ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
TRẦN VĂN THỨ VAI TRÒ CỦA SINH VIÊN TRONG
QUẢN TRỊ ĐẠI HỌC
(Nghiên cứu trường hợp tại Trường CĐSP Gia Lai) LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội, năm 2013
Hà Nội, năm 2013
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.……… 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 4
2.1. Mục tiêu tổng quát 4
2.2. Mục tiêu cụ thể 4
3. Ý nghĩa nghiên cứu 4
3.1. Ý nghĩa về mặt lý luận 4
3.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn 5
4. Câu hỏi nghiên cứu 5
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6
5.1.Khách thể nghiên cứu 6
5.2.Đối tượng nghiên cứu 6
6. Phương pháp nghiên cứu 6
7. Giới hạn nghiên cứu của đề tài 7
Chương 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 9
1.1.1.Vấn đề quản trị đại học 9
1.1.2.Vấn đề sinh viên trong quản trị đại học 11
1.2. Một số khái niệm và thuật ngữ cơ bản sử dụng có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 17
1.2.1.Sinh viên và vai trò của Sinh viên trong quản trị đại học 17
1.2.1.1.Sinh viên 17
1.2.1.2. Vai trò của sinh viên trong quản trị đại học 17
1.2.1.3. Các mức độ tham gia của sinh viên trong quản trị đại học 18
1.2.2. Khái niệm Cán bộ Lãnh đạo - Quản lý 20
1.2.2.1. Khái niệm về Lãnh đạo 20
1.2.2.2. Khái niệm về Quản lý 21
1.2.2.3. Cán bộ Lãnh đạo- Quản lý 21
QUẢN TRỊ ĐẠI HỌC TẠI TRƯỜNG CĐSP GIA LAI 64
3.1. Kết quả phỏng vấn sâu nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp trường, cấp khoa và
cấp bộ môn trong nhà trường 64
3.2. Mức độ tham gia thực tế và mức độ nhận thức của sinh viên về vai trò sinh
viên trong các hoạt động QTĐH tại trường CĐSP Gia Lai 67
3.2.1. Quản trị hệ thống tổ chức 67
3.2.1.1. Mức độ tham gia của sinh viên trong quản trị hệ thống tổ chức 67
3.2.1.2. Nhận thức của sinh viên về vai trò của sinh viên trong quản trị hệ
thống tổ chức…. 68
3.2.1.3. Sự khác nhau giữa mức độ tham gia của sinh viên trong thực tế và
nhận thức của sinh viên về vai trò sinh viên trong các hoạt động quản trị hệ thống tổ
chức……………. 70
3.2.2. Quản trị nguồn nhân lực 71
3.2.2.1. Mức độ tham gia của sinh viên trong quản trị nguồn nhân lực 71
3.2.2.2. Nhận thức của sinh viên về vai trò của sinh viên trong quản trị
nguồn nhân lực …………………………………………………………………….72
3.2.2.3. Sự khác nhau giữa mức độ tham gia của sinh viên trong thực tế và
mức độ nhận thức của sinh viên về vai trò của sinh viên trong các hoạt động quản trị
nguồn nhân lực 74
3.2.3. Quản trị hoạt động đào tạo 75
3.2.3.1. Mức độ tham gia của sinh viên trong quản trị hoạt động đào tạo 75
3.2.3.2. Nhận thức của sinh viên về vai trò của sinh viên trong quản trị
hoạt động đào tạo 77
3.2.3.3. Sự khác nhau giữa mức độ tham gia của sinh viên trong thực tế và
nhận thức của sinh viên về vai trò của sinh viên trong các hoạt động quản trị hoạt
động đào tạo… 79
3.2.4. Quản trị hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ 79
3.2.4.1. Mức độ tham gia của sinh viên trong quản trị hoạt động nghiên
cứu khoa học và công nghệ 79
3.2.4.2. Nhận thức của sinh viên về vai trò của sinh viên trong quản trị
Trong lý thuyết quản trị học có nhiều định nghĩa về “Quản trị” theo các cách tiếp cận khác nhau. Chung
quy lại, QT có nghĩa là một phương thức làm cho hoạt động của tổ chức tiến tới hoàn thành mục tiêu với hiệu quả
cao, bằng và thông qua những người khác.“Phương thức này bao gồm những chức năng hay những hoạt động cơ
bản mà nhà quản trị có thể sử dụng đó là hoạch định, tổ chức, điều khiển và kiểm tra”
[3]
. Như vậy, QTĐH được
hiểu là thực hiện các chức năng hoạch định, tổ chức, điều hành và kiểm tra giám sát các hoạt động trong tổ chức
trường ĐH ở các cấp độ khác nhau, sao cho trường ĐH có thể hoạt động một cách hiệu quả theo mục tiêu đề ra,
bằng và thông qua mọi thành viên trong nhà trường.
