ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
NGUYỄN HỒNG LINH
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG
PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
(Nghiên cứu trường hợp tại xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội) LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC Hà Nội - 2010
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu. 7
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu. 8
5. Phương pháp nghiên cứu 8
6. Giả thuyết nghiên cứu, các biến số và khung phân tích. 8
PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 11
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG VAI TRÒ PHỤ NỮ
TRONG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG 11
1.1. Một số khái niệm, quan điểm và lý thuyết về vai trò của phụ nữ trong
phát triển cộng đồng 11
1.1.1. Các khái niệm chủ chốt 11
1.2. Quan điểm của Mác - Lênin về phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong phát
triển cộng đồng 15
1.2.1. Quan ®iÓm cña §¶ng ta vÒ vai trß, vị thế của
phô n÷, vµ b×nh ®¼ng giíi trong phát triển cộng đồng
16
1.3. Mét sè lý thuyÕt vÒ vai trò của phụ nữ trong
ph¸t triÓn céng ®ång 19
1.3.1.Lý thuyết chức năng – cơ cấu 20
1.3.2. Lý thuyÕt, quan điểm giới và phụ nữ trong
phát triển cộng đồng 21
1.3.3. Quan điểm của các nhà xã hội học về cộng đồng. 23
2
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT
PHỤ LỤC 85 4
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Độ tuổi phụ nữ xã Đông Ngạc tham gia các dự án phát triển
cộng đồng. 33
Biểu đồ 2: Mức độ tham gia của chị em phụ nữ thôn Đông Ngạc với các hoạt
động phát triển cộng đồng 35
Biểu đồ 3: Trình độ học vấn của chị em xã Đông Ngạc 37
Biểu đồ 4: Cơ cấu nghề nghiệp của phụ nữ xã Đông Ngạc 39
Biểu đồ 5: Tỷ lệ sinh con của phụ nữ xã Đông Ngạc 49
Biểu đồ 6: Mức độ tham gia vào các dự án phát triển cộng đồng 52
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Vai trò của phụ nữ trong việc thực hiện hoạt động tại cộng 53
Bảng 2: Một số nội dung bất bình đẳng 55
Bảng 3: số liệu về mức độ các biện pháp nhằm thu hút sự tham gia của chị em
phụ nữ Xã Đông Ngạc 68
5
PHẦN MỞ ĐẦU
có các cơ hội điều kiện để vui chơi, học hành và hưởng thụ các thành quả lao
động của chính họ. Đó chính là những thiệt thòi trong xã hội, những thua thiệt
trong cuộc sống, những tổn thương trong xã hội mà người phụ nữ phải gánh
chịu đầu tiên. Đây chính là những rào cản ảnh hưởng đến sự phát triển của
phụ nữ.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực
kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, gia đình, nhưng chưa có nhiều nghiên cứu
chuyên sâu từ góc độ xã hội học về vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng
đồng. Xuất phát từ thực tế trên, một đề tài nghiên cứu chuyên sâu về vai trò
của phụ nữ trong phát triển cộng đồng là rất cần thiết trước hết là đáp ứng yêu
cầu thực hiện tốt Luật Bình đẳng giới nói riêng, sự nghiệp giải phóng phụ nữ
nói chung và đồng thời góp phần phát triển chuyên ngành xã hội học về giới ở
Việt Nam. Qua đó hy vọng kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ thực
trạng, nguyên nhân của thực trạng bất bình đẳng giới trong phát triển cộng
đồng và trên cơ sở đó sẽ đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ trong
phát triển cộng đồng nói riêng, trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
2.1. Ý nghĩa lý luận
Thông qua nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng
để :
- Góp phần làm rõ hơn các khái niệm cơ bản, quan điểm lý thuyết về
vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng và khả năng vận dụng các quan
điểm lý thuyết xã hội học về giới nói chung, về vai trò của phụ nữ trong phát
7
triển cộng đồng nói riêng phù hợp với công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế
của Việt Nam ngày nay.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của nghiên cứu này sẽ cung cấp thêm luận cứ thực tiễn cho
việc điều chỉnh hoặc thay đổi chính sách nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ
Khách thể nghiên cứu của đề tài là:
- Phụ nữ xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội
- Cán bộ lãnh đạo (bí thư, chủ tịch), đảng viên, nhân dân, các tổ chức
đoàn thể như hội phụ nữ, đoàn thanh niên tại xã Đông Ngạc – Từ Liêm- Hà
Nội
4.3. Phạm vi nghiên cứu :
- Đề tài tiến hành nghiên cứu trường hợp tại xã Đông Ngạc, huyện Từ
Liêm, Hà Nội thời gian nghiên cứu, khảo sát từ tháng 9 năm 2009 đến .tháng
6 năm 2010
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp ®Þnh tÝnh (phỏng vấn sâu): 10 trường hợp là: chủ
tịch xã, chủ tịch hội phụ nữ, 4 phụ nữ đã tham gia hoạt động các dự án phát
triển cộng đồng và 4 phụ nữ chưa tham gia vào các hoạt động phát triển cộng
đồng;
- Thảo luận nhóm: 5 thảo luận nhóm tương ứng với 5 lĩnh vực là nhóm
làng nghề, nhóm tự quản, nhóm phụ nữ làm việc trong cơ quan nhà nước,
nhóm phụ nữ làm việc phi nông nghiệp, nhóm phụ nữ thuần nông;
- Phương pháp định lượng: Điều tra khảo sát 250 phiếu hỏi.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu sẵn có;
- Phương pháp so sánh, đối chứng (theo khung SWOT, tức là điểm
mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong phát triển).
6. Giả thuyết nghiên cứu, các biến số và khung phân tích.
9
6.1. Giả thuyết nghiên cứu
- Vai trò của phụ nữ hiện nay được thể hiện trong nhiều lĩnh vực của
đời sống xã hội như lĩnh vực, như kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế,
nhưng vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng chưa phát triển mạnh
mẽ và sâu rộng.
- Vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng cộng đồng phụ thuộc
đồng
Vai trò tham gia dự án
phát triển xóa đói giảm
nghèo.
Sự lãnh đạo, chỉ đạo
của các cấp ủy đảng,
chính quyền, đoàn thể
địa phương đến phụ
nữ
ĐĐ
Đặc trưng cá nhân
phụ nữ trong phát
triển cộng đồng
Vai trò thực hiện luật
bình đẳng giới tại
cộng đồng.
X©y dùng ®êi
sèng v¨n ho¸ tại
céng ®ång.
VAI TRÒ
CỦA PHỤ
NỮ
TRONG
PHÁT
TRIỂN
CỘNG
ĐỒNG
10
mối quan hệ của cá nhân đó với những người khác. Do đó, vị thế xã hội là
một đạng biểu hiện địa vị xã hội của con người. Vị thế xã hội được hình thành
trong kết cấu xã hội, được sắp xếp, thẩm định hay đánh giá của xã hội trong
một điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, điều đó có nghĩa là mỗi một con người
đều có địa vị của mình trong những nhóm và trong xã hội mà anh ta là một
thành viên, tương ứng với mỗi vị thế là những quyền lợi và nghĩa vụ xác định.
Vai trò: Mô tả vai trò như sự diễn đạt động lực, đưa những vị thế vào
cuộc sống và theo ông, vai trò là những lối ứng xử đã được quy định sẵn và áp
đặt tương ứng với vị thế cụ thể, do đó chúng ta chiếm giữ các( địa vị) vị thế
nhưng chúng ta đóng các vai trò [13, tr208] .Khái niệm vai trò xã hội dùng để
chỉ chức năng xã hội, mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan bởi
vị thế xã hội của cá nhân trong hệ thống các quan hệ xã hội hoặc hệ thống
12
quan hệ cá nhân. Nói cách khác, vai trò xã hội là một tập hợp các mong đợi,
các quyền và những nghĩa vụ gán cho một địa vị cụ thể. Những mong đợi này
xác định các hành vi của con người được xem như là phù hợp và không phù
hợp đối với người chiềm giữ một địa vị [13,tr208]
Giới là một khái niệm mới xuất hiện nửa đầu thế kỷ XX và mới được
sử dụng rộng rãi ở phong trào phụ nữ thuộc các nước Phương Tây và ở nước
ta vào những năm 1980 [3,tr23]. Cho đến nay nhất là từ khi xuất hiện Luật
bình đẳng giới, thuật ngữ giới đã trở nên khá quen thuộc đối với các lĩnh vực
của đời sống xã hội.
