ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
VƢƠNG THỊ THẮM
TRUYỀN THÔNG VỚI NHÓM PHỤ NỮ
BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
(Nghiên cứu trường hợp thị trấn Vân Đình,
Huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------
VƢƠNG THỊ THẮM
TRUYỀN THÔNG VỚI NHÓM PHỤ NỮ
BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
(Nghiên cứu trường hợp thị trấn Vân Đình,
Huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội)
Chuyên ngành Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Tôi xin cảm ơn chính quyền địa phương, cộng đồng/nhóm và các cá
nhân tại thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã quan tâm
giúp đỡ và động viên, khuyến khích tôi trong suốt thời gian qua để tôi hoàn
thành luận văn được tốt hơn.
Hà Nội, ngày 2 tháng 12 năm 2015
Học viên
Vƣơng Thị Thắm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................... 1
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu ......................................................................... 3
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn ................................................................ 8
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................... 9
5. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu ................................................... 10
6. Câu hỏi nghiên cứu ............................................................................................. 11
7. Giả thuyết nghiên cứu ......................................................................................... 11
8. Phƣơng pháp nghiên cứu.................................................................................... 12
NỘI DUNG CHÍNH ................................................................................................ 14
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ..................... 14
1.1. Các khái niệm ................................................................................................... 14
1.1.1. Khái niệm truyền thông ................................................................................... 14
1.1.2. Các yếu tố của truyền thông ............................................................................ 15
1.1.3. Phân loại truyền thông .................................................................................... 17
1.1.4. Khái niệm bạo lực gia đình ............................................................................. 20
1.1.5. Khái niệm bạo lực gia đình đối với phụ nữ của Liên Hợp Quốc .................... 21
VÂN ĐÌNH - HUYỆN ỨNG HÕA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI ............................. 71
3.1. Kết hợp truyền thông về phụ nữ bị bạo lực gia đình và truyền thông với
nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình ........................................................................... 71
3.2. Xây dựng và truyền thông nhóm nâng cao hiệu quả truyền thông. ............ 72
3.2.1. Thành lập nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình ................................................... 72
3.2.2. Nhân viên công tác xã hội thực hiện truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực
gia đình ...................................................................................................................... 75
3.2.3. Nâng cao hiệu quả truyền thông của các phương thức truyền thông .............. 79
3.3. Thành lập nhóm truyền thông trợ giúp đối với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia
đình. .......................................................................................................................... 84
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ ..................................................................................... 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 94
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Một số từ nên tránh khi giao tiếp với phụ nữ bị bạo lực gia đình…….67
Bảng 2.2. Nguồn lực hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Thị trấn Vân Đình….70
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Biểu đồ 3.1.Các đơn vị truyền thông về BLGĐ ........................................................80
Biểu đồ 3.2.Các phương thức truyền thông về BLGĐ..............................................82
DANH MỤC VIẾT TẮT
NVCTXH
Nhân viên công tác xã hội
và trẻ em vốn được coi là yếu thế hơn trong xã hội. Bạo lực gia đình hiện đang trở
thành vấn nạn không chỉ riêng Việt Nam mà trở thành vấn nạn trên toàn thế giới.
Trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và Tuyên bố của Liên hợp
quốc về xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ được thông qua ngày 20/12/1993 của Đại hội
đồng Liên Hợp Quốc đã nhấn mạnh: Phụ nữ được quyền thụ hưởng bình đẳng và
được bảo vệ tất cả các quyền con người, bao gồm quyền sống, bình đẳng, tự do, an
toàn cá nhân, quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật và quyền không bị tra
tấn hay đối xử, trừng phạt một cách độc ác, vô nhân đạo. Các quốc gia có nghĩa vụ
lên án bạo lực đối với phụ nữ và không được viện dẫn bất kỳ tập quán, truyền thống
hay lý do tôn giáo nào nhằm từ chối trách nhiệm xóa bỏ bạo lực. Các quốc gia phải
thực hiện trách nhiệm đầy đủ để phòng ngừa, điều tra và trừng trị các hành vi bạo
lực đối với phụ nữ theo pháp luật quốc gia. Điều này cho thấy tầm quan trọng của
việc chống lại bạo lực gia đình, đặc biệt là bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong đó
chính chúng ta phải là hạt nhân tích cực đấu tranh đẩy lùi vấn nạn bạo lực gia đình
để bạo lực gia đình không thể xâm phạm đến nhân phẩm, đạo đức, sức khỏe của
mỗi con người.
