Y học thực hành (806) số 2/2012
60
Vitreoretinal Surgical Simulator as a training tool. RETINA,
24;231-236, 2004
7. Richard P. Golden, MD, Rohit Krishna, MD, and
Peter W. DeBry, MD. Resident Glaucoma Surgical
Training in United States. Journal of The Royal Society of
Medicine. Volume 14, Number 3, June 2005.
8. Simon K. Law, MD, Diana A. Tamboli, BS, Yvonne
Ou, MD,w JoAnn A. Giaconi, MD and Joseph Caprioli,
MD. Development of a Resident Training Module for
Systematic Optic Disc Evaluation in Glaucoma. Journal of
Glaucoma,vol 00; No 00, 2011. Nhu cầu đào tạo về chẩn đoán và điều trị bệnh viêm nhiễm đờng sinh dục dới
của các cán bộ y tế thuộc Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội,
Thành phố Hà Nội năm 2011
Nguyễn Minh Quang - Bnh vin Da Liu H Ni,
Bùi Văn Nhơn, Ngô Văn Toàn - Trng i hc Y H Ni
TểM TT
Mc tiờu: Xỏc nh nhu cu o to v chn oỏn
v iu tr bnh viờm nhim ng sinh dc di ca
cỏn b y t (CBYT) hin ang cụng tỏc ti Trung tõm
Giỏo dc Lao ng Xó hi (Tri 02) nm 2011. i
staffs in the Camp 02 in 2011. Results: The proportion
of health staff trained in diagnosis and treatment of lower
sexual tract infections was very low (7.1%). In the last 5
years (2006-2010), 71,4% health staffs was trained in
diagnosis and treatment of lower sexual tract infections
with short training course and poor quality.The
qualification of health staff was weak,100% had medium
and low levels of skill in terms of managerial of record,
and health education, 85.7% had examination and
diagnosis skills at low and medium levels. 85,7% health
staffs wanted to have additional training. Conclusion:
Quality of health staff in diagnosis and treatment of
lower sexual tract infections was limited and a majority of
health staff needs to have additional training.
Keywords: Training needs, lower sexual tract
infections
T VN
Nhu cu o to l nhng kin thc, thỏi v k
nng cn thit m ngi cỏn b y t cn cú hon
thnh c nhim v c phõn cụng sau khi ó c
o to. Nhu cu o to l nhng khong trng v cỏc
kin thc, thỏi v k nng cn so vi cỏc kin thc,
thỏi v k nng hin cú. Xỏc nh nhu cu o to
nhm phỏt hin ra nhng gỡ cũn thiu ht trang b
kin thc, thỏi v thc hnh cn thit cho ngi hc.
T ú cú th xõy dng mt chng trỡnh o to hiu
qu v mang tớnh ng dng cao.
Hin nay, ngnh Y t ó c cu nhõn lc y t hp lý
kin ton i ng cỏn b y t (CBYT) nhm nõng cao
cht lng v hiu qu cỏc hot ng chm súc sc
61
lượng, nhằm xác định nhu cầu đào tạo cho các CBYT tại
Phòng Y tế Trại 02 năm 2011. Mẫu nghiên cứu được
chọn theo kỹ thuật chọn mẫu toàn bộ. Tất cả 14 CBYT
tham gia nghiên cứu đều được tiến hành phỏng vấn
theo bộ câu hỏi, phỏng vấn sâu và được quan sát theo
bảng kiểm về các kỹ năng quản lý và chuyên môn (được
đánh giá theo các mức độ tốt, khá, trung bình và kém).