Để QTĐH có hiệu quả cao, cần đặc biệt chú ý đến việc phát huy vai trò các nguồn lực tham gia trong
hoạt động QTĐH. Bởi không có gì quan trọng hơn việc nâng cao chất lượng của HĐQT với đầy đủ các đại diện
của các bộ phận liên quan trong phạm vi nhà trường nhằm đảm bảo cho sự thành công trong tương lai của các
trường ĐH.
[14]
Trong thực tế GDĐH ở các nước có nền GD tiên tiến đã chứng minh sinh viên và các tổ chức sinh
viên cũng là một bộ phận có liên quan và vai trò của họ là đáng kể trong phạm vi trường ĐH. Sinh viên tham gia
vào việc ra quyết định trong các trường ĐH là vấn đề quan trọng và tồn tại trong các cuộc tranh luận học thuật từ
vài thế kỷ trước.
[19]
Gần đây, các cuộc tranh luận về nghệ thuật quản trị hiện đại đã nhận định rằng sinh viên hầu
như không có được các tính năng của nhà quản trị thực thụ, trừ khi xem xét họ là các khách hàng
[18]
.
Qua phân tích trên cho thấy, nếu xem sinh viên là những cộng sự (partners) thì trước hết họ cần có được
sự tin tưởng và đối xử công bằng, được chia sẻ trách nhiệm với các bên có liên quan (stakeholders). Nếu xem xét
sinh viên là khách hàng (consumers) và các trường ĐH là nơi cung ứng các dịch vụ thì sinh viên cần được cung
cấp đầy đủ thông tin, được đối xử công bằng nhằm phát huy sự tham gia đóng góp tích cực của sinh viên vào việc
xây dựng phát triển trường ĐH.
Ở Việt Nam, quyền và nghĩa vụ của người học cũng đã được khẳng định trong luật GD, trong điều lệ
hoạt động các trường ĐH- CĐ, trong quy chế đào tạo, quy chế HS-, V.V…Mặc dù vậy, cho đến nay việc xác định
Tìm hiểu những khó khăn, thách thức cũng như nhận thức của sinh viên, CBLĐ-QL về vai trò của sinh viên
trong các hoạt động QTĐH tại trường CĐSP Gia Lai.
3.
3.1.
Kết quả nghiên cứu đóng góp một phần vào bức tranh toàn cảnh về vấn đề vai trò của sinh viên trong
hoạt động QTĐH ở Việt Nam
Kết quả nghiên cứu đóng góp một phần làm cơ sở tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về vấn đề vai
trò của sinh viên trong các hoạt động QTĐH ở Việt Nam.
3.2.
Kết quả nghiên cứu đóng góp ý nghĩa về mặt thực tiễn như sau;
Kết quả nghiên cứu được đóng góp một phần làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược, tổ chức điều
hành các hoạt động quản trị trong nhà trường được hiệu quả và phù hợp với bối cảnh trường CĐSP Gia Lai hiện nay.
Xác định được những thách thức và khó khăn có thể ảnh hưởng đến sinh viên khi họ tham gia vào
QTĐH và nhận thức của sinh viên cũng như CBLĐ-QL về vai trò của sinh viên trong các hoạt động QTĐH tại
trường CĐSP Gia Lai.
Kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của sinh viên trong các hoạt động QTĐH tại trường
CĐSP Gia Lai, đồng thời cung cấp thông tin tham khảo đối với công tác QTĐH ở các trường ĐH, CĐ khác.
4.
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, đề tài tập trung vào trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu sau:
1) Mức độ tham gia của sinh viên trong các hoạt động QTĐH tại trường CĐSP Gia Lai hiện nay ra sao?
2) Nhận thức của sinh viên và cán bộ lãnh đạo, quản lý về vai trò và tầm quan trọng của sinh viên trong
các hoạt động QTĐH tại trường CĐSP Gia Lai như thế nào?
3
3) Những khó khăn và trở ngại nào có ảnh hưởng đến sinh viên khi sinh viên tham gia vào các hoạt động
QTĐH tại trường CĐSP Gia Lai?
5.
5.1.
Tất cả CBLĐ-QL hiện đang công tác, giảng dạy và toàn thể sinh viên năm 2&3 thuộc hệ cao đẳng chính
quy đang học tập tại trường CĐSP Gia Lai.
gia để bước đầu đánh giá về vai trò của sinh viên trong một số các hoạt động QTĐH tại trường CĐSP Gia Lai bao
gồm: Quản trị hệ thống tổ chức; Quản trị hoạt động đào tạo; Quản trị hoạt động khoa học và công nghệ; Quản trị
4
nguồn nhân lực. Cụ thể như các vấn đề: Vai trò của sinh viên trong hoạch định chiến lược phát triển nhà trường;
Vai trò của sinh viên trong xây dựng nội quy - quy chế tổ chức; Vai trò của sinh viên trong xây dựng chương trình
đào tạo; Vai trò của sinh viên trong các hoạt động giảng dạy và học tập; Vai trò của sinh viên trong các hoạt động
đảm bảo chất lượng; Vai trò của sinh viên trong quá trình tổ chức - điều hành và kiểm soát các bộ phận liên quan
trong hoạt động QTĐH của nhà trường.