Tại Thị trấn Vân Đình những năm qua bạo lực gia đình đã và đang diễn ra
với tốc độ nhanh chóng, tăng mạnh về số vụ và làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc
sống của người dân nơi đây. Theo đánh giá của Hội phụ nữ Thị trấn Vân Đình thì
bạo lực gia đình gia tăng làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa
bàn và để lại hậu quả nghiêm trọng đặc biệt là những vụ bạo lực về thể chất khiến
cho người bị bạo lực đa phần là phụ nữ chịu những tổn thương về thể chất, những
1
vụ việc nghiêm trọng còn đe dọa đến tính mạng và để lại thương tật suốt đời cho
người phụ nữ phá vỡ đi những giá trị gia đình. Theo thống kê cuối năm 2014 số vụ
bạo lực gia đình tại Thị Trấn Vân Đình tăng thêm 9 vụ so với năm 2013 là 22 vụ và
theo báo cáo đến tháng 6 năm 2015 thì số vụ bạo lực gia đình trên địa bàn là 25 vụ.
là đề tài mới và quan trọng khác với những nghiên cứu xã hội học trước đó. Với
những lý do đưa trên, Tôi đã lựa chọn đề tài luận văn với tiêu đề: Truyền thông với
nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình (nghiên cứu trường hợp thị trấn Vân Đình,
Huyện Ứng Hòa,Thành phố Hà Nội)
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Nhiều nghiên cứu quốc tế đã cho thấy bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình
là hệ thống có tình toàn cầu, tác động trong khoảng 20-50% số phụ nữ trên thế giới
(WHO,1998)
Bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình đã trở thành một nội dung quan trọng
trong tuyên bố hành động của Hội phụ nữ thế giới lần thứ IV tại Bắc Kinh năm
1995 và trong các văn bản của tổ chức Liên Hợp Quốc.
Từ ngày 4-6/12/2001, tại Phnôm Pênh-Campuchia đã diễn ra Hội nghị về
luật pháp phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình ở vùng tiểu Mê Kông,
Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam. Hội nghị đã thống nhất trên một số quan
điểm rằng: Bạo lực gia đình không phải là chuyện riêng của gia đình và phụ nữ
đang bị coi là phụ thuộc vào nam giới trên phạm vi toàn cầu.
Việc nghiên cứu truyền thông trên thế giới hiện nay được các nhà nghiên cứu
về báo chí và quan hệ công chúng đặc biệt quan tâm. Có thể kể ra những nghiên cứu
liên quan đến truyền thông như công trình nghiên cứu của:
David Croteau, William Hoyneys (2003), Media/ Society: industries, images,
and audiences (truyền thông/ xã hội: công nghệ, hình ảnh và công chúng), Pine
Forces Press: Cuốn sách đánh giá vai trò xã hội của các phương tiện truyền thông,
quá trình phát triển công nghệ truyền thông, ảnh hưởng của kinh tế, chính trị và
công chúng đối với các phương tiện thông tin đại chúng, tác động của toàn cầu hóa
đến phương tiện truyền thông.