KẾT QUẢ
1. Thực trạng đào tạo về quản lý và chuyên môn
của các CBYT tại Trại 02
1.1. Đặc trưng cá nhân
CBYT tại Trại 02 có tuổi từ 24-48, trung bình là 31,5
tuổi, hầu hết ở độ tuổi ≤40 (85,7%). Trong đó, tỷ lệ nam:
nữ là đồng đều (1: 1). CBYT là y sỹ chiếm tỷ lệ cao nhất
(50%), tiếp đến là y tá (21,4%) và bác sỹ (14,3%). Tỷ lệ
dược sỹ và hộ lý còn thấp (7,1%). Đa số CBYT làm việc
tại Trại 02 <5 năm, có 3 cán bộ mới nhận công tác được
gần 1 năm. Số cán bộ làm việc tại Trại 02 trong khoảng
thời gian 5-10 năm và 11-20 năm tương đối đều nhau
(lần lượt là 21,4% và 28,6%). Không có cán bộ nào làm
việc tại đây >20 năm. Phần lớn CBYT Trại 02 được đào
tạo ở các trường trung cấp (85,7%), còn lại được đào
tạo ở trường đại học (14,3%). Đa số thời gian đào tạo
của CBYT từ 2-3 năm (78,6%). Hầu hết CBYT Trại 02
không được đào tạo ban đầu về bệnh viêm nhiễm
đường sinh dục dưới (VNĐSDD) (92,9%). Chỉ có một
CBYT cho biết mình đã được đào tạo về bệnh VNĐSDD
khi còn học tại trường đại học (7,1%). CBYT này cho
biết: “Trong quá trình học tập tại trường đại học, tôi có
Kỹ năng
chữa bệnh
Tỷ lệ
(%)
0 0 57,1 42,9
Tần số 0 0 11 3
Kỹ năng tư
vấn
Tỷ lệ
(%)
0 0 78,6 21,4
Tần số 0 0 4 10
Kỹ năng TT-
GDSK
Tỷ lệ
(%)
0 0 28,6 71,4
Kỹ năng quản lý hồ sơ sức khỏe của học viên:
Phần lớn CBYT có kỹ năng ở mức độ kém (71,4%), có
28,6% cán bộ có kỹ năng ở mức độ trung bình và không
có CBYT nào có kỹ năng ở mức độ khá tốt. Khi tìm hiểu
về vấn đề này, một số CBYT cho biết: “Hồ sơ bệnh án
được để ở phòng khám bệnh, ai cần thì lên đó tìm. Ai
muốn tìm hồ sơ thì bảo một học viên tìm, một lúc là sẽ
lấy được. Việc này cũng không có ai chịu trách nhiệm
cả” (Y sỹ, nữ, 11 năm công tác).
Kỹ năng khám và chẩn đoán bệnh: 1/2 CBYT có
kỹ năng ở mức độ trung bình (50,0%), cán bộ có kỹ
năng ở mức độ kém chiếm tỷ lệ lớn (35,7%). Chỉ có
14,3% CBYT có kỹ năng này ở mức độ khá, và không
GDSK): Phần lớn CBYT có kỹ năng TT-GDSK ở mức
độ kém (71,4%). Có 28,6% CBYT còn lại có kỹ năng này
ở mức độ trung bình. Không có CBYT nào có kỹ năng ở
mức độ khá, tốt. Một số CBYT cho biết: “Mặc dù được
sự hỗ trợ của Ban giám đốc Trại 02 nhưng hoạt động
TT-GDSK còn gặp rất nhiều khó khăn. Tất cả CBYT
chưa từng được học và tập huấn về các kỹ năng cơ bản
của TT-GDSK. Ngay cả bản thân tôi, tuy được giao phụ
trách mảng TT-GDSK nhưng tôi không có kinh nghiệm
cũng như không có kiến thức trong lĩnh vực này. Các
phương tiện và tài liệu truyền thông tại đây thì rất hạn
chế” (Y sỹ, năm, 9 năm công tác).
2. Xác định nhu cầu đào tạo của CBYT
2.1. Công tác đào tạo về bệnh VNĐSDD trong 5
năm gần đây (2006-2010)
Trong vòng 5 năm gần đây (2006-2010), đa số
CBYT đã được đào tạo về bệnh VNĐSDD bao gồm đào
tạo cơ bản và đào tạo bổ sung (chiếm 71,4%). Tất cả
khóa đào tạo về bệnh VNĐSDD cho CBYT đều là các
khóa ngắn hạn ≤6 tháng. Phần lớn là các khóa đào tạo
dưới 2 tháng (70,0%), chủ yếu là tập huấn từ 2 ngày - 7
ngày. Không có khóa đào tạo nào dài hạn (>6 tháng).