Ngoài những vấn đề được nêu trên, các khía cạnh khác về vấn đề vai trò của sinh viên trong hoạt động
QTĐH tác giả sẽ nghiên cứu và tìm hiểu nhiều hơn sau khi kết thúc nghiên cứu này.
1.1.
Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề khác nhau của QTĐH như:
Anthony H. Dooley (2005) nghiên cứu về sự ảnh hưởng của HĐQT trong trường ĐH
[4]
; Dennis John Gayle và cộng
sự (2003) đã khảo sát các cách tiếp cận đối với lãnh đạo hiệu quả và điều hành chiến lược trong trường ĐH thế kỷ
21
[15]
; Nhóm tác giả Ian Bache, Matthew V. Flinders (2004) lại bàn về mức độ đa cấp của quản trị như một khái
niệm thích ứng với việc giải thích sự thay đổi bản chất của chính trị và các chính sách quốc tế được áp dụng đối với
Châu Âu
[11]
; G.Micky Berezi (2008) thực hiện một nghiên cứu về vai trò của HĐQT trong việc hình thành hoạt
động QTĐH ở Vương Quốc Anh
[12]
5
(2008) nghiên cứu về xây dựng mô hình trường ĐH dân chủ, vấn đề cấp thiết được đặt ra đó là thay đổi trong QTĐH
và đã nhận được sự quan tâm, tranh luận nhiều từ giới học thuật như: Sự gia tăng của phong cách hay còn gọi là nghệ
thuật điều hành, quản lí (managerialism); Sự tham gia của trong quản trị trường ĐH. Nó được đặt ra để cung cấp một
quan điểm lý thuyết và thực nghiệm về sự tương tác giữa các trường ĐH dân chủ, và gia tăng sự ảnh hưởng của đến
các hoạt động quản lý, điều hành trong QTĐH.
[18]
Đồng tác giả Alf Lizzio, Keithia Wilson (2009) nghiên cứu
những nhân tố thúc đẩy hay cản trở đối với hiệu quả hoạt động QTĐH của đại diện với tư cách là thành viên
trong HĐQT.
[17]
Trong khi đó, ở Việt Nam về cơ bản mô hình quản trị hiện nay của các trường ĐH, CĐ đã bắt đầu từ
thập kỷ 50-60 của thế kỷ 20 và tiếp tục cho đến ngày nay và gần như không thay đổi
[7]
. Chính vì lịch sử của
QTĐH Việt Nam như vậy nên rất khó để các nhà khoa học Việt Nam thực hiện các nghiên cứu cơ bản cũng như
nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực QTĐH. Cho đến nay, QTĐH được xem là một lĩnh vực còn khá mới trong hệ
thống GD Việt Nam, chưa có nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu GD nghiên cứu về lĩnh vực này và kết quả là có
rất ít các công trình nghiên cứu đầy đủ, toàn vẹn về tổng thể QTĐH ở Việt Nam.
Nhìn chung, các nghiên cứu tại Việt Nam thường tiếp cận vấn đề trên cơ sở kinh nghiệm và thực tiễn
QTĐH ở các nước có nền GD tiên tiến và sau đó nghiên cứu ứng dụng vào QTĐH tại Việt Nam. Đối với vấn đề
trong QTĐH thì chưa có một nghiên cứu chính thức về bất cứ khía cạnh nào. Sau đây là sơ lược một số rất ít các
bài viết, các công trình nghiên cứu có liên quan đến QTĐH như; Năm 2006, trong công trình nghiên cứu của
mình, tác giả Phạm Phụ cho rằng khi nói tự chủ là nói đến mối quan hệ giữa nhà nước và cơ sở ĐH, tự chủ cao
đồng nghĩa với mức độ can thiệp của nhà nước vào các công việc của cơ sở ĐH thấp. Điều cần lưu ý về vấn đề tự
chủ là “quyền lợi” do đó phải đi đôi với “nghĩa vụ” và QTĐH sao cho đạt được các mục tiêu của nhà trường một
cách có hiệu quả, minh bạch và đặc biệt là “trách nhiệm xã hội”. Đó là trách nhiệm đối với , phụ huynh, thầy cô
giáo, người sử dụng, cộng đồng, nhà nước,v.v thường được gọi là “những người có lợi ích liên quan”
Bản chất của quản trị; Quản trị đại học ; Các hoạt động quản trị đại học
1.3.
