Tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị bạo lực gia
đình tại ngôi nhà bình yên – TW Hội LHPN
Việt Nam
Nguyễn Văn Thanh
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ. Công tác xã hội: 60 90 01 01
Nghd: TS. Bùi Thị Xuân Mai
Năm bảo vệ: 2014
Keywords: Tham vấn cá nhân; Bạo lực gia đình; Phụ nữ; Công tác xã hội
Contents:
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phụ nữ Việt nam chiếm 50,8% dân số, 50,3% lực lượng lao động của cả nước, họ có vai
trò và tiềm năng to lớn tạo ra của cải vật chất cho xã hội, góp phần vào sự tăng trưởng của nền
kinh tế đất nước và có chức năng quan trọng là làm vợ, làm mẹ, duy trì và phát triển nòi giống.
Cơ chế thị trường đã tạo điều kiện để phụ nữ phát huy mạnh mẽ tài năng, sức sáng tạo,
nâng cao vị thế của người phụ nữ Việt Nam. Nhưng đồng thời, cơ chế thị trường và ảnh hưởng
của quá trình toàn cầu hoá cũng đang đặt ra không ít khó khăn, thách thức đối với phụ nữ: thiếu
việc làm, thiếu cơ hội để học tập, nâng cao trình độ và tham gia vào các hoạt động xã hội, bất
bình đẳng giới, là nạn nhân của các tệ nạn xã hội và bạo lực; là đối tượng đầu tiên gánh chịu bất
hạnh do những đổ vỡ gia đình. Làm thế nào giúp phụ nữ vươn lên trong cuộc sống, vượt qua
những tác động tiêu cực để họ không những thực hiên tốt chức năng kinh tế mà còn thực hiện tốt
chức năng tình cảm, giáo giục con cái giữ gìn hạnh phúc gia đình.
Bạo lực gia đình (BLGĐ) là vấn nạn trong gia đình và của xã hội nó ảnh hưởng nghiêm
trọng đến quyền còn người và là một trong những biểu hiện của bất bình đẳng giới. Hiện nay,
tình trạng BLGĐ xảy ra ở Việt Nam nổi lên như một vấn đề xã hội bức xúc. Nghiên cứu năm
2010 của tác giả Bùi Thị Xuân Mai trên 188 phụ nữ tại nông thôn cho thấy có tới gần 50% phụ
nữ được hỏi họ đã từng trải nghiệm bị bạo lực tinh thần: mắng, nhiếc, xỉ vả…
Nạn nhân của BLGĐ thường là phụ nữ và trẻ em. BLGĐ dẫn đến nhiều hậu quả: về thể
xác, tinh thần, kinh tế. Tổn thương về thể xác của nạn nhân: gãy xương, tàn phế, bầm dập, rách
da, suy giảm chức năng vận động… thậm chí nạn nhân có thể bị tử vong. Về tâm lý và hành vi
Tại Việt Nam cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về gia đình và BLGĐ:
Năm 2001, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã thực hiện đề tài “BLGĐ đối với phụ nữ tại
Việt Nam” nghiên cứu tại 3 tỉnh Lạng Sơn, Thái Bình và Tiền giang đề tài đã tìm hiểu nhận thức,
thái độ của người dân và cán bộ thi hành pháp luật của các tổ chức đoàn thể xã hội. Đồng thời đề
tài cũng chỉ ra những hậu quả nặng nề của BLGĐ đối với phụ nữ.
Trong nghiên cứu về vai trò của người phụ nữ nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa
hiện đại hóa công nghiệp nông thôn, tác giả Hoảng Bá Thịnh (2002) đã chỉ ra 54,5% số người
được hỏi cho rằng có hiện tượng “chồng đánh vợ”.
Theo kết quả điều tra về thực trạng bình đẳng giới năm 2004 – 2005 (Nguyễn Vân Anh,
2005), có 21,2% phụ nữ cho biết đã từng bị chồng chửi trong 12 tháng trước khi khảo sát.
Theo thống kê của Toà án nhân dân tối cao, nguyên nhân ly hôn do “mâu thuẫn vợ chồng,
đánh đập, ngược đãi” 8 tháng đầu năm 2003 là 22.997 vụ trong tổng số 41.326 vụ, chiếm 55,6%
và trong năm 2005, tỷ lệ này chiếm 60,3% các vụ ly hôn.
