ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI THỊTUYẾT NHUNG
ĐÁNH GIÁ CÁC DỊCH VỤHỖTRỢVỚI NHÓM
PHỤNỮBỊBẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI TRUNG TÂM
CUNG CẤP DỊCH VỤCÔNG TÁC XÃ HỘI HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CÔNG
TÁC XÃHỘI
Mã số: 60 90 01 01
Người hướng dẫn khoa học: TS.Nguyễn ThịNhư Trang
Hà Nội –2016
MỤC LỤC
MỞĐẦU......................................................................................................................
........5
1. Tính cấp thiết của đềtài............................................................................5
2. Tình hình nghiên cứu đềtài......................................................................6
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận
văn..................................................................14
4. Mục đích và nhiệm vụnghiên cứu..........................................................15
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...........................................................15
6. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................16
7. Cơ cấu của luận văn................................................................................17
NỘI
DUNG.......................................................................................................................1
8
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀLÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC XÃ HỘI
2.2. Đặcđiểm vấn đềbạo lực gia đình với nhóm phụnữtại Trung tâm cung cấp dịch
vụcông tác xã hội...........................Error! Bookmark not defined.
2.2.1. Các hình thức Bạo lực gia đìnhError! Bookmark not defined.
2.2.2. Thời gian bịbạo lực gia đìnhError! Bookmark not defined.
2.2.3. Hậu quảcủa Bạo lực gia đình với phụnữtại Trung tâm Cung cấpdịch
vụCông tác xã hội Hà NộiError! Bookmark not defined.
2.3. Thực trạng các dịch vụhỗtrợnhóm phụnữbịbạo lực gia đình được tiếp nhận
tại Trung tâm cung cấp dịch vụcông tác xã hội Thành phốHà Nội.Error!Bookmark
not defined.
2.3.1. Hoạt động tư vấnError! Bookmark not defined.
2.3.2.Hoạt động hỗtrợkết nối nguồn lựcError!
Bookmark
not defined.
2.3.3.Hoạt động truyền thông nâng cao nhận thứcError! Bookmark not defined.
2.3.4.Hoạt động hỗtrợhồi giaError! Bookmark not defined.
2.4. Đánh giá vềhiệu quảcác dịch vụhỗtrợvới nhóm phụnữbịBLGĐ tại Trung tâm
cung cấp dịch vụcông tác xã hội TP Hà NộiError! Bookmark not defined.
2.4.1.Đánh giá chung vềTrung tâm CCDVCTXH trong hiệu quảcác dịch vụtrợgiúp
nhóm phụnữbịBLGĐ.Error! Bookmark not defined.
2.4.2.Đánh giá vềhiệu quảcác dịch vụhỗtrợvới nhóm phụnữbịBLGĐ tại Trung tâm
cung cấp dịch vụcông tác xã hội TP Hà Nội.Error! Bookmark not defined.Tiểu kết
chương 2.........................................................Error! Bookmark not defined.
Chương 3. CÁC YẾU TỐTÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢCỦA CÁC DỊCH
VỤHỖTRỢPHỤNỮBỊBẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI TRUNG TÂM CUNG CẤP
CÁC DỊCH VỤCÔNG TÁC XÃ HỘI...........................Error! Bookmark not
luật mang số 73/2006/QH11 đượcQuốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ
nghĩa Việt Namkhoá XII thông qua vào ngày29 tháng 11năm2006và có hiệu
lực thi hành từ ngày01 tháng 7năm2007. Luật này quy định về bình đẳng
giới ởViệt Nam. Đó là hành lang pháp lý để đảm bảo công bằng xã
hội.Trong các năm từ 2011 –2015 (ở nước ta) có 157.859 vụ bạo lực gia
đình, trong đó nạn nhân là nữ chiếm74,24%. Trong số 492.520 vụ ly hôn đã
giải quyết thì nguyên nhân từ bạo lực gia đình chiếm 83,78%. Mỗi năm có
hơn 8.000 vụ ly hôn mà nguyên nhân từ bạo lực gia đình. Đây là thông tin
được đại biểu Điểu Huỳnh Sang (Bình Phước), phát biểu tại Quốc hội sáng
10/11/2016. Kết quả nhiều cuộc khảo sát và báo cáo địa phương cho thấy,
hiện nay bạo lực gia đình đã gây ra những hậu quả cho phụ nữ và xã hội nói
chung. Nạn nhân của BLGĐ rất cần sự giúp đỡ của xã hội và cộng đồng.