Khái niệm giới đã làm rõ sự khác biệt giữa nam và nữ trên hai khía
cạnh: 1. sinh học (giới tính); 2. văn hóa- xã hội ( giới).
Giới (gender): Chỉ mối quan hệ và tương quan giữa địa vị xã hội của
phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể [3,tr 21]. Nói cách khác,
nói đến giới là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ góc độ xã hội.
Giới còn là thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những kỳ
vọng liên quan đến nam và nữ. Khái niệm giới còn dùng để chỉ những quan
tái sản xuất của mình. Đây thường là những công việc tự nguyện không được
trả công và thường làm vào thời gian rỗi.
+ Vai trò lãnh đạo cộng đồng: Bao gồm các hoạt động ở cấp cộng đồng
thường trong thể chế, chính trị của quốc gia. Những công việc này thường
được trả công trực tiếp bằng tiền hoặc gián tiếp bằng tăng thêm vị thế và
quyền lực.
Cộng đồng: ( community) là một khái niệm đã có một quá trình phát
triển lâu dài với nhiều tuyến nghĩa, được sử dụng rộng rãi để chỉ nhiều đối
tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về quy mô, đặc tính xã hội.
[28,tr45], cộng đồng là hình thức chung sống trên cơ sở sự gần gũi của các
14
thành viên về mặt cảm xúc, hướng tới sự gắn bó đặc biệt mật thiết ( gia đình,
tình bạn cộng đồng yêu thương) được chính họ tìm kiếm và vì thế con người
được cảm thấy có tính cội nguồn.
Cộng đồng là một nhóm người sống trong cùng một làng/xã hoặc là
những người hàng xóm láng giềng lân cận và do đó được tổ chức thành một
thực thể cộng đồng hoặc một thực thể xã hội hóa [22,tr22]
Như vậy, khái niệm cộng đồng có thể hiểu theo nhiều nghĩa, nghĩa
rộng: cộng đồng chỉ những tập hợp người, các liên minh rộng lớn như “ cộng
đồng thế giới, cộng đồng Châu Âu, cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài… Hẹp hơn, căn cứ vào đặc điểm về sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo,
cộng đồng có thể được áp dụng cho một kiểu/hạng xã hội. Hẹp hơn nữa, cộng
đồng sử dụng cho các hình thức xã hội cơ bản là gia đình, làng, hay một nhóm
xã hội nào có những đặc tính chung về lý tưởng xã hội, lứa tuổi, giới tính,
nghề nghiệp. Tuy nhiên trong đa số trường hợp khái niệm cộng đồng được sử
dụng chủ yếu để chỉ các cộng đồng địa phương, và đặc biệt là ở cấp cơ sở, tức
là ở cấp phường xã và ở cả quy mô thôn/xóm/làng/bản. Loài người nói chung
đều là các kiểu cộng đồng xã hội dựa trên các cơ sở cộng đồng khác nhau.
Năm 1956, Liên hiệp quốc đã đưa ra định nghĩa : Phát triển cộng đồng là
về việc phụ nữ bị đối xử bất bình đẳng. Sau đó, tạo điều kiện thuận lợi cho
phụ nữ tham gia hoạt động chính trị và hoạt động sản xuất. Theo Lênin, bình
đẳng nam nữ sẽ chỉ nằm trên giấy nếu phụ nữ không có quyền tham gia
những công việc quyết định vận mệnh của đất nước mình, do đó nhà nước Xô
viết phải mạnh dạn đưa phụ nữ vào những cơ quan quản lý nhà nước, xây
dựng củng cố chính quyền và phải giáo dục chính trị cho phụ nữ. Tuy nhiên,
một yếu tố quan trọng để đưa lại bình đẳng cho phụ nữ ở ngoài xã hội chính
16
lại là việc đang đè lên lưng họ, làm cho họ nghẹt thở, mụ mẫm và nhục nhằn.