Cuộc điều tra gia đình Việt Nam 2006 cũng chỉ ra rằng có khoảng 21,2% cặp vợ/chồng xảy
ra các hiện tượng bạo lực như: đánh, mắng chửi, chấp nhận quan hệ tình dục khi không có nhu
cầu.
Kết quả khảo sát của Uỷ Ban các vấn đề xã hội tại 8 tỉnh thành năm 2006 cho thấy có 23%
gia đình có bạo lực về thể chất, 25% về bạo lực tinh thần và 30% có hành vi ép buộc quan hệ
tình dục.
Vấn đề bạo lực giới trong nghiên cứu của IOM, 2009 có đưa ra có hơn 50% trường hợp
phụ nữ di cư bị bạo lực thể thể chất kết hợp với bạo lực tình dục (dẫn theo Hoàng Bá Thịnh, Vấn
đề giới và nghiên cứu di cư ở Việt Nam trong cuốn Giới và Di dân tầm nhìn Châu Á, NXB
ĐHQG TP Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Hồng Xoan, 2013).
Cùng với thực trạng này, cuốn sách “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng,
diễn tiến và nguyên nhân” của nhóm tác giả Trần Hữu Minh và Trần Thị Vân Anh (chủ biên), năm
2009 tập trung vào vấn đề bạo lực của người chồng đối với người vợ với mong muốn cung cấp các
dữ liệu thông tin đầu vào cho một cuộc nghiên cứu trên quy mô toàn quốc về bạo lực gia đình. Công
trình nghiên cứu cung cấp cho độc giả, cho những người quan tâm đến việc giải quyết vấn đề bất
Với các công trình nghiên cứu về BLGĐ nêu trên đã phân tích được thực trạng, nguyên
nhân của nạn BLGĐ. Điều này cũng phản ánh được những lo ngại, băn khoăn chung của các nhà
nghiên cứu trước sự gia tăng của nạn BLGĐ.
2.2. Các nghiên cứu liên quan đến tham vấn và tham vấn cho phụ nữ bị bị bạo lực
gia đình
2.2.1. Nghiên cứu liên quan đến tham vấn và tham vấn cho phụ nữ bị bị bạo lực gia
đình ở nước ngoài
Tham vấn được sử dụng lần đầu tiên bởi B.Davis, khi ông thành lập trung tâm tham vấn
hướng nghiệp đầu tiên tại Detroit năm 1898.
Từ giữa thế kỷ XX, khi ThV phát triển như một nghề chuyên nghiệp ở một số nước, trong
đó phải kể đến những nghiên cứu về ThV, hoạt động ThV và trị liệu tâm lý của G.Williamson,
Carl Rogers…
Năm 1930 E.G. Williamson đã phát triển một lý thuyết toàn diện bề ThV với quy trình 5
bước: 1- Phân tích, xác định vấn đề đưa ra ghi chép có thể và trắc nghiệm đối với khách hàng, 2Tổng hợp, phân tích thông tin để hiểu vấn đề, 3- Chẩn đoán, giải nghĩa vấn đề, 4- ThV hỗ trợ đối
tượng giải quyết vấn đề, 5- Theo dõi khẳng định lại. Lúc này ThV thực sự chuyển hướng từ tư
vấn nghề nghiệp sang tham vấn trên tất cả các lĩnh vực. [16,tr.49]
Theo Froehlich W.D (1993) thì “Tham vấn chỉ sự giúp đỡ quyết định hay định hướng
thông qua các nhà chuyên môn như bác sỹ, các nhà tâm lý học, giáo dục học, cán bộ xã
hội…trong những cuộc đàm thoại cá nhân hay nhóm. ThV thường được kết hợp những cuộc trao
đổi thăm dò diễn ra trước đó cũng như những nghiên cứu trắc nghiệm và gắn với các chương
trình can thiệp hỗ trợ khác” [28,tr.85].
Trên nền tảng những tư tưởng và cách tiếp cận của Parsons, G. Williamson (1930), trong
lý thuyết về ThV với tên gọi “Tiếp cận đặc điểm và nhân tố”, các tác giả đã bổ sung và phát triển
quy trình ThV giải quyết vấn đề với 5 bước cơ bản từ chẩn đoán, kết thúc đến theo dõi. [2,tr.65].