Hiện nay trên toàn quốc đã có nhiều mô hình can thiệp trợ giúp phụ nữ bị
BLGĐ. Ví dụ: “mô hình trợ giúp pháp lý”, “mô hình nhóm nhỏ”, “mô hình
nhà tạm lánh”...
Các mô hình trên đã thực hiện nhiều dịch vụ khác nhau nhằm hỗ trợ tốt nhất
cho phụ nữ bị BLGĐ, được an toàn,được động viên, an ủi, sớm được trở lại với
đời sống bình thường với một nhận thức mới, vị thế mới.Trung tâm Cung cấp
dịch vụ Công tác xã hội Hà Nội là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Lao
động
-Thương binh và Xã hội. Là đơn vị cung cấp các dịch vụ công tác xã hội cho các
đối tượng xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội theo quy định của pháp
luật.Tuy mới thành lập được gần 3 năm nhưng đối tượng gặp vấn đề bị bạo lực gia
đình tớiTrung tâm ngày càng tăng, đặc biệt là bạo lực phụ nữ. Thực tếcho thấy bạo
lực gia đình cũng đang là một vấn nạn của toàn xã hội mà bản thân người phụ nữ
trong gia đình thường giấu kín, e ngại khi đề cập, chia sẻ hoặc tìm kiếm sự hỗ trợ
từ các thành viên trong gia đình hay cơ quan chức năng.Đềtài tập trung đi sâu tìm
say rượu .... Dobash cũng chỉra rằng phụnữbịbạo lực thường có xu hướng quay lại
với người chồng bạo lực vì bịphụthuộc vềkinh tếvà lo lắng vềsựthiếu vắng vai trò
của người bốđối với con cái của họ. Chính từnhững lo lắng đó nên khi xảy ra bạo
lực, những người phụnữthường không muốn đi trình báo cảnh sát hoặc cơ quan
chức năng. Do vậy, họthường không nhận được sựhỗtrợtừgia đình, cộng đồng hay
các dịch vụphúc lợi.Năm 2004, cuốn sách “Healing the trauma of domestic
violence” (Hàn gắn những khủng hoảngsang chấn của BLGĐ) của
Esward.S.Kubany xuất bản tại Canada đã đềcập đến các kĩ thuật giúp những
phụnữlà những nạn nhân bịBLGĐ có thểvượt qua được những khủng hoảng, sang
chấn do bạo lực đem lại.Năm 2005, Tổchức Y tếthếgiới (WHO) phối hợp với
Trường Dược nhiệt đới của Mỹđã thực hiện một nghiên cứu đa quốc gia với
chủđề“Women’s Health and Domestic Violence against Women”(Sức khỏe
phụnữvà BLGĐ chống lại phụnữ). Nghiên cứu đã tiếp cận với phụnữtrên 10
quốc gia bao gồm Bawngladet, Brazin, Ethiopia, Nhật, Peru, Namibia, Samoa,
Serbia và Montenegro, Thái Lan và nước Cộng hòa Tanzania cho thấy có 15%
đến 71%phụnữphải chịu đựng một hình thức bạo lực nào đó vềthểxác và tình
dục ngay trong gia đình họvà đây là vấn đềcó tính chất toàn cầu hiện đang xảy ra
ởcảcác nước phát triển lẫn các nước đang phát triển. Chi phí kinh tếcũng rất đáng
quan tâm –một báo cáo năm 2003 của Trung tâm kiểm soát và phòng bệnh Mỹước
tính rằng chi phí cho những vụbạo lực do người quen biết gây ra chỉtính riêng
ởMỹcũng đã lên đến 5,8 tỷđô la mỗi năm; 4,1 tỷcho các dịch vụy tếvà chăm sóc
sức khoẻtrực tiếp và 1,8 tỷcho những thiệt hại vềkhảnăng lao động.Với cách tiếp
cận vào thủphạm gây bạo lực, cuốn sách “Stop domesticviolence” (Chấm dứt bạo
lực) của David.B Waxler xuất bản tại Mỹnăm 2006 đã đềxuất cách thức trịliệu
nhóm dành cho nam giới là thủphạm gây BLGĐ; trong đó, tập trung vào hình thức
trị
liệu nhận thức hành vi, xây dựng các kĩ năng, cách thức kiểm soát cảm xúc bản
thân với nguyên tắc lấy thân chủlàm trọng tâm.Báo cáo về“Nghiên cứu sâu vềbạo
thấp ... Tác giảcũng đã đưa ra một sốkhuyến nghịđểgiải quyết tình trạng BLGĐ.