Khi phỏng vấn, một số CBYT cho biết: “Đa số chúng tôi
chỉ được tiếp cận với các khóa tập huấn ngắn ngày. Còn
khóa đào tạo dài hạn thì rất ít khi được tham gia. Đa số
vì thiếu thông tin về các khóa đào tạo dài hạn và thời
Y häc thùc hµnh (806) – sè 2/2012
học ngay được”. (Bác sỹ, nam, 16 năm công tác). Đây
cũng là nguyện vọng của đa số các CBYT tại đây.
Bảng 2: Những nội dung mong muốn được đào tạo
thêm của CBYT Trại 02
Có Không
Nội dung mong muốn
đào tạo thêm
Tần số
Tỷ lệ
(%)
Tần số
Tỷ lệ
(%)
Đào tạo lên bậc học cao
hơn
9 64,3 5 35,7
Nâng cao kỹ năng chẩn
đoán và điều trị bệnh
VNĐSDD
8 57,1 6 42,9
Đào tạo kiến thức cơ bản
về tư vấn và TT-GDSK
8 57,1 6 42,9
Nội dung đào tạo khác 3 21,4 11 78,6
Nội dung mong muốn được đào tạo thêm nhiều nhất
là đào tạo lên bậc học cao hơn (64,3%). Tiếp đến là nội
dung đào tạo nâng cao kỹ năng khám, chẩn đoán và
điều trị bệnh; đào tạo kiến thức cơ bản về tư vấn và TT-
ngắn hạn, tập huấn, hội thảo chuyên ngành và từ quá
trình công tác của họ. Vì vậy kiến thức của CBYT không
được hệ thống, gây nhiều khó khăn trong quá trình điều
trị bệnh VNĐSDD cho bệnh nhân tại Trại 02. Do đó,
trong đào tạo ban đầu tại hệ thống các trường đào tạo
nhân lực y tế cần chú trọng hơn về đào tạo ban đầu các
bệnh VNĐSDD cho học viên.
1. Thực trạng trình độ quản lý và chuyên môn
của CBYT
Kỹ năng quản lý hồ sơ sức khỏe học viên: Phần
lớn CBYT có kỹ năng ở mức độ kém (71,4%). Chứng tỏ
công tác quản lý hồ sơ sức khỏe còn chưa được chú
trọng, chưa đáp ứng được với yêu cầu nhiệm vụ của
CBYT cơ sở. Điều này tương đối phù hợp với Báo cáo
Y tế Việt Nam năm 2006: tỷ lệ CBYT được đào tạo về
quản lý còn rất ít, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động
của nhiều cơ sở y tế [3]. Nguyên nhân có thể do chưa
có sự quan tâm, cũng như chưa ý thức được tầm quan
trọng của vấn đề này. Hầu hết hồ sơ bệnh án của học
viên không được mã hóa nên việc tra cứu gặp nhiều khó
khăn, thông tin trong hồ sơ không được cập nhật, tình
trạng thất lạc hồ sơ còn diễn ra khá phổ biến. Do đó cần
có sự quan tâm hơn từ những người quản lý cũng như
từ các CBYT nơi đây.
Kỹ năng khám và chẩn đoán bệnh: >4/5 CBYT có
kỹ năng ở mức độ trung bình, kém (85,7%). Chứng tỏ
trình độ chuyên môn của CBYT còn thấp. Kết quả này
cao hơn so với kết quả nghiên cứu chất lượng chuyên
môn các bệnh viện tuyến dưới của Bộ Y tế năm 2003:
trình độ CBYT tuyến dưới thấp, khả năng đáp ứng với
kiến thức của CBYT còn hạn chế, việc cập nhật kiến
thức chưa thường xuyên.
