia đình và Giới tiến hành ở
ba thành phố: Hà Nội, Huế, TP HCM. Trong nghiên cứu các tác giả đã đi sâu tìm hiểu về
thái độ của cộng đồng và các thiết chế xã hội về bạo lực trên cơ sở giới, tìm hiểu phản
ứng của các cá nhân, luật pháp và các thiết chế đối với nạn BLGĐ. Trong nghiên cứu các
tác giả cũng cho thấy tình trạng bạo lực gia đình đang có chiều hướng gia tăng tại ba
thành phố trong địa bàn nghiên cứu, đặc biệt là trong những gia đình mà người phụ nữ
đang thực hiện và khẳng định vai trò kinh tế hộ. Tuy nhiên nghiên cứu này vẫn chưa đưa
ra được hướng giải quyết trực tiếp giúp chị em phụ nữ bị bạo lực gia đình nâng cao được
năng lực của bản thân, từ đó họ có thể tự giúp bản thân họ vươn lên, thoát khỏi hoàn
cảnh.
Năm 2000, tác giả Lê Thị Quý tiếp tục có cuốn sách “Domestic Violence in Viet
Nam” ( Bạo lực gia đình ở Việt Nam) do tổ chức Asia Pacific Forum on Women, Law
and Development (Diễn đàn Châu Á Thái Bình Dương về Phụ nữ , Luật Pháp và Phát

sách, các tác giả đã phản ánh những hậu quả của BLGĐ đối với phụ nữ, trẻ em, phúc gia
đình và cộng đồng. Từ đó, các tác giả cũng đưa ra các mô hình để giải quyết vấn đề này:
mô hình truyền thông kết hợp, mô hình giáo dục và tập huấn, mô hình câu lạc bộ và mô
hình can thiệp khẩn cấp. Trong cuốn sách, các tác giả cũng nêu lên những bài học kinh


nghiệm nhằm tăng cường hiệu quả của các hoạt động phòng chống BLGĐ như: thực hiện
trao quyền cho phụ nữ, hợp tác với nam giới và nhiều ban ngành trong việc phòng chống
BLGĐ, khuyến khích các sáng kiến của người dân…
Nhóm tác giả Nguyễn Hữu Minh, Lê Ngọc Lân, Nguyễn Thị Mai Hoa, Trần Thị
Cẩm Nhung cùng nghiên cứu “Bạo lực của chồng đối với vợ ở Việt Nam trong những
năm gần đây” (2006) đã đưa ra nhận định: chủ thể gây ra BLGĐ là người chồng, người
bạn đời hoặc chồng cũ. Nghiên cứu cũng chỉ ra những khác nhau trong hình thức bạo lực
gia đình giữa hai khu vực là thành thị và nông thôn. Theo đó, ở nông thôn thường diễn ra
hình thức bạo lực về thể chất, còn ở thành thị thường là hình thức bạo lực về tinh thần và
tình dục. Qua nghiên cứu, các tác giả cũng đưa ra những khuyến nghị nhằm giải quyết
vấn đề BLGĐ như: cần nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo về BLGĐ đối với phụ
nữ, đồng thời cần tiến hành nghiên cứu toàn diện về bạo lực trong gia đình nhằm tìm hiểu
sâu nguyên nhân, hậu quả của vấn đề để có những can thiệp kịp thời và hợp lý.
Điều tra gia đình Việt Nam – năm 2006, nghiên cứu không chỉ tập trung vào bạo
lực gia đình với phụ nữ mà còn những mục tiêu rộng và dàn trải hơn là tập trung vào mối
quan hệ gia đình, giá trị, chuẩn mực gia đình, kinh tế phúc lợi gia đình. Điều tra gồm cả
nam và nữ. Những câu hỏi về bạo lực được đặt ra cho cả nam và nữ trong độ tuổi từ 18 –
60, những người ngoài độ tuổi này trong nhà cũng được phỏng vấn. Phỏng vấn ngay trực
tiếp tại nhà của họ không có tính đảm bảo riêng tư và bảo mật thông tin. Bạo lực được
xác định bởi 3 câu hỏi với nội dung: một hành vi bạo lực thể xác (đánh đập), một hành vi
bạo lực tình dục (quan hệ tình dục ngoài ý muốn), một hành vi bạo lực tinh thần (chửi
bới). Thêm một câu hỏi về “dỗi hờn” (giận nhưng không nói ra) đây là câu hỏi không liên
quan đến xác định bạo lực.
Năm 2007, với tác phẩm “Bạo lực gia đình – một sự sai lệch giá trị” của hai tác