Năm 1994, tác giảLê ThịQuýtiếp tục có bài viết “Bạo lực gia đình ởViệt
Nam”đăng trên tạp chí Khoa học và Phụnữ. Trong bài viết, tác giảđã chỉra năm
nguyên nhân chính của nạn BLGĐ là: nguyên nhân kinh tế, nguyên nhân nhận
thức, nguyên nhân văn hóa –xã hội, nguyên nhân sức khỏe, nguyên nhân từphía
những người phụnữ, và một nguyên nhân sâu xa nhất là sựbất bình đẳng trong
quan hệgiới.Công trình nghiên cứu “Bạo lực trên cơ sởgiới”(1999) của TS Vũ
Mạnh Lợi, Vũ Tuấn Huy, Nguyễn Hữu Minh–thuộc Viện nghiên cứu Gia đình và
Giới tiến hành ởba thành phố: Hà Nội, Huế, TP HCM. Trong nghiên cứu các tác
giảđã đi sâu tìm hiểu vềthái độcủa cộng đồng và các thiết chếxã hội vềbạo lực
trên cơ sởgiới, tìm hiểu phản ứng của các cá nhân, luật pháp và các thiết chếđối
với nạn BLGĐ. Trong nghiên cứu các tác giảcũng cho thấy tình trạng bạo lực gia
đình đang có chiều hướng gia tăng tại ba thành phốtrong địa bàn nghiên cứu, đặc
biệt là trong những gia đình mà người phụnữđang thực hiện và khẳng định vai trò
kinh tếhộ. Tuy nhiên nghiên cứu này vẫn chưa đưa ra được hướng giải quyết trực
tiếp giúp chịem phụnữbịbạo lực gia đình nâng cao được năng lực của bản thân,
từđó họcó thểtựgiúp bản thân họvươn lên, thoát khỏi hoàn cảnh.Năm 2000, tác
giảLê ThịQuýtiếp tục có cuốn sách “Domestic Violence in Viet Nam”( Bạo lực
gia đình ởViệt Nam) do tổchức Asia Pacific Forum on Women, Law and
Development (Diễn đàn Châu Á Thái Bình Dương vềPhụnữ, Luật Pháp và Phát
triển –APWLD) xuất bản. Trong cuốn sách, tácgiảđã trình bày kết quảmột cuộc
khảo sát xã hội học vềBLGĐ tại ngoại thành Hà Nội. Bằng những dẫn chứng
cụthểtác giảđã làm rõ tình hình BLGĐ ởđịa bàn nghiên cứu bằng việc phân chia
rõ hai hình thức bạo lực: bạo lực nhìn thấy được và bạo lực không nhìn thấy được.
Tác giảcũng chỉra những nguyên nhân của tình trạng trên là đói nghèo, căng thẳng
vì kiếm sống, nguyên nhân văn
hóa –xã hội, phong tục tập quán, sựkhủng hoảng của các mối quan hệtrong gia
việc phòng chống BLGĐ, khuyến khích các sáng kiến của người dân...Nhóm tác
giảNguyễn Hữu Minh, Lê Ngọc Lân, Nguyễn ThịMai Hoa, Trần ThịCẩm
Nhungcùng nghiên cứu “Bạo lực của chồng đối với vợởViệt Nam trong những
năm gần đây”(2006) đã đưa ra nhận định: chủthểgây ra BLGĐ là người chồng,
người bạn đời hoặc chồng cũ. Nghiên cứu cũng chỉra những khác nhau trong hình
thức bạo lực gia đình giữa hai khu vực là thành thịvà nông thôn. Theo đó, ởnông
thôn thường diễn ra hình thức bạo lực vềthểchất, còn ởthành thịthường là hình thức
bạo lực vềtinh thần và tình dục. Qua nghiên cứu, các tác giảcũng đưa ra những
khuyến nghịnhằm giải quyết vấn đềBLGĐ như: cần nâng cao nhận thức của các
cấp lãnh đạo vềBLGĐ đối với phụnữ, đồng thời cần tiến hành nghiên cứu toàn diện
vềbạo lực trong gia đình nhằm tìm hiểu sâu nguyên nhân, hậu quảcủa vấn đềđểcó