Kỹ năng tư vấn: 4/5 CBYT có kỹ năng tư vấn về
các bệnh VNĐSDD ở mức độ trung bình (78,6%), còn lại
có kỹ năng ở mức độ kém (21,4%). Tương tự kết quả
của tác giả Nguyễn Văn Hiến: khả năng tư vấn của
CBYT chưa đáp ứng được nhiệm vụ thực tế của CBYT
cơ sở [8]. Tư vấn là một quá trình quan trọng trong điều
trị và phòng bệnh, tuy nhiên CBYT nơi đây không được
đào tạo về kỹ năng này nên việc thực hành gặp rất
nhiều khó khăn và còn yếu kém. Mặt khác, đối tượng
bệnh nhân là PNBD cải tạo nên họ được quản giáo chặt
chẽ, vì vậy có ít thời gian để được tư vấn về bệnh tật
của mình. Do đó cần có kế hoạch tập huấn, đào tạo phù
hợp cho CBYT Trại 02 về kỹ năng tư vấn.
Kỹ năng truyền thông - giáo dục sức khỏe: Phần
lớn CBYT có kỹ năng TT-GDSK ở mức độ kém (71,4%)
và chưa được đào tạo về vấn đề này. Kết quả thu được
cao hơn so với kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn
Văn Hiến với tỷ lệ 44,9% CBYT chưa được đào tạo kiến
thức và kỹ năng [8]. Chứng tỏ công tác TT-GDSK về
bệnh VNĐSDD còn yếu kém. Hoạt động TT-GDSK tại
Trại 02 thực hiện chưa đều, chưa xây dựng được kế
hoạch cụ thể. Tài liệu truyền thông rất nghèo nàn, nội
dung còn hạn chế chưa đi sâu về bệnh VNĐSDD.
Phương tiện truyền thông, kinh phí cho hoạt động truyền
thông tại Trại 02 cũng rất thiếu. Hiện nay tại Trại 02 thì loa
phát thanh là phương tiện duy nhất để TT-GDSK, tương
tự kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Hiến [8].
2. Xác định nhu cầu đào tạo của CBYT
2007: nhiều lớp đào tạo ngắn hạn thường có chủ đề
trùng lặp nhiều, không đáp ứng được nhu cầu thực tế;
chất lượng đào tạo chưa cao, chủ yếu giảng dạy về lý
thuyết, ít có điều kiện thực hành [5], [6]. Nguyên nhân
chủ yếu do việc xác định nội dung đào tạo thêm cho
CBYT chưa được quan tâm và chưa phù hợp với thực
tế công việc của họ.
2.2. Nhu cầu đào tạo thêm
Nhu cầu đào tạo của CBYT là rất lớn. Đa số CBYT
đều có nguyện vọng được đào tạo thêm (85,7%). Nội
dung mong muốn được đào tạo thêm nhiều nhất là đào
tạo lên bậc học cao hơn (64,3%), nhất là với đối tượng y
sỹ, y tá. Điều này phù hợp với chủ trương đào tạo của
Bộ Y tế trong những năm gần đây. Nhằm tăng cường
bác sỹ, dược sỹ làm việc ở tuyến cơ sở, Bộ Y tế chủ
trương tuyển sinh hệ tập trung 4 năm dưới các hình
thức thi tuyển, cử tuyển, đào tạo địa chỉ, tạo điều kiện
thuận lợi cho y sỹ, dược sỹ đang công tác tại tuyến xã,
huyện được học lên bậc đại học để sau khi tốt nghiệp
trở về địa phương nơi đã cử đi học tiếp tục công tác tốt
hơn. Bộ Y tế cho phép tiếp tục đào tạo y sỹ cho các địa
phương còn gặp khó khăn về nhân lực y tế. Tiếp đến là
nội dung đào tạo nâng cao kỹ năng khám, chẩn đoán và
điều trị bệnh; đào tạo kiến thức cơ bản về tư vấn và TT-
GDSK về các bệnh VNĐSDD được nhiều CBYT đề xuất
(57,1%). Đây là những nội dung thiết thực thực tế với
công việc hàng ngày của các CBYT tại Trại 02, cũng là
những kiến thức và thực hành còn thiếu và cần được bổ
sung của CBYT. Vì vậy cần có những biện pháp can
thiệp phù hợp từ cơ quan quản lý để đáp ứng được nhu
Y học thực hành (806) số 2/2012
64
NXB Y hc, H Ni.