Năm 2008, ở nhiều địa phương trên cả nước đã diễn ra nhiều cuộc hội thảo bàn
về vấn đề BLGĐ nhằm tìm ra các biện pháp ngăn chặn, xóa bỏ vấn nạn này. Trong hội


thảo bàn về biện pháp phòng chống BLGĐ tổ chức tại TP HCM, bác sỹ Nguyễn Minh
Tiến – một chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý trị liệu đã có bài tham luận: “Làm việc với
thân chủ có vấn đề bạo hành trong gia đình”. Bài tham luận đã phản ánh thực trạng
BLGĐ ở Việt Nam và nêu lên những chuyển biến, những thuận lợi và hạn chế trong công
tác phòng chống BLGĐ trong những năm vừa qua. Từ đó, tác giả đã đưa ra những dấu
hiệu nhận biết, các biện pháp hỗ trợ nạn nhân một cách tức thời cũng như về lâu dài.
Trong hội thảo về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng
chống BLGĐ được tổ chức tại thành phố Yên Bái, tác giả Nguyễn Hữu Minh đã có bài
tham luận: “Vai trò của các tổ chức trong phòng chống BLGĐ”. Tham luận đã chỉ rõ vai
trò, trách nhiệm của các tổ chức ở các cấp trước những yêu cầu đặt ra của Luật phòng
chống BLGĐ. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn trong hoạt
động phòng ngừa và can thiệp BLGĐ, cần chú ý tới quy trình can thiệp trong quá trình
thực hiện.
Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với Phụ nữ ở Việt Nam - năm 2010 do
Tổng cục thống kê thực hiện. Nghiên cứu bao gồm cấu phần định lượng (khảo sát mẫu)
và cấu phần định tính (phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tập trung). Trong nghiên cứu tập
trung vào chủ đề bạo lực gia đình với phụ nữ, chỉ sử dụng điều tra viên là phụ nữ, chọn
ngẫu nhiên một phụ nữ trong hộ gia đình và mời đến phỏng vấn trực tiếp qua Bảng hỏi
điều tra sử dụng các câu hỏi của nghiên cứu đa quốc gia của WHO về sức khỏe phụ nữ và
bạo lực gia đình với phụ nữ còn các thành viên khác trong gia đình không được phỏng
vấn và được biết về chủ đề cuộc khảo sát. Câu hỏi được đưa ra bằng cách liệt kê một loạt
các hành vi cá nhân mà phụ nữ từng phải hứng chịu: chỉ số bạo lực do người chồng gây
ra được xác định ở những câu hỏi về 6 câu hỏi hành vi về bạo lực thể xác và 4 hành vi
bạo lực tình dục. Bạo lực tinh thần và các hành vi kiểm soát cũng được thu thập sử dụng
trong danh sách các hành vi.
Như vậy, có thể thấy theo dòng lịch sử vấn đề về BLGĐ và Phòng chống BLGĐ


4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá các dịch vụ hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình hiện có tại Trung tâm
cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP. Hà Nội
Tìm hiểu các yếu tố tác động đến các dịch vụ tại Trung tâm

4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đánh giá các dịch vụ hỗ trợ với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình của Trung tâm
cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP.Hà Nội về: cách thức tổ chức quản lý, ngân sách, sự
phong phú của các dịch vụ? Có lạc hậu không? Sự đáp ứng nhu cầu của xã hội? Các dịch
vụ có đủ để đáp ứng nhu cầu đối tượng...
Tìm hiểu các yếu tố tác động đến hiệu quả các dịch dịch vụ tại Trung tâm: nhân
lực, cơ sở vật chất, ngân sách, cách thức quản lý chỉ đạo, chính sách pháp lý có hiệu quả
không.