Gail Dines and Jean M. Humez (2003) Gender, race, and class in media, a
text – reader (giới tính, chủng tộc và giai cấp trong truyền thông; cách tiếp cận tin
tức theo logic xã hội, Saga Publications, Inc: Các tác giả của cuốn sách mối quan hệ
giữa văn hóa, giới tính, chủng tộc, các khía cạnh xã hội, điều kiện xã hội và phương
tiện truyền thông; các tầng lớp xã hội được thể hiện trên các phương tiện truyền
thức, nguyên nhân văn hóa-xã hội, nguyên nhân sức khỏe và nguyên nhân thuộc về
phía phụ nữ (Lê Thị Qúy,1994). Tuy nhiên nguyên nhân lớn nhất, sâu sa nhất chính
là bất bình đẳng trong quan hệ giới (Lê Thị Qúy,2002).
4
Năm 1996, trong tác phẩm “Nỗi đau thời đại” tác giả đã đi sâu phân tích về
bạo lực gia đình dưới 2 dạng: “bạo lực không nhìn thấy được” và “bạo lực nhìn thấy
được” (hay còn gọi là bạo lực trực tiếp và bạo lực gián tiếp). Với tư cách là một sai
lệch chuẩn mực trong xã hội trong gia đình hiện đại, hai dạng bạo lực này, ở nơi này
thể hiện trong mối quan hệ khăng khít, ở nơi khác lại được thể hiện trong sự độc
lập, tách biệt lẫn nhau. Dạng bạo lực không nhìn thấy được xuất phát từ sự phân
công lao đông bất hợp lý giữa nam và nữ trong gia đình núp dưới khái niệm “thiên
chức”, “hy sinh” của phụ nữ (Lê Thị Qúy,1996).
Công trình nghiên cứu “Bạo lực trên cơ sở giới” của Vũ Mạnh Lợi, Vũ Tuấn
Huy, Nguyễn Hữu Minh năm 1999 đã tiến hành ở 3 thành phố Hà Nội, Huế, Thành
phố Hồ Chí Minh. Các tác giả đã đi sâu xem xét “Thái độ của cộng đồng và các thể
chế xã hội về bạo lực trên cơ sở giới cũng như các phản ứng của cá nhân, luật pháp
và các thể chế với nạn bạo lực trong gia đình” (Vũ Mạnh Lợi và cộng sự,1999).
Ngoài ra chúng ta có thể kể đến công trình nghiên cứu của Viện Khoa học
Xã hội Việt Nam tập trung nghiên cứu xoay quanh việc tìm hiểu về Thực trang-diễn
tiến-nguyên nhân đối với bạo lực gia đình ở Việt Nam, nghiên cứu của Lê Thi trong
việc thực thi công bằng Dân Chủ và bình đẳng nam nữ ở Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam nghiên cứu về bạo lực gia đình đối với phụ nữ muộn hơn so với
các nước trên thế giới. Vì vậy cần có các biện pháp can thiệp đặc biệt là kết hợp
truyền thông nâng cao hiệu quả phòng tránh bạo lực đối với phụ nữ. Một số công
trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề này như:
Tài liệu: Truyền thông có nhạy cảm giới của tác giả Trịnh Bích Liên do tổ
chức OXFAM tài liệu và CSAGA phát hành tháng 6 năm 2011 đặt ra câu hỏi người
phát triển nhân cách cá nhân cũng như hình thành diện mạo văn hóa của mỗi con
người và của cộng đồng, của quốc gia vì những tác động, và sức lan tỏa, sức truyền
dẫn của nó tới công chúng.
Tác phẩm nghiên cứu có tính hệ thống về xã hội học truyền thông của nhà
nghiên cứu Trần Hữu Quang: Chân dung công chúng truyền thông (qua khảo sát xã hội
học tại TPHCM), 2001; Xã hội học báo chí, 2006…Để viết cuốn Chân dung công
chúng truyền thông, tác giả đã tiến hành phỏng vấn, điều tra, khảo sát sự tiếp cận và
tiếp nhận của công chúng đối với các phương tiện truyền hình, phát thanh và báo
viết tại bốn quận, huyện điển hình ở TP. HCM. Nhờ có số liệu khảo sát này mà
6
cuốn sách đã làm nổi bật lên ý tưởng về truyền thông và phát triển. Cuốn sách cũng
lưu ý một cách thẳng thắn đến tính gay gắt và cấp bách của việc tiếp tục nâng cao
dân trí, tạo điều kiện cho phong cách tiếp cận và tiếp nhận tích cực thông tin đại
chúng có thể đến được nhiều hơn với các nhóm xã hội bị thua thiệt về học vấn, vị trí
xã hội...