1.3.1.
Nguyên thủy của vấn đề tham gia vào thể chế trong trường ĐH xuất hiện ở Châu Âu vào thế kỷ XI, XII
khi các giáo sư và họp nhau lại tại Bologna hay Paris để thành lập universitas magistrorum et scolarum. Tổ chức
trường ĐH lúc này được hiểu là “cộng đồng thầy giáo và học trò” hay một thể chế thống nhất của thầy và trò.
Trong thời điểm bây giờ, các cộng đồng trên đã tạo ra một dạng thể chế học thuật mà sau này gọi là ĐH
(universitas). Universitas ở thế kỷ XII chỉ được coi là “một tập thể” hay “một tổ chức” của các thầy và trò (nó
cũng giống như các tập thể của các thợ hớt tóc, thợ mộc, v.v…). Nhưng có một khác biệt ở đây là mục đích của
cộng đồng thầy và trò là nghiên cứu khoa học và có nhiệm vụ bảo vệ các lợi ích liên quan. Đây có thể coi là giai
đoạn phôi thai của vấn đề tham gia vào thể chế trường ĐH.
[9]
Trong khi sự tham gia của vào việc ra quyết định trong các trường ĐH là vấn đề quan trọng và tồn tại
trong các cuộc tranh luận học thuật vào cuối những năm 1960 và 1970 từ vài thế kỷ trước trong các trường ĐH
dân chủ. Thì gần đây, các cuộc tranh luận về nghệ thuật quản trị hiện đại đã nhận định rằng hầu như không có
được các tính năng của nhà quản trị thực thụ, trừ khi xem xét họ là các khách hàng. Tuy nhiên, sự sụp đổ của các
trường ĐH đại diện cho một nền dân chủ thông qua các bài viết 1990 về cải cách giáo dục ĐH và sự gia tăng của
nghệ thuật quản trị hiện đại “managerialism” không hàm ý rằng nhân viên trong trường ĐH và không còn giữ vai
trò chính thức trong việc ra quyết định.
[18]
Gần đây, một cuộc khảo sát xuyên quốc gia về vấn đề tham gia trong quản trị các trường ĐH được thực
hiện bởi Hội đồng châu Âu vào năm 2002 cho thấy rằng các quy định pháp lý cho sự tham gia chính thức của
trong quản trị giáo dục ĐH công cấp quốc gia ở châu Âu vẫn còn rất phổ biến (Persson 2004: 41)
[23]
. Cuộc khảo
sát cũng cho thấy rằng ảnh hưởng của sinh viên trong việc ra quyết định được xem là đáng kể.
Một minh chứng nữa cho việc tiếp tục, mở rộng sự tham gia của học sinh trong quản trị các trường ĐH
đó là để có sự thống nhất về vai trò của sinh viên trong trường ĐH và nhằm đề xuất các giải pháp chung, từ ngày
.
1.3.2.2. Khái quát về mô hình quản trị chia sẻ và vai trò, mức độ tham gia của các bên liên quan
trong mô hình quản trị chia sẻ
Mô hình quản trị chia sẻ
Thế nào là quản trị chia sẻ và các thành phần có liên quan trong quản trị chia sẻ gồm những ai? Theo
Kater, S., & Levin, J. S. (2004)
[16]
, thuật ngữ " quản trị chia sẻ" bắt đầu xuất hiện trong các tài liệu theo sau
"Tuyên bố về thể chế quản trị trong Trường ĐH và CĐ" của hiệp hội giáo sư ĐH Hoa Kỳ được thông qua vào
năm 1966 (AAUP, 1966). Quản trị chia sẻ ở đây được hiểu là “bao gồm cả ý tưởng và thực tế hoạt động liên quan
đến cách thức ra quyết định chính sách được thực hiện trong các trường ĐH và CĐ" (Hines, 2000)
[16]
Các bên liên quan trong mô hình quản trị chia sẻ
“Các bên có liên quan” trong quản trị chia sẻ đã được định nghĩa trong cuốn sách quản lý chiến lược của