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu đánh giá các dịch vụ hỗ trợ đối với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình
do Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP Hà Nội tổ chức thực hiện.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
-

Phạm vi đối tượng: các dịch vụ hỗ trợ nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình hiện do

Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Hà Nội thực hiện.
-

Phạm vi về khách thể:
+ Phụ nữ bị bạo lực tại Trung tâm

- 06 phụ nữ bị bạo lực
Nội dung chủ yếu của các cuộc phỏng vấn sâu tập trung vào hai nội dung căn
bản: tìm hiểu thực trạng BLGĐ đối với phụ nữ và nhu cầu cần trợ giúp của họ; khảo sát


và đánh giá các dịch vụ hỗ trợ với phụ nữ bị BLGĐ tại Trung tâm cung cấp dịch vụ
Công tác xã hội.
* Phương pháp quan sát tham dự:
Người nghiên cứu đã xin đến làm việc tình nguyện tại Trung tâm CCDVCTXH
từ tháng 01/2016 đến tháng 6/2016 với nhiệm vụ là cộng tác viên công tác xã hội. Tham
gia các hoạt động của trung tâm liên quan đến quá trình tiếp nhận và trợ giúp phụ nữ bị
BLGĐ qua đó quan sát thực tiễn, rút ra được những nhận định của bản thân về dịch vụ
cung cấp tại Trung tâm với nhóm phụ nữ bị BLGĐ.
* Phương pháp thảo luận nhóm.
Thảo luận nhóm tập trung được tiến hành với sự tham gia của 7 người bao gồm:
1 NVXH, 2 NVTV, 1 lãnh đạo cơ quan quản lý cơ sở, 1 chuyên viên phụ trách thuộc cơ
quan chủ quản, 1 lãnh đạo trung tâm.

7. Cơ cấu của luận văn
Cơ cấu của luận văn: ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia làm ba
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia
đình.
Chương 2: Thực trạng triển khai các dịch vụ hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình được
tiếp nhận tại Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP.Hà Nội.
Chương 3: Các yếu tố tác động đến hiệu quả các dịch vụ hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực
gia đình tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội TP. Hà Nội.


NỘI DUNG

nguyên tắc căn bản của nghề” [11].
Theo Foundation of Social Work Practice: “Công tác xã hội là một môn khoa học
ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua những khó khăn của họ và đạt được một vị trí ở
mức độ phù hợp trong xã hội. Công tác xã hội được coi như là một môn khoa học vì nó
dựa trên những luận chứng khoa học và những cuộc nghiên cứu đã được chứng minh. Nó
cung cấp một lượng kiến thức có cơ sở thực tiễn và xây dựng những kỹ năng chuyên môn
hoá” [20].
* Gia đình
Giữa các ngành khoa học, các nhà khoa học khác nhau cũng có nhiều quan điểm
khác nhau về gia đình. Có quan niệm cho gia đình là “tế bào xã hội”, gia đình là “thiết
chế xã hội”, "là “nhóm xã hội”, là “tổ chức cơ bản của xã hội”…
Trong tác phẩm “Cấu trúc xã hội” (1949) G.P. Murdock cho rằng “Gia đình là
một nhóm xã hội có đặc trưng là cùng cư trú, hợp tác và tái sản xuất kinh tế (người lớn
và của cả hai giới), và ít nhất trong đó có quan hệ tình dục với nhau, được xã hội tán
thành, một hoặc nhiều con cái (do họ đẻ ra hoặc do họ nhận con nuôi)” [12, tr. 21].
Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam (năm 2002) định nghĩa “Gia đình là thiết chế
xã hội dựa trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới, thông qua hôn nhân để thực
hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hóa….Gia đình là một phạm trù lịch sử thay
đổi cùng sụ phát triển của lịch sử” [6, tr. 17].
Dưới góc độ Luật pháp, theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam “Gia đình là
tập hợp những gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi
dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau” [18, tr. 25]
* Bạo lực gia đình