Lênin đã khẳng định: Không thể nào đảm bảo được tự do thực sự, không thể
nào xây dựng được ngay cả chế độ dân chủ chứ đừng nói đến chủ nghĩa xã
hội nữa, nếu phụ nữ không tham gia công tác xã hội, đội dân cảnh, sinh hoạt
chính trị, nếu không giải thoát phụ nữ khỏi tình cảnh làm cho người ta mụ
mẫm đi, tức là công việc nội trợ và bếp núc [36,tr 38- 39] Bớt gánh nặng công
việc gia đình để phụ nữ có thêm nhiều thời gian học tập, lao động ngoài xã
hội giúp họ vừa làm tròn trách nhiệm của gia đình và trách nhiệm với xã hội
là một bước tiến lớn của V.I. Lênin trong việc thực hiện lý tưởng giải phóng
phụ nữ ở nước Nga. Cách mạng tháng mười thành công không chỉ mở ra kỷ
nguyên dành độc lập cho các dân tộc bị áp bức mà còn mở đầu cho cuộc đấu
tranh giải phóng phụ nữ trên toàn thế giới.
Cho đến nay luận điểm của Lênin về phụ nữ và vai trũ của phụ nữ vẫn
còn giá trị về mặt lý luận, luận điểm của Lênin thêm môt lần nữa khẳng định
cho chúng ta thấy phụ nữ muốn khẳng định mình, muốn bình đẳng với nam
giới họ cần phải trở thành lực lượng lao động xã hội để có được vị thế kinh tế,
từ đó họ mới có điều kiện để cải thiện địa vị của mình trong gia đình và ngoài
xã hội, có như vậy công cuộc giải phóng phụ nữ mới có khả năng trở thành
hiện thực.
1.2.1. Quan điểm của Đảng ta về vai trò, vị thế của phụ nữ, và bình đẳng
giới trong phát triển cộng đồng
hàng với nam giới để hưởng các quyền tự do: “ Tất cả quyền bình đẳng trong
nước là của nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, trai gái, giàu
nghèo, giai cấp tôn giáo”, “ Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về
mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá”, “ Đàn bà ngang quyền với đàn
ông về mọi phương diện” . Tiếp theo đó đến các hiến pháp năm 1959, 1980
18
nguyên tắc bình đẳng giới được nhấn mạnh, mở rộng và khẳng định trong
điều 63. Hiến pháp sửa đổi bổ sung năm 1992: “ Công dân nam và nữ có
quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình. Nhà nước
và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng
phát huy vai trò của mình trong xã hội”
Luật hôn nhân và gia đình của nước ta ban hành năm 1959 cũng đã
nhấn mạnh quyền tự do hôn nhân, nguyên tắc một vợ, một chồng, vợ chồng
cùng bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em: “ Vợ chồng có nghĩa
vụ và quyền lợi như nhau đối với tài sản chung. Việc mua bán, trao đổi, cầm
cố, vay mượn và chuyển nhượng những tài sản có giá trị lớn phải có sự thoả
thuận của cả hai vợ chồng”.
Luật lao động của nước Việt Nam công bố ngày 5/7/1994 khẳng định
việc: “ Nhà nước bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt
với nam giới” như “ tạo mọi điều kiện để lao động nữ phát huy khả năng của
mình”, bảo hộ các chế độ làm việc, sử dụng lao động nữ và chế độ liên quan
đến thai sản trong quá trình lao động”
Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam cũng kêu gọi
khuyến khích sự bình đẳng giới trong lao động, tuyển dụng, giáo dục, y tế, và
trao quyền cho phụ nữ trong việc lãnh đạo và tham gia các chương trình phát
triển quốc gia. Kêu gọi củng cố vai trò phụ nữ trong gia đình và xã hội. Vì
vậy, nâng cao vai trò, địa vị của phụ nữ được nhìn nhận như là một vấn đề về
quyền con người, nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển và giảm tình trạnh bất
bình đẳng, đặc biệt là bất bình đẳng giới.
- Đảng và nhà nước thừa nhận sự đóng góp của phụ nữ trong sự
nghiệp cách mạng của nhà nước và đã liên tục thay đổi, tạo khuôn khổ pháp
lý phù hợp để phụ nữ có cơ hội và điều kiện bình đẳng cùng nam giới về mọi
20
phương diện. Đó chính là bước tạo đà để phụ nữ được phát huy sức mạnh nội
lực của mình, có cơ hội đóng góp nhiều hơn nữa cho kinh tế gia đình, và phát
huy vai trò của mình trong tham gia các hoạt động cộng đồng vì sự phát triển
của gia đình và xã hội.