R. Edward Freeman xuất bản năm 1984. Sau đó, đồng tác giả Amaral, A., & Magalhaes, A.
[10]
đã sử dụng một định
nghĩa tương tự với hàm ý rộng hơn đó là: Các bên liên quan (stakeholders) là một người hoặc thực thể có lợi ích
chính đáng trong GD, và như vậy họ đều nhận được quyền can thiệp vào các vấn đề của tổ chức GD. Đồng tác giả
trên đã đưa ra ví dụ cụ thể về các bên liên quan trong GDĐH bao gồm; Các trường ĐH, các học giả, sinh viên, phụ
huynh, người sử dụng lao động, Nhà nước, các tổ chức quản lý GDĐH, v.v…
Các mức độ tham gia của sinh viên trong mô hình quản trị chia sẻ
Trong nghiên cứu, tác giả đề xuất vận dụng các mức độ tham gia theo khuyến nghị được nêu ra tại Hội
thảo Oslo, Na Uy diễn ra từ ngày 12-14/6/2003 gồm 3 mức độ; 1/ Tham vấn (advising), 2/ Giám sát (monitoring), 3/
Ra quyết đinh (decision making) .Theo tác giả, đây là cơ sở để đo lường mức độ tham gia, đóng góp của sinh viên
vào việc thực hiện các chức năng QTĐH nhằm hướng đến QTĐH hiệu quả, đạt được các mục tiêu đã đề ra của tổ
8
chức. Đồng thời, để làm cơ sở cho việc đưa ra các chỉ báo nhằm xây dựng bảng hỏi đảm bảo tính xác thực và tin
Tổng thể là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp Trường- Khoa- Bộ môn đang công tác và toàn thể sinh viên năm
thứ 2 trở đi hệ cao đẳng chính quy đang học tập tại trường CĐSP Gia Lai.
2.3.2.
Để đảm bảo phiếu khảo sát đo lường định lượng được xây dựng dựa trên các chỉ báo chính xác và
đầy đủ, đảm bảo tính khách quan khoa học, đồng thời làm cơ sở đối sánh với kết quả khảo xác định lượng.
Nghiên cứu được tiến hành và chọn mẫu mục tiêu để thực hiện phỏng vấn thăm dò đối với 20 ĐBSV là cán
9
sự lớp của các lớp sinh viên từ năm 2 trở đi, và 5 người là các cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong nhà
trường.
Sau khi thu thập tương đối đầy đủ về cơ sở các chỉ báo định lượng qua nghiên cứu tài liệu và
phỏng vấn thăm dò, nghiên cứu được tiếp tục và tiến hành xây dựng, hoàn thiện phiếu gợi ý phỏng vấn sâu
và tiến hành chọn mẫu mục tiêu để phỏng vấn sâu nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong nhà trường.
Xác định tổng số cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong nhà trường (từ cấp trường, cấp khoa đến cấp bộ môn)
có 24 người gồm có Hiệu Trưởng, Phó hiệu trưởng, Bí thư và Phó Bí thư Đảng ủy, Trưởng các Phòng -
Khoa- Ban- Tổ trực thuộc, Bí thư Đoàn thanh nhiên, Ban chấp hành Công đoàn nhà trường, Ban chấp hành
Hội sinh viên, Ban chấp hành Hội liên hiệp Thanh niên. Chọn mẫu chủ đích để thực hiện phỏng vấn sâu
đối với 12 người là các cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong nhà trường.
Xác định tổng số sinh viên năm 2 và năm 3 hệ cao đẳng chính quy đang học tập tại trường CĐSP Gia
Lai là 900 SV. Trong đó khóa 2011- 2014 có 469 SV (52%), khóa 2010- 2013 có 431 SV ( 48%).
Sử dụng công cụ tính cỡ mẫu Sample Size Calculator
[44]
trực tuyến với tổng thể là 900 SV, sai số chọn
mẫu là 5%, độ tin cậy là 95%. Ta có cỡ mẫu là 269 SV. Nhưng xét lại đây là nghiên cứu thu thập dữ liệu tại một thời
điểm hiện tại được gọi là cross-sectional study (nghiên cứu tiêu biểu một thời điểm), cùng với điều kiện nghiên cứu
được thực hiện tại trường CĐSP Gia Lai là nơi tác giả đang công tác, đối tượng thực hiện khảo sát là sinh viên đang
học tập tại trường. Để tăng độ tin cậy của mẫu được chọn, trong nghiên cứu thực hiện tăng 40% cỡ mẫu tính được
ban đầu theo công thức 269*40% và có cỡ mẫu chính thức được chọn bằng 377 SV.
Không bao giờ
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Rất thường xuyên
Hoàn toàn không
quan trọng
Không quan trọng
Ít quan trọng
Quan trọng
Rất quan trọng
:
- Gồm 6 mục hỏi đo lường mức độ tham gia theo thang đo Linkert 5 mức độ:
Không bao giờ, Hiếm khi, Thỉnh thoảng, Thường xuyên, Rất thường xuyên
- Gồm 6 mục hỏi đo lường mức độ nhận thức theo thang đo Linkert 5 mức độ: Hoàn
toàn không quan trọng, Không quan trọng, Ít quan trọng, Quan trọng, Rất quan trọng
:
- Gồm 5 mục hỏi đo lường mức độ tham gia theo thang đo Linkert 5 mức độ:
Không bao giờ, Hiếm khi, Thỉnh thoảng, Thường xuyên, Rất thường xuyên
- Gồm 5 mục hỏi đo lường mức độ nhận thức theo thang đo Linkert 5 mức độ: Hoàn
toàn không quan trọng, Không quan trọng, Ít quan trọng, Quan trọng, Rất quan trọng
:
hoạt động quản trị.