Những bài viết của Mai Quỳnh Nam đăng trên Tạp chí Xã hội học đã đưa ra
cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu truyền thông đại chúng và dư luận xã hội.
Trên Tạp chí Xã hội học số 1-1996 trong bài “Truyền thông đại chúng và dư
luận xã hội” tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng và dư
luận xã hội. Tác giả cho rằng sự tác động của các phương tiện truyền thông đại
chúng với các nhóm công chúng rất khác nhau do những khác biệt về địa vị xã hội
về quyền lợi giai cấp, về các nhân tố tâm lý và về cường độ giao tiếp đối với
phương tiện truyền thông. Mối quan hệ giữa báo chí và công chúng trong quá trình
hình thành và thể hiện dư luận xã hội có tính chất biện chứng. Một mặt các phương
tiện truyền thông đại chúng nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của công chúng
mặt khác bản thân công chúng lại đặt ra các yêu cầu mới đối với hoạt động của hệ
thống báo chí.
góp phần tạo cơ sở nền tảng kiến thức cho công trình nghiên cứu của tác giả nghiên
cứu mà còn giúp tác giả xây dựng hoạt động truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo
lực gia đình một cách phù hợp và đem lại hiệu quả, tính khả thi cao.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Bước đầu nhận định vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ
truyền thông đối với nhóm phụ nữ bị bạo hành gia đình.
Nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận của CTXH khi ứng dụng vào
nghiên cứu một vấn đề cụ thể là truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình.
Nghiên cứu vận dụng những kiến thức của CTXH của truyền thông như hệ
thống các lý thuyết, các phương pháp, kỹ năng, mô hình để tìm hiểu, nghiên cứu
một nhóm đối tượng cụ thể. Từ đó, nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò của kỹ năng
truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình trong công tác xã hội.
Nghiên cứu sử dụng các lý thuyết liên quan đến truyền thông và truyền thông
đại chúng để tìm hiểu và phân tích ảnh hưởng cá nhân của phụ nữ bị bạo lực gia
đình trong việc tìm kiếm, tiếp cận thông tin; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến
8
truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình từ đó làm rõ và bổ sung thêm
khung lý thuyết của đề tài về công tác xã hội trong truyền thông với nhóm phụ nữ bị
bạo lực gia đình, đồng thời vận dụng các phương pháp và kỹ năng can thiệp trong
công tác xã hội được ứng dụng trong quá trình nghiên cứu, củng cố sâu sắc hơn
những hiểu biết về các lý thuyết và phương pháp và kỹ năng công tác xã hội đã
được học và thực hành.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu đưa ra thực trạng và nguyên nhân của việc nhóm phụ nữ bị bạo
hành gia đình tiếp cận chưa đầy đủ hoạt động truyền thông tại thị trấn Vân Đình,
huyện Ứng Hòa,TP. Hà Nội.
nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình, hoạt động này mang lại hiệu quả như thế nào và
hiệu ứng tích cực của nó đối với nhóm đối tượng nghiên cứu ra sao nhằm xây dựng
các giải pháp, khuyến nghị về hoạt động truyền thông trong công tác xã hội
4.2. Nhiệm vụ
- Về mặt lý luận: Nghiên cứu khái quát các vấn đề lý luận liên quan đến
truyền thông. Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong truyền thông đối với
nhóm phụ nữ bị bạo lưc gia đình.
- Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu chỉ ra những thực trạng truyền thông với phụ
nữ bị bạo lực gia đình tại thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội, từ đó đề
xuất một giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia
đình tại thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội.
5. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng
Truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình.
5.2. Khách thể
Nhóm phụ nữ bị bạo lực về thể chất
Cán bộ văn hóa Thị trấn với tư cách của nhân viên CTXH không chuyên phụ
trách mảng truyền thông
Cán bộ Hội phụ nữ Thị trấn phụ trách mảng hoạt động liên quan đến nhóm
phụ nữ bị bạo lực gia đình và trực tiếp làm công tác truyền thông đối với nhóm phụ
nữ bị bạo lực gia đình.
10
5.3. Phạm vi
Giới hạn về thời gian: Nghiên cứu thực hiện từ tháng 11/2014 đến tháng
7/2015
Giới hạn về không gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trong phạm
vi thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội.
hệ thống hóa các căn cứ liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Thu thập những thông tin liên quan đến đối tượng là phụ nữ bị bạo lực gia
đình qua các mối thu thập như dữ liệu, thông tin liên quan (người dân, họ hàng của
đối tượng nghiên cứu), các văn bản, đơn thư lưu trữ cấp xã- huyện, thông tin từ cán
bộ có liên quan.
Truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình thông qua thảo luận nhóm
và phỏng vấn sâu.
8.2. Thảo luận nhóm
Trong quá trình thực hiện thảo luận nhóm với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia
đình, Tôi lên kế hoạch thực hiện thảo luận nhóm với 19 phụ nữ bị bạo lực thân thể
trong tổng số 25 phụ nữ bị bạo lực gia đình tại thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa,
TP. Hà Nội (số mẫu phát ra là 25 phiếu và chọn lọc 19 mẫu nhóm phụ nữ bị bạo lực
thể chất)
19 phụ nữ bị bạo lực thân thể tham gia thảo luận nhóm được chia làm 2
nhóm gồm 1 nhóm 9 người và 1 nhóm 10 người, thảo luận chia làm 2 đợt cụ thể
kèm (ngày-tháng).
Việc thực hiện chia nhóm thảo luận giúp cho người thực hiện thảo luận nhóm
có thể thu thập được thông tin chính xác không bị lộn xộn, chồng chéo hay loãng thông
tin, quên thông tin do tiếp xúc và thảo luận nhóm quá đông hơn nữa còn có thể kết hợp
thu thập thông tin, phỏng vấn sâu qua bảng hỏi cá nhân của từng đối tượng tham gia
thảo luận.
Những phụ nữ bị bạo lực gia đình tại đây cụ thể là bị bạo lực thân thể, họ là
những người chịu những tổn thương về mặt thể chất, sức khỏe và bị đe dọa đến tính
mạng và tổn thương nặng nề về tinh thần. Qua thảo luận nhóm giúp cho truyền
thông đến được với nhóm phụ nữ bị bạo lực, họ giúp tôi cần cân nhắc và làm như
thế nào để truyền thông đem lại hiệu quả, cần thực hiện truyền thông như thế nào?
ảnh hưởng của truyền thông tới nhóm đối tượng này ra sao?
12
hiểu thông điệp của người gửi. (Nguồn: Từ điển bách khoa toàn thư)
Khi đặt truyền thông vào trong quá trình truyền đạt thông tin giữa bên cho và bên
nhận, khái niệm truyền thông đã được xem xét ở ý nghĩa rất rộng của nó. Khái niệm
“truyền thông”, tương ứng với thuật ngữ “communication” trong tiếng Anh hoặc tiếng
Pháp, là một dạng hoạt động căn bản của bất cứ một xã hội nào mang tính xã hội (Trần
Hữu Quang(chủ biên), 2001). Truyền thông thường được xem xét như một quá trình
truyền đạt thông tin được thực hiện qua ngôn ngữ hoặc các cử chỉ, điệu bộ hoặc các hành
vi biểu lộ cảm xúc, vì thế mà một số nhà nghiên cứu đã phân biệt truyền thông với hai
loại hình là truyền thông bằng ngôn từ (verbal) và truyền thông không bằng ngôn từ
(non-verbal).