Tại Mỹ, Canada, Singapore, Philippin...Khi phụ nữ bị BLGĐ sẽ nhận được sự hỗ trợ của
NTV, nhân viên CTXH. Khi phụ nữ bị BLGĐ đến hoặc được giới thiệu đến trung tâm ThV, trung
tâm CTXH hoặc nơi làm việc của NTV, nhân viên CTXH tiếp nhận, đánh giá, xác định vấn đề,
xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đề. NTV, NVXH sẽ là người đồng hành cùng với phụ nữ bị
quy mô lẫn chất lượng, trong đó có nhà tạm lánh, địa chỉ tin cậy cũng như tham vấn hôn nhân gia
đình, bao gồm cả tham vấn cá nhân, tham vấn nhóm đối với các đối tượng liên quan như phụ nữ
bị bạo lực gia đình, người gây ra bạo lực gia đình và trách nhiệm tham vấn, tư vấn với cộng
đồng.
Nghiên cứu của Lê Thị Quý năm (2007) về bạo lực gia đình cũng cho thấy hiện nay bạo
lực gia đình đối với phụ nữ xảy ra nhiều hình thức khác nhau đối với phụ nữ, việc xây dựng các
mô hình, câu lạc bộ tại địa phương cũng có tác động phần nào, tuy nhiên tác giả cũng chỉ ra thực
trạng tư vấn, hòa giải vấn đề bạo lực gia đình còn có những bất cập.
Nghiên cứu của UNPA phối hợp với CSAGA (2006) cũng chỉ ra khoảng cách giữa luật
pháp và thực tiễn triển khai trong đó có giải pháp can thiệp về hình thành các cơ sở tham vấn
cũng như cải thiện chất lượng tham vấn, hòa giải tại địa phương.
Nghiên cứu các giải pháp hạn chế bạo lực gia đình với phụ nữ và trẻ em của Bùi Thị Xuân
Mai (2009) đã chỉ ra sự thiếu hụt các dịch vụ trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình trong đó đặc
biệt là dịch vụ tham vấn.
ThV cho phụ nữ bị BLGĐ cũng là một chủ đề được các tổ chức quốc tế đóng tại Việt
Nam như: Unicef, Care, Radda Barnen, Plan…quan tâm. Đã có được những dự án với sự giúp đỡ
của các chuyên gia ThV về BLGĐ, họ đã tổ chức triển khai tương đối nhiều khóa tập huấn về
ThV về BLGĐ [3,tr.80].
Chuyên mục tư vấn Thanh Tâm trên báo phụ nữ: Mỗi số báo hàng ngày của Báo phụ nữ
đều có mục tư vân Thanh Tâm, số lượng người tìm đến ThV trên báo phụ nữ rất đa dạng về độ
tuổi, ở các vùng miền khác nhau với nhiều vấn đề khác nhau như: hôn nhân gia đình, tình yêu
giới tính…trong đó có ThV về BLGĐ. Trong quá trình nghiên cứu trên chuyên mục này về các
bài ThV liên quan đến BLGĐ, việc ThV cho những người bị BLGĐ chưa mang lại hiệu quả cao
bởi nhiều lý do khác nhau như: Những người ThV không có chuyên môn về ThV nên đã dẫn đến
rất nhiều thân chủ được ThV không hài lòng, có những bài người tiến hành ThV đã phán xét thân
chủ, áp đặt các giải pháp, thân chủ không được quyền tự quyết, đưa lời khuyên cho thân chủ,
ThV chưa tập trung vào những vấn đề mà thân chủ đang muốn được tháo gỡ…
Chi hội phụ nữ các cấp, hoạt động ThV cho các chị em phụ nữ bị BLGĐ thường xuyên
Thông qua nghiên cứu làm sáng tỏ hơn tính đúng đắn về những chủ trương, quan điểm của
Đảng và Nhà nước đối với phát triển CTXH, trong đó ThV để giải quyết tốt các vấn đề xã hội
xảy ra và phòng chống bạo lực gia đình nói chung.
4.2. Về thực tiễn
Làm rõ được những hoạt động tham vấn cần thiết cho phụ nữ bị bạo lực gia đình nói
chung và tại NNBY nói riêng.
Chỉ rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa tham vấn và công tác xã hội.