sinh viên
Sử dụng phương pháp kiểm định hệ sốKMO và kiểmđịnh Bartlett để đo lường sự tương thích của
mẫu khảo sát. Kết quả xử lý có hệ số KMO là 0,60 (> 0,5) và sig = 0,000 < 0,05 nên giả thuyết H
o
trong phân tích
này “Độ tương quan giữa các biến quan sát bằng 0 trong tổng thể” sẽ bị bác bỏ, điều này có nghĩa là các biến
quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể và phân tích nhân tố EFA là thích hợp
[1]
.
Sử dụng Varimax procedure (xoay nguyên góc các nhân tố để tối thiểu hoá số lượng biến có hệ số lớn
tại cùng một nhân tố, vì vậy sẽ tăng cường khả năng giải thích các nhân tố) có kết quả ở Bảng 5.3 (Phục lục 5,
trang 128) với kết quả là các biến quan sát có trọng số nhân tố đều > 0,5
[1]
.
Vậy có 6 biến quan sát trong nhóm biến đo lường mức độ tham gia của sinh viên trong hoạt động quản
trị hệ thống tổ chức không bị loại bỏ và thang đo được sử dụng trong nghiên cứu là phù hợp.
Kết quả phân tích nhân tố nhóm biến đánh giá mức độ tham gia vào quản trị nguồn nhân lực
Sử dụng phương pháp kiểm định hệ số KMO và kiểm định Bartlett để đo lường sự tương thích của
mẫu khảo sát. Kết quả xử lý có hệ số KMO là 0,517 (> 0,5) và sig = 0,000 < 0,05 nên giả thuyết Ho trong phân
tích này “Độ tương quan giữa các biến quan sát bằng 0 trong tổng thể” sẽ bị bác bỏ, điều này có nghĩa là các
12
biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể và phân tích nhân tố EFA là thích hợp
[1]
.
Sử dụng Varimax procedure (xoay nguyên góc các nhân tố để tối thiểu hoá số lượng biến có hệ số lớn
tại cùng một nhân tố, vì vậy sẽ tăng cường khả năng giải thích các nhân tố) có kết quả ở bảng 5.6 (Phục lục 5,
trang 130) với kết quả là các biến quan sát có trọng số nhân tố đều > 0,5
Sử dụng Varimax procedure (xoay nguyên góc các nhân tố để tối thiểu hoá số lượng biến có hệ số lớn
tại cùng một nhân tố, vì vậy sẽ tăng cường khả năng giải thích các nhân tố) có kết quả ở bảng 5.12 (Phục lục 5,
trang 132) với kết quả là các biến quan sát có trọng số nhân tố đều > 0,5
[1]
.
Vậy có 3 biến quan sát trong nhóm biến đo lường mức độ tham gia của sinh viên trong quản trị hoạt
động khoa học và công nghệ không bị loại bỏ và thang đo được sử dụng trong nghiên cứu là phù hợp.
2.5.3.2. tin Cronbach Alpha:
Sử dụng Cronbach Alpha để kiểm tra độ tin cậy của các mục hỏi trong bảng hỏi. Thang đo được chấp
nhận khi hệ số CronbachAlpha đạt từ 0,6 trở lên.
[1]
Sau khi phân tích dữ liệu có kết quả phân tích Cronbach
Alpha ở bảng 5.13
(Phụ lục 5, trang 133)
với
hệ
số Cronbach alpha ở tất cả các mục hỏi đều bằng 0,67 (0,67 > 0,6). Vậy kết luận: Kết quả phân tích với hệ số
Cronbach Alpha là đủ lớn, thang đo có độ tin cậy và có thể chấp nhận sử dụng cho các nghiên cứu khảo sát,
phân tích tiếp theo.
2.6.
13
Thực hiện phỏng vấn thăm dò đối với 5 người là các cán bộ lãnh đạo, quản lý đang công tác và
20 ĐBSV là cán sự lớp sinh viên năm thứ 2 trở đi hệ cao đẳng chính quy đang học tại trường để làm cơ sở xây
dựng bảng câu hỏi khảo sát định lượng và phiếu gợi ý phỏng vấn sâu nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong
nhà trường.
Xây dựng bảng hỏi Likert 5 mức độ
[9]
để thu thập thông tin định lượng về các vấn đề cần đánh
giới thiệu về tổng thể, kích thước mẫu, phương pháp chọn mẫu và quy trình thu thập, xử lý dữ liệu nhằm giải
quyết tốt các vấn đề nghiên cứu đặt ra.