những can thiệp kịp thời và hợp lý.Điều tra gia đình Việt Nam–năm 2006, nghiên
cứu không chỉtập trung vào bạo lực gia đình với phụnữmà còn những mục tiêu
rộng và dàn trải hơn là tập trung vào mối quan hệgia đình, giá trị, chuẩn mực gia
đình, kinh tếphúc lợi gia đình. Điều tra gồm cảnam và nữ. Những câu hỏi vềbạo
lực được đặt ra cho cảnam và nữtrong độtuổi từ18 –60, những người ngoài độtuổi
này trong nhà cũng được phỏng vấn. Phỏng vấn ngay trực tiếp tại nhà của
họkhông có tính đảm bảo riêng tư và bảo mật thông tin. Bạo lực được xác định
bởi 3 câu hỏi với nội dung: một hành vi bạo lực thểxác (đánh đập), một hành vi
bạo lực tình dục (quan hệtình dục ngoài ý muốn), một hành vi bạo lực tinh
thần (chửi bới). Thêm một câu hỏi về“dỗi hờn” (giận nhưng không nóira) đây là
câu hỏi không liên quan đến xác định bạo lực.Năm 2007, với tác phẩm “Bạo lực
gia đình –một sựsai lệch giá trị”của hai tác giảtác giảLê ThịQuý và Đặng Vũ Cảnh
Linhđã một lần nữa cho thấy được tính cấp thiết của những đềtài nghiên cứu
vềvấn đềbạo lực gia đình. Bên cạnh những lý luận chung vềBLGĐ, hai nhà
nghiên cứu còn đưa ra những nhận xét, mô tả, phân tích rất chi
tiết một sốnghiên cứu can thiệp trong thực tiễn vềBLGĐ và một sốdựán phòng
chống BLGĐ ởViệt Nam tại các địabàn: Hà Nội, Phú Thọ, Thái Bình, Huế.
Nhiều mô hình phòng chống BLGĐ đã được đưa ra phân tích như mô hình truyền
thông; mô hình can thiệp và cứu giúp nạn nhân; mô hình tư vấn, hỗtrợvềtâm lý
biến, những thuận lợi và hạn chếtrong công tác phòng chống BLGĐ trong những
năm vừa qua. Từđó, tác giảđã đưa ra những dấu hiệu nhận biết, các biện pháp
hỗtrợnạn nhân một cách tức thời cũng như vềlâu dài.Trong hội thảo vềviệc triển
khai thi hành Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng chống BLGĐ được tổchức tại
thành phốYên Bái, tác giảNguyễn Hữu Minhđã có bài tham luận: “Vai trò của các
tổchức trong phòng chống BLGĐ”.Tham luận đã chỉrõ vai trò, trách nhiệm của
các tổchức ởcác cấp trước những yêu cầu đặt ra của Luật phòng chống BLGĐ.
Đồng thời, tác giảcũng chỉra một sốvấn đềđặt ra từthực tiễn trong hoạt động phòng
ngừa và can thiệp BLGĐ, cầnchú ý tới quy trình can thiệp trong quá trình thực
hiện.Nghiên cứu quốc gia vềbạo lực gia đình với PhụnữởViệt Nam-năm 2010 do
Tổng cục thống kê thực hiện. Nghiên cứu bao gồm cấu phần định lượng (khảo sát
mẫu) và cấu phần định tính (phỏng vấnsâu và thảo luận nhóm tập trung).
Trong nghiên cứu tập trung vào chủđềbạo lực gia đình với phụnữ, chỉsửdụng điều
tra viên là phụnữ, chọn ngẫu nhiên một phụnữtrong hộgia đình và mời đến phỏng
vấn trực tiếp qua Bảng hỏi điều tra sửdụng các câu hỏicủa nghiên cứu đa quốc gia
của WHO vềsức khỏe phụnữvà bạo lực gia đình với phụnữcòn các thành viên
khác trong gia đình không được phỏng vấn và được biết vềchủđềcuộc khảo sát.