4. B Y t (2009). Niờn giỏm thng kờ y t 2008.
NXB Y hc, H Ni.
5. B Y t v nhúm i tỏc y t (12/2009). Bỏo cỏo
chung Tng quan ngnh y t nm 2009 v Nhõn lc y t
Vit Nam. H ni, trang 114-115.
6. Fields B, Duc NX (2008). Health workforce
training: Situation Analysis and Initial Identification of
Opportunities for Program Support ADB. Vietnam.
7. Nguyn Th Ngc Chi (2010). Nghiờn cu v nhu
cu o to cho khi cỏn b x tr bnh vin K. Lun
vn tt nghip BSK, i hc Y H Ni, trang 32-33.
8. Nguyn Vn Hin (2004). Nghiờn cu hot ng
giỏo dc sc khe ti mt s xó mt s huyn ng
bng Bc B v th nghim mụ hỡnh can thip giỏo dc
sc khe. Lun ỏn Tin s y hc, i hc Y H Ni,
trang 108-110, 129.
9. Lờ Th Kim Trang (2006). Nghiờn cu kin thc,
thc hnh phng phỏp da k da v nuụi con bng sa
m sm ti cỏc b m ti 4 bnh vin H Ni nm 2005.
Lun vn Thc s YTCC, H Ni.
10. Save the Children/US (2005). iu tra c bn v
chm súc sc khe b m v tr s sinh. Bỏo cỏo d ỏn
SC/US. H Ni.
thyroid cancer primary. Subjective, method: Benign
tumor group: 52 Pt.Cancertumor:62Pt Scanner,SPECT
imaging. Results,conclusions: Cold nodules were
in most of two groups malign and benign tumor
(malign: 92.5%, benign: 88%) Hot tumor were not seen
in both groups Warm tumor in two groups with low
and approximately the same (16.9% and 12%) Thyroid
tumors in the cancer group with irregular radioactive,
proportion(39.6%) greater than benign tumor (24%).
Thyroid cancer were mostly irregular in nodules types. -
The concentration of I-131 in the thyroid gland after 2
hours in group thyrid cancer lower tumor benign groups
(Thyroid cancer is 12.7%, benign tumor 15.4%), but this
difference is not statistically significant with p> 0.05. I-
131 concentration in the thyrid gland after 24 hous in
thyroid cancer group lower than benign tumor (Average
of cancer group: 28.53 %, benign tumor: 40.02 %) this
difference is statistically significant with p <0.05.
Keywords: Radiationthe thyroid, UTGT, UGT-
SPECT.
T VN .
chn oỏn ung th tuyn giỏp trng nguyờn
phỏt,trờn th gii ó cú nhiu phng phỏp cn lõm
sng c ng dng nh xột nghim t bo hc, mụ
bnh hc, nh lng cỏc hooc mụn trc yờn giỏp, cỏc
cht ch im khi u (Tumor marker). Bờn cnh ú cũn
cú cỏc phng phỏp siờu õm tuyn giỏp, ghi hỡnh tuyn
giỏp nh chp X quang c ngc, chp ct lp vi
tớnh,cng hng t ht nhõn, c bit cỏc phng phỏp
y hc ht nhõn ghi hỡnh (Ghi hỡnh nhp nhỏy phúng
Ghi hỡnh tuyn giỏp bng Rectilinear Scanner v
SPECT vi dc cht phúng x tp trung c hiu vo
t bo tuyn giỏp l NaI-131 hoc.c kt qu trờn x
hỡnh da vo s phõn b ca mt hot tớnh phúng x
phõn loi nhõn m,núng,lnh, ng u. ng thi