1.3. Một số lý thuyết về vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng
1.3.1.Lý thuyết chức năng – cơ cấu
Thuyết chức năng đóng vai trò quan trọng và được sử dụng rộng rãi
trong nghiên cứu xã hội học, thuyết chức năng nhấn mạnh đến những đóng
gớp chức năng của những bộ phận trong một xã hội để duy trì cấu trúc, trật tự
xã hội. Ngoài ra thuyết chức năng còn nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của
các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể, mà mỗi bộ phận đều có chức năng
nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó, với tư cách là một
cấu trúc tương đối ổn định, bền vững. Mô hình lý thuyết này gồm hai mô hình
như sau:
- Thứ nhất, xã hội do cấu trúc xã hội cấu thành, được xác định như
những khuôn mẫu, hành vi xã hội tương đối ổn định. Các cấu trúc xã hội quan
trọng nhất là những bộ phận chính trong xã hội.
- Thứ hai, mỗi thành phần cấu trúc xã hội được hiểu trong mô hình
này theo nghĩa chức năng xã hội, quy vào kết quả hoạt động xã hội như một
tổng thể. Vì thế, mỗi bộ phận trong xã hội có một hay nhiều chức năng quan
trọng cần thiết cho xã hội tồn tại. Lý thuyết này tập trung vào sự hội nhập xã
hội, sự đồng tình, đoàn kết xã hội, sự ổn định, cân bằng nội tại đảm bảo cho
trật tự xã hội Những gương mặt tiêu biểu cho lý thuyết này là các nhà xã hội
học như: Auguste Comte, Herbert Spencer; Emile Durkheim, Talcott Parsons
và sơ đồ lý thuyết hệ thống xã hội của Parsons AGIL được phân tích và có
22
đến phụ nữ bởi quan niệm bất kỳ sự phát triển kinh tế xã hội nào cũng đều
đem lại đổi thay cho mọi người, trong đó có phụ nữ. Sự thay đổi bắt đầu xuất
hiện trong Chiến lược phát triển quốc tế cho thập kỷ thứ hai do Đại hội đồng
Liên hiệp quốc nhấn mạnh: khuyến khích sự hoà nhập của phụ nữ vào nỗ lực
phát triển một cách đầy đủ và vấn đề của phụ nữ là vấn đề phát triển. Và thuật
ngữ “ phụ nữ trong phát triển” ra đời từ đó.
Quan điểm “phụ nữ trong phát triển” chú trọng vào phụ nữ, vào các vấn
đề phụ nữ nảy sinh trong phát triển như: cơ hội có việc làm, được học hành,
bình đẳng tham gia vào các hoạt động chính trị xã hội và được hưởng dịch vụ
chăm sóc sức khoẻ và đời sống. Phong trào WID đòi hỏi công bằng xã hội và
công lý cho phụ nữ.
Cách tiếp cận WID dựa vào cơ sở nổi bật là các quá trình phát triển sẽ
được tiến hành tốt hơn nếu như phụ nữ được coi là trọng tâm nghiên cứu và
trong chuyển giao các nguồn vốn qua các dự án. Cách tiếp cận này cũng thách
thức quan điểm trước đây cho rằng, những lợi ích thu được từ những dự án
phát triển sẽ tự động làm lợi cho phụ nữ và các nhóm yếu thế khác trong các
quốc gia phát triển và quan điểm cho rằng hiện đại hoá sẽ tự động làm tăng sự
bình đẳng giới.
Quan điểm “ phụ nữ trong phát triển” đã nhấn mạnh vai trò to lớn, quan
trọng, cần thiết của phụ nữ trong quá trình xây dựng đất nước và tăng trưởng
kinh tế, coi trọng vai trò của phụ nữ với tư cách là người hưởng thụ thành quả
của sự phát triển, nắm giữ được các nguồn lực như là chìa khoá mở đường
giúp họ thoát khỏi sự lệ thuộc. Nhưng “ phụ nữ trong phát triển” mới chỉ đặt
phụ nữ trong khuôn khổ phát triển đã được định sẵn chứ chưa coi phụ nữ là
chủ thể của quá trình phát triển kinh tế xã hội vì vậy hạn chế khả năng phát
huy tính chủ động, sáng tạo của phụ nữ mà có thể làm giảm hiệu quả của các
quá trình kinh tế, và quan điểm này xem vấn đề phụ nữ một cách tách biệt,