Câu hỏi được đưa ra bằng cách liệt kê một loạt các hành vi cá nhân mà phụnữtừng
phải hứng chịu: chỉsốbạo lực do người chồng gây ra được xác định ởnhững câu hỏi
về6 câu hỏi hành vi vềbạo lực thểxác và 4 hành vi bạo lực tình dục. Bạo lực tinh
thần và các hành vi kiểm soát cũng được thu thập sửdụng trong danh sách các hành
vi.Như vậy, có thểthấy theo dòng lịch sửvấn đềvềBLGĐ và Phòng chống BLGĐ đã
và đang thu hút được rất nhiều sựquan tâm nghiên cứu của các học giả. Song có lẽ,
cho đến nay, BLGĐ vẫn đang là một vấn đềnóng được xã hội quan tâm bởi những
biến đổi
ngày càng phức tạp của nó đang diễn ra trong thực tiễn đời sống hàng ngày. Còn
rất nhiều những công trình nghiên cứu với quy mô khác nhau vềvấn đềBLGĐ đã
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứuĐánh giá các dịch vụ hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia
đình hiện có tại Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP. Hà NộiTìm
hiểu các yếu tố tác động đếncác dịch vụ tại Trung tâm
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứuĐánh giá các dịch vụ hỗ trợvớinhómphụ nữ bị bạo
lực gia đình củaTrung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP.Hà Nộivề:
cách thức tổ chứcquản lý, ngân sách,sự phong phú của các dịch vụ? Có lạc
hậu không?Sự đáp ứng nhu cầu của xã hội? Các dịch vụ có đủ để đáp ứng
nhu cầuđối tượng...Tìm hiểu các yếu tố tác động đến hiệu quả các dịch dịch
vụ tại Trung tâm: nhân lực, cơ sở vật chất, ngân sách, cách thức quản lý chỉ
đạo, chính sách pháp lý có hiệu quả không.5. Đối tượng và phạm vi nghiên
cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứuNghiên cứu đánh giá các dịch vụ hỗ trợ đối
vớinhómphụ nữ bị bạo lực gia đình doTrung tâm cung cấp dịch vụ Công tác
xã hội TP Hà Nộitổ chức thực hiện.5.2.Phạm vi nghiên cứu-Phạm viđối
tượng: các dịch vụ hỗ trợnhóm phụ nữ bị bạo lực gia đìnhhiện do Trung tâm
cung cấp dịch vụ công tác xã hội Hà Nội thực hiện.-Phạm vi về khách thể:
+ Phụ nữbị bạo lựctại Trung tâm
+ Cán bộ làm việc trực tiếp với phụ nữ bị bạo lực củaTrung tâm+ Ngoài ra
còn có các thành viên của gia đình.-Phạm vi về không gian, thời gian: Từ
tháng 1/2016đến tháng 6/2016.
Tại Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP Hà Nội –Địa chỉ: Sổ 45 Bà
Triệu, P.Nguyễn Trãi, Q.Hà Đông, TP.Hà Nội.
6. Phương pháp nghiên cứu* Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệuNghiên cứu
sử dụng và phân tích nguồn thông tin của nhiều loại tài liệu:
-Tài liệu hướng dẫn tổchức và hoạt động của các cơ sởbảo trợxã hội
-Báo cáo thường xuyên và định kỳcủa Trung tâm cung cấp các dịch vụCông tác
xãhội TP. Hà Nội.-Dữliệu khảo sát tổchức và hoạt động của các cơ sởxã hội do
NỘI DUNGChương 1NHỮNG VẤN ĐỀLÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄNCÔNG TÁC
XÃ HỘI ĐỐIVỚI PHỤNỮBỊBẠO LỰC GIA ĐÌNH1.1Những vấn đềlý
luận1.1.1Khái niệm:* Dịch vụxã
hội:“Dịchvụxãhộilàhoạtđộngcungcấp,đápứngnhucầuchocáccánhân,nhómngườinhất
địnhnhằmbảođảmcácgiátrịvàchuẩnmựcxãhội”Một khái niệm thống nhất về dịch vụ
xã hội cho người yếu thế là rất cần thiết và đó cũng là cơ sở để thiết kế hệ thống
dịch vụxã hội cho các nhóm đối tượng này. Dựa vào những lý giải về dịch vụ,
chính sách xã hội, dịch vụ xã hội, dịch vụ xã hội cơ bản nêu trên, khái niệm dịch
vụ xã hội cho người yếu thế được hiểu
là:“Dịchvụxãhộichonhómyếuthếlàcáchoạtđộngcóchủđíchcủaconngườinhằmphòngn
gừahạnchếvàkhắcphụcrủiro,đảmbảođápứngđượcnhucầucơbảnvàthúcđẩykhảnănghoành