Cơ sở lý thuyết
Các chỉ báo
Bảng hỏi thô
và gợi ý PV
Nghiên cứu sơ bộ:
Phát bảng hỏi thăm dò và
pnỏng vấn sơ bộ
Điều chỉnh
Bảng hỏi thử nghiệm
Điều tra
thử nghiệm
Hoàn thiện bảng hỏi
và gợi ý PV sâu
Khảo sát chính thức
Kiểm định thang đo
Xử lý và phân tích
kết quả
14
3.1. -QL
Qua phỏng vấn sâu, giúp nhà nghiên cứu nắm bắt được quan điểm của các cán bộ lãnh đạo, quản lý về
vai trò của sinh viên trong QTĐH, các khó khăn và trở ngại sinh viên có thể gặp phải khi tham gia vào QTĐH
trong trường. Bên cạnh đó, phỏng vấn sâu còn giúp tìm hiểu, khám phá sâu các chiều cạnh khác nhau về vấn
đề vai trò của sinh viên trong ĐH. Kết quả phân tích dữ liệu từ băng ghi âm phỏng vấn sâu nhóm cán bộ lãnh đạo,
tham gia vào công tác quản trị trong nhà trường. Trong số những khó khăn được nêu ra, có không ít các khó khăn
do các yếu tố khách quan, nhưng cũng có một số khó khăn xuất phát từ chính bản thân người học. Kết quả trả lời
xoay quanh một số các khó khăn về khách quan như: Chưa có những qui định cụ thể về vai trò, chức năng và
quyền lợi của sinh viên trong các đơn vị quản trị từ cấp bộ môn cho đến cấp trường; Chưa có những chế độ, chính
sách hợp lý về lâu dài cũng như ngắn hạn để khuyến khích sự tham của sinh viên trong các hoạt động QTĐH;
Không có nhiều cơ hội để sinh viên có thể chia sẻ trách nhiệm trong các hoạt động quản trị trong nhà trường; sinh
viên hầu như chưa nhận được sự tin tưởng của các bên liên quan như cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ nhân viên,
giảng viên, v.v…Bên cạnh đó, các khó khăn xuất phát từ phía người học cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả
của việc sinh viên tham gia vào QTĐH như: sinh viên còn hạn chế về năng lực nhận thức, về kiến thức quản trị;
sinh viên còn hạn chế về kinh nghiệm quản lý, quản trị; sinh viên còn thiếu tự tin; sinh viên còn hạn chế về tầm
ảnh hưởng đến việc ra các quyết định liên quan đến sinh viên.v.v…
Cuối cùng, khi được phỏng vấn làm thế nào để có thể tạo cơ hôi cho sinh viên tham gia nhiều hơn vào
công tác quản trị trong nhà trường, đa số người được phỏng vấn đều cho rằng cần phải có định hướng lâu dài và
các kế hoạch cụ thể về vấn đề sinh viên tham gia công tác quả lý nhà trường. Cần có các giải pháp thiết thực, gắn
liền những hạn chế đã nêu ra để nhằm đề ra các giải pháp khắc phục những khó khăn chủ quan và khách quan ảnh
hưởng đến việc sinh viên tham gia vào công việc đóng góp xây dựng và phát triển nhà trường.
3.2. trong
3.2.1.
3.2.1.1. n trong
Qua biểu đồ ở Hình 3.1 & Bảng 4.1 (Phụ lục 4, trang 113) thấy rằng trong thực tế công tác quản trị tại
trường CĐSP Gia Lai, sinh viên có tham gia trong hầu hết các hoạt động quản trị thống tổ chức. Nhưng nhìn chung,
mức độ tham gia của sinh viên không thường xuyên và do đó sự đóng góp là không đáng kể trong hầu hết các hoạt
động quản trị trên.
Trong sáu hoạt động của quản trị hệ thống tổ chức, mức độ tham gia và đóng góp của sinh viên là ở mức rất
thấp, trong một số các hoạt động sinh viên hầu như không bao giờ được tham gia. Tuy nhiên, trong hoạt động Tham
vấn về các hoạt động trong các tổ chức: Đảng, Đoàn TN, Hội ,v.v… trong nhà trường có liên quan đến sinh viên,
sinh viên thì mức độ tham gia của sinh viên là cao hơn và thường xuyên hơn so với các hoạt động còn lại.
3.2.1.2. sinh viên
17
quan trọng của bản thân trong các hoạt động quản trị nguồn nhân lực đa số đều cho rằng sinh viên cần có vai trò
quan trọng đến rất quan trọng trong quản trị nguồn nhân lực (mean= 3,81).