Chỉ ra được những điểm mạnh thuộc mô hình tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị bạo lực gia
đình tại NNBY để phổ biến và nhân rộng trên cả nước.
Chỉ ra những yêu cầu về tính chuyên môn cần tiếp tục hoàn thiện đối với tham vấn cá
nhân cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại NNBY như đội ngũ cán bộ tham vấn, cơ sở vật chất…
Là tài liệu tin cậy cho các hoạt động nghiên cứu có liên quan.
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại NNBY Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam
5.2. Khách thể nghiên cứu
Phụ nữ bị bạo lực gia đình
Cán bộ quản lý NNBY
Cán bộ xã hội/ Nhân viên xã hội, cán bộ tham gia tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị
bạo lực gia đình
Người thân của các nạn nhân bị bạo lực gia
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Thời gian: nghiên cứu các hoạt động tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại
NNBY từ năm 2007 đến nay
6.2. Địa bàn nghiên cứu: Ngôi nhà bình yên – Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
9.2 Phỏng vấn sâu
Tổ ng số phỏng vấ n sâu là 15 trường hơ ̣p, bao gồ m: Phụ nữ bị bạo lực gia đình (05 người),
cán bộ dự án (01 người), cán bộ quản lý (01 người), cán bộ tham vấn (06 người), quản gia (01
người), bảo vệ (01 người).
9.3 Thảo luận nhóm
Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi thực hiện 01 thảo luận nhóm gồm 08 người: cán bộ
quản lý, cán bộ tham vấn, cán bộ dự án, nhân viên xã hội tại NNBY.
9.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Trong nghiên cứu này nghiên cứu và thực hành, thực nghiệm trên 02 trường hợp phụ nữ bị
bạo lực gia đình tại NNBY
9.5. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Hiện nay tại NNBY hiện có 10 phụ nữ bị bạo lực gia đình đang tạm trú và 15 cán bộ nhân
viên, do cỡ mẫu ít nên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu tổng thể bằng bảng hỏi: phụ nữ bị bạo
lực tại NNBY (10 người), Cán bộ NNBY (15 người). (Do cỡ mẫu ít nên chúng tôi không tính tỷ
lệ % mà tính số tuyệt đối)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I - Tài liệu tiếng Việt
1. Công tác Tham vấn trẻ em - giới thiệu thực hành Tập 1, Tập 2 (2000) TP Hồ Chí Minh.
2. Trần Thị Minh Đức (2002), Một số vấn đề cơ bản của tâm lý học tư vấn, đề tài nghiên cứu,
Đại học Quốc gia – Hà Nội.
3. Trần Thị Minh Đức, (2011) Tham vấn, NXB Đại học Quốc gia HN.
4. Nguyễn Văn Gia, Bùi Thị Xuân Mai, (2001) Bài giảng Công tác xã hội, NXB Lao động Xã
hội,
5. Trần Thị Thu Hiền, Nguyễn Văn Thanh, Trương Thu Trà, (2010), Tham vấn, NXB Phụ nữ
6. Nguyễn Thị Thu Hường, Nguyễn Văn Thanh, (2010), Nhập môn Công tác xã hội, NXB
Phụ nữ
7. Tiêu Thị Minh Hường, Lý Thị Hàm, Bùi Thị Xuân Mai, (2007) Giáo trình tâm lý học xã
hội, NXB Lao động Xã hội,
28. Hoàng Bá Thịnh (2002), Vai trò của người phụ nữ nông thôn trong công nghiệp hóa nông
nghiệp nông thôn, Hà Nội.
29. Hoàng Bá Thịnh, (2013), Giới và di cư, NXB ĐH QGTP Hồ Chí Minh
30. Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em – Rada Barnen (1998) Tài liệu tập huấn trẻ em làm trái
pháp luật, Hà Nội.
II - Tài liệu nước ngoài
31. Froehlich W.D (1993) Woererbuch zur Psychologie Deutsher Taschenbuch Velag,
Muenchen.
32. G. Egan(1994), The Skill Helper, Books/Cole.
33. J Lishman (1998), Communication in Social Work, Macmillan.
34. Palmer S (1999 Counseling in a Multicultural Society, London Sage)
35. L Shulman (1984), Skill of helping – Individuals and Group, F.E Peacock.
36. H James H. Jacqueline H.L (1999), Basic Counseling Skills, Books/cole publishing
Company.