ậpcộngđồng,xãhộichonhómđốitượngyếuthế”(Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB Đà
Nẵng)* Công tác xã hội:Định nghĩa của Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội
Mỹ(NASW -1970): “Công tác xã hội là một chuyên ngành đểgiúp đỡcá nhân,
nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã
hội của họvà tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó”.Định
nghĩa của Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tếthông qua tháng 7 năm 2000
tại Montréal, Canada (IFSW): “NghềCông tác xã hội thúc đẩy sựthay đổi xã hội,
giải quyết vấn đềtrong mối quan hệcủa con người, tăng năng lực và giải phóng
cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họngày càng thoải mái, dễchịu. Vận
dụng các
lý thuyết vềhành vi con người và hệthống xã hội, công tác xã hội tương tác vào
những điểm giữa con người với môi trường của họ. Nhân quyền và Công bằng
xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề” [11].Theo Foundation of Social Work
Practice: “Công tác xã hội là một môn khoa học ứng dụng đểgiúp đỡmọi người
vượt qua những khó khăn của họvà đạt được một vịtrí ởmức độphù hợp trong xã
hội. Công tác xã hội được coi như là một môn khoa học vì nó dựa trên những luận
nhóm hành vi bạo lực chủyếu bao gồm bạo lực thểchất, bạo lực tinh thần, bạo lực
tình dục và bạo lực kinh tế.* Bạo lực thểchấtLà những hành vi ngược đãi, đánh đập
hoặc sỉnhục của một hoặc nhiều thành viên trong gia đình làm tổn thương tới nhân
phẩm, sức khỏe, tâm thần, tính mạng của một hay nhiều thành viên khác. Bạo lực
gia đình xảy ra giữa những người có quan hệđặc biệt (vợchồng, con dâu, con rể)
hoặc ruột thịt (ông bà, chamẹ, con cháu, anh chịem, họhàng) có thểtrong cùng một
mái nhà hoặc mái nhà khác. [8, tr.43,44]* Bạo lực tinh thầnLà những lời nói, thái
độ, hành vi ngược đãi hoặc sỉnhục của một hoặc nhiều thành viên trong gia đình
làm tổn thương tới nhân phẩm, sức khỏe, tâm thầncủa một hay nhiều thành viên
khác. Bạo lực tinh thần cũng còn là sựáp đặt, chỉđạo hoặc xâm phạm tới nguyện
vọng, ý thích, thịhiếu riêng của mỗi người.[8, tr.44]* Bạo lực tình dụcLà những
hành vi cưỡng ép hoặc dùng bạo lực đểthỏa mãn tình dục của một người hoặc
một nhóm người đối với một người hoặc một nhóm người khác. Hành vi này có
thểdiễn ra một lần hoặc lặp đi lặp lại nhiều lần và diễn ra cảtrong quan hệvợchồng
hoặc bạn tình. Bạo lực tình dục còn bao hàm cảviệc cưỡng ép vợsinh nhiều con
hoặc đẻcon trai.Bạo lực tình dục là một dạng đặc biệt trong quan hệgiới tại gia
đình. Nó vừa có
thểdiễn ra kín đáo, âm thầm vừa có thểdiễn ra công khai nhưng nhìn chung cảđạo
đức và pháp luật đều khó có thểcan thiệp.[8, tr.44]
* Bạo lực kinh tếLà việc dùng sức mạnh đểđe dọa, áp đặt hoặc lừa mịnhằm bóc lột
lao động, chiếm giữvà kiểm soát tài chính của một hoặc một nhóm người với
một hoặc một nhóm người khác trong gia đình. Dạng bạo lực này đưa đến sựphân
công lao động và hưởng thụbất hợp lý giữacác thành viên trong gia đình.[8,
tr.44]1.1.3Đặc điểm phụ nữ bị bạo lực gia đìnhBLGĐ thường đểlại những dư âm
tới nạn nhân BLGĐ và hậu quảcủa nó thường dai dẳng hơn nhiều so với ảnh
hưởng vềthểchất. Những tổn thương vềthểchất ởnạn nhânBLGĐ còn có thểkhắc
phục được bởi can thiệp y tếnhưng tổn thương vềtinh thần của họkhông dễgì can
thiệp và can thiệp nhanh chóng được.Nạn nhânbịBLGĐ thường chịu ảnh hưởng
tâm lý như cảm giác sợsệt, lo lắng, đặc biệt với phụnữ, họkhông chỉsợcho bản