Ngoài ra, cũng giống như hoạt động quản trị hệ thống tổ chức, mức độ tham gia của sinh viên trong
quản trị nguồn nhân lực là không thường xuyên, vai trò của sinh viên là không đáng kể. Tuy nhiên, kết quả khảo
sát có hơn 50% cho rằng họ cần có vai trò quan trọng trong từng hoạt động của quản trị nguồn nhân lực. Trong
một số hoạt động, có đến hơn 70% được hỏi đã cho rằng họ có vai trò quan trọng và rất quan trọng như các hoạt
động; Hoạt động Tham vấn về việc đánh giá cán bộ nhân viên, giảng viên trong nhà trường, hay hoạt động Tham
vấn về việc ra các quyết định khen thưởng - kỷ luật sinh viên.
3.2.3.
3.2.3.1.
Qua biểu đồ ở Hình 3.7 & Bảng 4.8 ( Phụ lục 4, trang 120) cho thấy rằng trong thực tế quản trị tại
trường CĐSP Gia Lai, sinh viên có tham gia vào hầu hết các hoạt động quản trị đào tạo. Tuy nhiên, mức độ tham
gia của sinh viên là rất thấp và không đáng kể trong hầu hết các hoạt động quản trị đào tạo.
Như vậy, trong bảy hoạt động quản trị hoạt động đào tạo, nhìn chung mức độ tham gia và đóng góp của
sinh viên vẫn ở mức rất thấp và hiếm khi sinh viên mới được tham gia vào các hoạt động quản trị đào tạo. Trong
một số các hoạt động, có đến trên 60% cho rằng họ không bao giờ tham gia như; Hoạt động Tham gia kiểm tra,
giám sát việc tổ chức, thực hiện Quy chế đào tạo và các quy định của trường, hay hoạt động Tham gia kiểm tra,
giám sát việc tổ chức, thực hiện các hoạt động giảng dạy của Giảng viên.
3.2.3.2. Nsinh viên trong
Trong thực tế tại trường CĐSP Gia Lai, sinh viên có khi không bao giờ tham gia vào một số các hoạt động
quản trị hoạt động đào tạo. Tuy nhiên, qua biểu đồ ở Hình 3.8 & Bảng 4.9 ( Phụ lục 4, trang 121) cho ta thấy đa số
sinh viên đều cho rằng trong hầu hết các hoạt động quản trị đào tạo họ đều cần có vai trò quan trọng.
Qua kết quả khảo sát, trong bảy hoạt động của quản trị hoạt động đào tạo, nhìn chung nhận thức của sinh
viên về vai trò của bản thân trong hầu hết các hoạt động quản trị là ở mức độ quan trọng và rất quan trọng. Trong
các hoạt động quản trị đào tạo, thường có trên 70% trong số 360 được hỏi đã cho rằng họ có vai trò quan trọng
trong từng hoạt động quản trị khác nhau. Chỉ có một số rất ít sinh viên khi được hỏi cho rằng vai trò của bản thân
họ là không quan trọng hoặc ít quan trọng trong một số các hoạt động quản trị đào tạo.
3.2.3.3. Sự khác nhau giữa mức độ tham gia của sinh viên trong thực tế và nhận thức của sinh viên về
(76,9 %) cho rằng họ cần có vai trò quan trọng, rất quan trọng trong hoạt động quản trị này.
19
3.2.4.3. và
Hình 3.12. Biểu đồ so sánh các giá trị trung bình mức độ tham gia trong thực tế và các giá trị trung bình mức độ
nhận thức của sinh viên về vai trò của trong quản trị nghiên cứu khoa học và công nghệ
Qua kết quả khảo sát, cũng giống như các hoạt động quản trị hệ thống tổ chức, quản trị nguồn nhân lực
và quản trị hoạt động đào tạo đó là trong thực tế, mức độ tham gia của sinh viên trong quản trị hoạt động nghiên
cứu khoa học và công nghệ là ở mức độ rất thấp, không đáng kể. Tuy nhiên, qua kết quả hình 3.12 và Bảng 4.13
(Phụ lục 4, trang 125), cho thấy đa số sinh viên đều cho rằng họ cần có một vai trò quan trọng trong từng hoạt
động của quản trị hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ. Ví dụ: Trong hoạt động Tham gia giám sát việc
tổ chức thực hiện các kế hoạch hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, mặc dù thực tế sinh viên rất ít
được tham gia (mean= 1,35), nhưng khi được hỏi nhận thức về vai trò của bản thân khi tham gia vào quản trị
hoạt động này thì có đến hơn 70% cho rằng họ có vai trò quan trọng trong hoạt động quản trị này (mean= 3,92).
3.2.5. sinh viên
Hình 3.13. Biểu đồ so sánh các giá trị trung bình mức độ tham gia trong thực tế với giá trị trung bình mức độ
nhận thức của sinh viên về vai trò của sinh viên trong hoạt động QTĐH tại trường CĐSP Gia Lai