Bạo lực ngày càng được quan tâm nhiều hơn bởi bản chất của nó gắn liền với tội
phạm, người gây ra bạo lực không phân biệt giới tính, lứa tuổi hay dân tộc và nạn nhân
của bạo lực cũng không có mối liên hệ tới những phạm trù trên. Tức là ai cũng có thể gây
ra bạo lực và ai cũng có thể là nạn nhân của bạo lực. Bạo lực không chỉ ảnh hưởng tới
riêng nạn nhân mà còn là gây nên những hệ lụy tiêu cực tới cộng đồng rộng lớn, làm mất



1.1.2 Các hình thức bạo lực gia đình
Các hành vi BLGĐ với phụ nữ được biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau, có
những hành vi bạo lực dễ dàng nhận thấy nhưng cũng có những bạo lực mà không thể
nhận thấy. Khái quát các hành vi bạo lực, có 4 nhóm hành vi bạo lực chủ yếu bao gồm
bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục và bạo lực kinh tế.
Các hành vi BLGĐ với phụ nữ được biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau, có những
hành vi bạo lực dễ dàng nhận thấy nhưng cũng có những bạo lực mà không thể nhận
thấy. Khái quát các hành vi bạo lực, có 4 nhóm hành vi bạo lực chủ yếu bao gồm bạo lực
thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục và bạo lực kinh tế.
* Bạo lực thể chất
Là những hành vi ngược đãi, đánh đập hoặc sỉ nhục của một hoặc nhiều thành viên
trong gia đình làm tổn thương tới nhân phẩm, sức khỏe, tâm thần, tính mạng của một hay
nhiều thành viên khác. Bạo lực gia đình xảy ra giữa những người có quan hệ đặc biệt (vợ
chồng, con dâu, con rể) hoặc ruột thịt (ông bà, cha mẹ, con cháu, anh chị em, họ hàng) có
thể trong cùng một mái nhà hoặc mái nhà khác. [8, tr.43,44]
* Bạo lực tinh thần
Là những lời nói, thái độ, hành vi ngược đãi hoặc sỉ nhục của một hoặc nhiều thành
viên trong gia đình làm tổn thương tới nhân phẩm, sức khỏe, tâm thần của một hay nhiều
thành viên khác. Bạo lực tinh thần cũng còn là sự áp đặt, chỉ đạo hoặc xâm phạm tới nguyện
vọng, ý thích, thị hiếu riêng của mỗi người.[8, tr.44]
* Bạo lực tình dục
Là những hành vi cưỡng ép hoặc dùng bạo lực để thỏa mãn tình dục của một
người hoặc một nhóm người đối với một người hoặc một nhóm người khác. Hành vi này
có thể diễn ra một lần hoặc lặp đi lặp lại nhiều lần và diễn ra cả trong quan hệ vợ chồng
hoặc bạn tình. Bạo lực tình dục còn bao hàm cả việc cưỡng ép vợ sinh nhiều con hoặc đẻ
con trai.Bạo lực tình dục là một dạng đặc biệt trong quan hệ giới tại gia đình. Nó vừa có



Những hành vi BLGĐ như đánh đập, ném, sử dụng hung khí để hành hạ khiến nạn

nhân BLGĐ có thể bị giảm khả năng về ăn, ngủ, nghỉ. Bị tổn thương thực thể từ nhẹ như
bầm tím, xây xước, chảy máu. Tới nặng hơn như bị thương tật làm giảm hoặc mất khả
năng lao động thậm chí là tử vong.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status