Theo tác giả Mai Quỳnh Nam với cách hiểu chung nhất: Truyền thông là hoạt
động được xác định là truyền tải và chia sẻ thông tin. Qúa trình này diễn ra liên tục trong
đó có tri thức, tình cảm, kỹ năng liên kết với nhau, đây là quá trình phức tạp, qua nhiều
mắt khâu. Các mắt khâu ấy chuyển đổi tương đối linh hoạt để hướng tới sự thay đổi nhận
14
thức và hành vi của các cá nhân và các nhóm. Qúa trình đó dẫn đến việc hình thành một
dạng “tính nhân quả của thông tin”.[7,tr48]
Theo tác giả Nguyễn Văn Dững “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông
tin, tư tưởng, tình cảm….chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa 2 hoặc nhiều người nhằm
tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến đến điều chỉnh hành vi và thái độ
phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội.[2,tr14-15]
Xem truyền thông gắn liền với sự ý thức của con người, Nguyễn Thị Oanh
trong cuốn “Tâm lý truyền thông và giao tiếp” đã đề cập tới “Truyền thông không
phải là một hành động đơn giản , riêng lẻ…Đây là một sự việc diễn ra liên tục trong
cuộc sống của mỗi chúng ta. Chúng ta luôn tiếp nhận những kích thích từ bên ngoài
(âm thanh, sắc màu, mùi, cảm giác từ sự tiếp xúc với vật thể…) và luôn luôn tự lý
giải những kích thích ấy” [15,tr32]
Kênh truyền thông là các phương tiện, con đường cách thức truyền tải thông
điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Các kênh này hình thành bằng những
phương tiện kỹ thuật. Việc sử dụng các phương thức kỹ thuật để truyền bá thông tin
đã chuyển giao tiếp của con người thành giao tiếp đại chúng.
Nhiễu là yếu tố gây ra sự sai lệch không được dự tính trước trong quá trình
truyền thông (tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lý, kỹ thuật…) dẫn đến tình trạng
thông điệp, thông tin bị sai lệch. Trong quá trình truyền thông, nguồn phát và đối
tượng tiếp nhận có thể đổi chỗ cho nhau, tương tác và đan xen vào nhau. Về mặt
thời gian, nguồn phát thực hiện hành vi khởi phát quá trình truyền thông trước.
Sự phản hồi trong quá trình truyền thông, người nhận luôn có sự đáp ứng lại
với nguồn phát. Trong lĩnh vực thông tin, sự phân chia giữa người truyền tin và
người nhận là rất tương đối và thường diễn ra đồng thời. Phản hồi là dòng chảy của
thông tin từ nguồn đến, nơi nhận và ngược lại. Dòng phản hồi chỉ hình thành khi
người nhận giải mã được thông tin và người cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu
thông tin của người nhận. Phản hồi là yếu tố quan trọng nhất của quá trình truyền
thông đây là một chu trình khép kín và được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Quá trình truyền thông giữa con người bao giờ cũng diễn ra trong môi
trường xã hội. Do đó, liên kết xã hội là nhân tố quan trọng để thu hút các cá nhân
và các nhóm xã hội vào dòng thông tin. Thông tin được chia thành 3 loại: Rất
quan trọng- có thể cần thiết- không cần thiết. Ba loại thông tin này quy định nhu
cầu tiếp nhận thông tin của công chúng trên ba cấp độ : Rất quan tâm- có quan
tâm- không quan tâm.
16
Trong hoạt động truyền thông có thể xảy ra hiện tượng không có phản hồi.
Nghĩa là các thông tin phát ra không tạo nên sự quan tâm của công chúng. Vì vậy
thang đo của sự phản hồi là một chỉ báo cho thấy hiệu quả của hoạt động của các
phương tiện truyền thông đại chúng trong việc hình thành và thể hiện dư luận xã hội.