thân mà còn luôn lo sợcho tính mạng của con mình.Nạn nhân bịBLGĐ thường
tiếp cận trong công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình.Có rất nhiều lý
thuyết khác nhau, nhưng theo tác giảthì các lý thuyết sau phù hợp trong tiếp cận
với phụnữbịbạo hành hơn. Cụthể:1.1.4.1 Lý thuyết hành viMục đích:Tăng cường
chức năng xã hội bằng việc hỗtrợthân chủhọc những cách thức xác thực và rõ
ràng vềviệc lĩnh hội, tư duy và giải thích những trải nghiệm cuộc sống của chính
mình. Việc đấu tranh cho bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình rất cần
tác động đến nhận thức của cộng đồng, khi nhận thức thay đổi thì hành vi ứng
xửcủa cộng đồng mới đổi khác.Ứng dụng:Cách tiếp cận theo lý thuyết này này yêu
cầu thân chủ phải có khả năng nhận thức cần thiết và sẵn sàng đầu tư thời gian cần
thiết để giám sát và phân tích các cách thức mà mình tư duy, đồng thời thực hành
các kỹ thuật phù hợp để thay đổi những thói quencố hữu trong suy nghĩ của mình,
từ đó hiểu rõ hơn tại sao người phụ nữ lại có
những hành vi cam chịu hay che dấu.Thuyết hành vi-nhận thức đặc biệt hữu hiệu
đối với các vấn đề về suy giảm lòng tự trọng và những suy nghĩ về việc tự chuốc
lấy những thất bại. Nó cũng có thể được sử dụng với trẻ em (ở độ tuổi lên 10 hoặc
hơn một chút) và trẻ vị thành niên là những đối tượng đang phát triển và định hình
những hình mẫu trong tư duy và tất nhiên là ứng dụng được cho cả những người
trưởng thành. Ứng dụng trong thực hành của lý thuyết này kết hợp những khái
niệm được lựa chọn từ lý thuyết học hỏi và áp dụng phân tích hành vi với những
thuyết khác rút ra từ việc nghiên cứu quá trình nhận thức, ví dụ, làm thế nào mọi
người tư duy và thông tin về quá trình đó. Nó cũng đồng thời trọng tâm vào sự ảnh
hưởng lẫn nhau giữa những nhận thức (tư duy), cảm xúc và hành vi. Những hành
vi có vấn đề và những đau khổ cá nhân thường được bắt nguồn từ những suy nghĩ
cứng nhắc, không hợp lý và không hoàn hảo cũng như từ những niềm tin không
thực tế, không được tìm thấy về cách thức mà chúng nên tồn tại (theo sự mong đợi
của cá nhân).Vận dụng lý thuyết nhận thức –hành vi vào đề tài nghiên cứu về phụ
nữ bị bạo lực giúp cho tác giả có thể hiểu về vấn đề một cách khoa học hơn. Hành
vi con người là sự tổng hòa các yếu tố khác nhau, mỗi yếu tố đều có tác động tới
những khó khăn vềtâm lý.Con người cần phải đáp ứng
những nhu cầu cơ bản, sau đó mới đáp ứng những nhu cầu cao hơn, như nhu
cầu tinh thần. Tuy nhiên khi nghiên cứu vềnhững phụnữbịbạo lực gia đình
họkhông được đáp ứng đầy đủcảnhững nhu cầu được cho là cơ bản nhất của con
người và kéo theo đó là sựkhông được đáp ứng những nhu cầu cao hơn như nhu
cầu tinh thần.Thông qua việc đánh giá nhu cầu của đối tượng,nhân viên CTXH
sẽgiúp thân chủgiải quyết những khó khăn của họkhi các nhu cầu cơ bản không
được đáp ứng một cách đầy đủnhất.Tuy nhiên, nhân viên CTXH cũng cần xem xét
các nhu cầu của thân chủđểtừđó cùng thành viên trong nhóm lựa chọn các nhu cầu
ưu tiên giải quyết.Nhu cầu an toàn –an ninh. Khi con người được đáp ứngđầy
đủcác nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ngủthì các nhu cầu vềan toàn, an ninh cũng rất
cần thiết. Mỗi cá nhân đều mong muốn mình được an toàn, mong muốn có một
cuộc sống bình yên và hạnh phúc là điều mỗi phụnữđều mong muốn có. Tóm lại,
cá nhân cần có cảm giác an toàn vềthân thể, được hưởng các dịch vụy tếvà xã hội.
Khi cá nhân cảm thấy bất ổn họcó thểtìm đến sựan toàn vềmặt tinh thần. Như vậy,
việc giúp đỡcác cá nhân có được cơ hội sinh hoạt trong nhóm cũng nhằm giải
quyết giúp những phụnữbịbạo lực gia đình vượt qua những khó khăn, những áp lực
vềtâm lý, giúp họcó được cảm giác an toàn khi sinh hoạt trong nhóm.Nhu cầu được
giao lưu tình cảm và được trực thuộc. Cá nhân không thểtồn tại khi thiếu các mối
quan hệtừgia đình, bạn bè, cộng đồng và đồng nghiệp, vì vậy cá nhân đều muốn
thuộc vềmột nhóm nào đó, muốn gia đình yên ấm. Maslow cũng cho rằng khi các
nhu cầu không được thỏa mãn, đáp ứng, nó sẽgây các bệnh trầm trọng vềtinh thần,
thần kinh.Mô hình nhóm tựlực giúp đỡcác nạn nhân của bạo lực gia đình có một
môi trường thuận lợi đểgiao lưu, học hỏi và có sựtương tác qua lại. Nhân viên
CTXH đã vận dụng lý thuyết nhu cầu đểtừđó đưa ra được những đềxuất hợp lý
nhất giúp những phụnữbịbạo lực có được môi trường thuận lợi đểgiao lưu, chia
sẻ, nâng cao năng lực của bản thân, vượt quađược những trạng thái tâm lý tiêu
cực khi sống trong bạo lực.
cá nhân là thành viên): hệthống này hỗtrợcác nguồn lực trực tiếp cho cá nhân, hoặc
trợgiúp cho cá nhân các hình thức thương lượng với hệthống xã hội khác.+
Hệthống xã hội: các hoạt động xã hội, các chương trình tình nguyện, các phong
trào xã hội, các bệnh viện , các chương trình đào tạonghề, các dịch vụpháp lý...-Lý
do thân chủkhông sửdụng được các hệthống hỗtrợlà do: hệthống nguồn lực không
tồn tại, thân chủkhông biết sửdụng các hệthống ra sao, chính sách của hệthống,
xung đột giữa các hệthống.Kết hợp quan điểm sinh thái vào lý thuyết hệthống
trong CTXHViệc vận dụng quan điểm sinh thái học vào lý thuyết hệthống chỉra
rằng, mỗi cá nhân được coi là một hệthống được cấu thành bởi những tiểu hệthống,
có liên hệvới những hệthống khác lớn hơn và cùng nằm trong một hệthống lớn
nhất –hệthống sinh thái (gồm môi trường tựnhiên và môi trường xã hội). Hệthống
sinh thái của mỗi cá nhân là khác nhau. Theo đó, có thểphân chia hệthống sinh thái
của mỗi cá nhân thành ba cấp độ:-Cấp độvi mô: ởcấp độnày mỗi cá nhân được
coilà một hệthống được cấu thành bởi những tiểu hệthống: tiểu hệthống sinh học,
tiểu hệthống tâm lý xã hội.-Cấp độtrung mô: cấp độnày đềcập đến hệthống các
nhóm nhỏảnh hưởng đến cá nhânnhư gia đình, nhóm làm việc và các nhóm xã hội
khác.-Cấp độvĩ mô: bốn hệthống vĩ mô quan trọng tác động đến cá nhân là: các
tổchức xã hội, các thiết chế, cộng đồng và nền văn hóa.MÔI TRƯỜNG XÃ
HỘIHệthống trung môHệthống vĩ môThiết chếCộng
Sơ đồcác hệthống tương tác trong môi trường xã hộiỨng dụng:vận dụng lý
thuyết hệthống -sinh thái vào nghiên cứu vềphụnữlà nạn nhân của BLGĐgiúp
NVCTXH khi làm việc với thân chủcó thểkhái quát được hệthống sinh thái của
thân chủ. Xem xét chỉra được thân chủđang thiếu hụt những hệthống nào? Những
nguyên nhân cản trởviệc tiếp cận hệthống của thân chủ?Mối quan hệthống của
thân chủra sao? Đâu là hệthống nguồn lực trợgiúp cho thân chủgiải quyết vấn
đề? Mặt khác, cách tiếp cận hệthống trong thực hành còn giúp NVCTXH có
thểthiết lập được hệthống vấn đềcủa thân chủđểchỉra được mối quan hệgiữa các
vấn đề, tìm ra được vấn đềcốt lõi và ưu tiên cần giải quyết.