CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CAN THIỆP TRỢ GIÚP NỮ CÔNG NHÂN BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI PHƯỜNG KHAI QUANG THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC - Pdf 58

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------ĐÀO PHƯƠNG THÙY

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CAN THIỆP TRỢ GIÚP
NỮ CÔNG NHÂN BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
TẠI PHƯỜNG KHAI QUANG - THÀNH PHỐ VĨNH YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội-2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------ĐÀO PHƯƠNG THÙY

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CAN THIỆP TRỢ GIÚP
NỮ CÔNG NHÂN BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
TẠI PHƯỜNG KHAI QUANG - THÀNH PHỐ VĨNH YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn An Lịch

Hà Nội-2013


MỤC LỤC


còn ảnh hưởng đến xã hội như gây mất trật tự an ninh công cộng, làm gia tăng
tội phạm và các tệ nạn xã hội...
Tại Hội thảo “Thực trạng bạo lực gia đình và các hoạt động can thiệp” tại
Trung tâm Phụ nữ và Phát triển trong 2 ngày, ngày 21 và ngày 22/7/2007, Bà
Nguyễn Thị Thanh Hoà, Uỷ viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam cho biết: “Phụ nữ hiện chiếm 50,8% dân số và 50,6% lực lượng
lao động của cả nước, họ đã có những đóng góp rất lớn cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc và phát triển đất nước. Tuy nhiên, một thực tế mà không chỉ PN
Việt Nam phải đối mặt chính là thực trạng BLGĐ. Đây là vấn đề mang tính toàn
cầu, làm tổn hại đến thể chất, tinh thần của nhiều PN và làm mất ổn định, hạnh
phúc gia đình. BLGĐ xảy ra thường xuyên với tần số cao thường làm giảm sự tự
chủ, tính sáng tạo, gây ra những tổn thương tạm thời hoặc vĩnh viễn về thể chất
và tinh thần của người bị hại. Những nãm gần đây, BLGĐ xảy ra với tính chất
ngày càng nghiêm trọng, có sự gia tãng nhanh chóng đối tượng vi phạm cũng
như nạn nhân ở khắp các vùng miền trong cả nước”[60]
Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về BLGĐ
đặc biệt là BL của người chồng đối với người vợ. Bên cạnh đó, cũng có nhiều
chương trình, dự án phòng chống BLGĐ thông qua nghiên cứu, hành động, can
thiệp ở nhiều tỉnh thành trong cả nước. Những dự án, chương trình can thiệp, trợ
3


giúp này dần từng bước đem lại những hiệu quả tích cực nhằm hạn chế hậu quả
của BLGĐ nhưng những mô hình trợ giúp mới chỉ mang tính thí điểm, chưa mở
rộng cho những PN bị BLGĐ nói chung, mô hình trợ giúp cho những đối tượng
đặc thù chưa có. Vì vậy, việc cụ thể hóa các chương trình, dự án PCBLGĐ đến
từng địa phương, từng ngành từng lĩnh vực hay đến từng nhóm đối tượng đang
trở thành một yêu cầu cần thiết và quan trọng để công tác PCBLGĐ thực sự đem
lại hiệu quả cao nhất.
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, là một trong 8

báo cáo và nghiên cứu khoa học. Theo từng giai đoạn lịch sử, các hình thức
phòng chống BL đối với PN ngày càng có sự chuyển biến.
Sáng kiến phòng chống BLGĐ đối với PN xuất hiện trong kế hoạch hành
động tại Hội nghị phụ nữ Quốc tế lần 1 nãm 1975. Lúc này, các biện pháp chủ
yếu để phòng chống BL đối với PN chỉ ở phạm vi gia đình, trong đó chú ý đến
các biện pháp giáo dục và cung cấp kĩ năng giải quyết xung đột để bảo vệ nhân
phẩm cho các thành viên trong gia đình.
Tại Hội nghị phụ nữ Quốc tế lần 2 nãm 1980 đã thông qua Nghị quyết về
PCBLGĐ đặt trong bối cảnh chăm sóc sức khỏe, y tế. Đồng thời, kêu gọi các
quốc gia xây dựng các chương trình loại bỏ BLGĐ.
Vào năm 1985, tại Hội nghị phụ nữ Quốc tế lần 3, các chiến lược hành
động vì sự tiến bộ của PN đã công nhận BLGĐ diễn ra phổ biến và dưới nhiều
hình thức khác nhau. Do vậy, Hội nghị kêu gọi xây dựng chính sách quốc gia
một cách toàn diện về các hoạt động can thiệp nhằm ngăn chặn tình trạng
BLGĐ. Đồng thời, nâng cao nhận thức của người dân về BLGĐ đối với PN như
là một vấn đề xã hội cần được giải quyết.
Nãm 1992, trong báo cáo của Ủy ban loại bỏ phân biệt đối xử với PN - cơ
quan theo dõi, giám sát thực hiện Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt
đối xử với phụ nữ (gọi tắt là Công ước CEDAW được Đại hội đồng LHQ phê
chuẩn ngày 18/12/1979) đã khẳng định BLGĐ đối với PN xuất phát từ nguyên
nhân BBĐG. Trong báo cáo nêu rõ nhận định BLGĐ đối với PN ảnh hưởng

5


nghiêm trọng đến quyền con người và thông qua nhiều hoạt động đóng góp việc
giải quyết vấn đề này.
Tuyên bố Viên và chương trình hành động được Đại hội đồng LHQ thông
qua tháng 12/1993 tại thủ đô nước Áo có đoạn viết: “BL đối với PN là sự thể
hiện quan hệ bất bình đẳng mang tính lịch sử giữa nam và nữ, dẫn đến sự thống

58/185 đề nghị chuẩn bị báo cáo nghiên cứu chuyên sâu về các hình thức BLGĐ
từ đó có những hoạt động can thiệp nhằm góp phần giải quyết vấn đề này.
Trong những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu về BLGĐ ở
trên thế giới và ở Việt Nam, sau đây là một số công trình tiêu biểu:
2.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới
Báo cáo “Nghiên cứu sâu về bạo hành với phụ nữ” của Nguyên Tổng
thư kư LHQ Kofi Annan được trình bày tại Kỳ họp lần thứ 61 của Đại hội đồng
LHQ thể hiện rõ tình hình BL với PN đang diễn ra ở 71 quốc gia thuộc phạm vi
nghiên cứu. Trong báo cáo, Tổng thư ký làm rõ các yếu tố và nguy cơ gây ra BL
với PN là việc sử dụng BL để giải quyết xung đột; sự thờ ơ của nhà nước và các
nguy cơ ở cấp độ cá nhân, gia đình, cộng đồng. Những hoạt động có triển vọng
nhằm giải quyết vấn nạn này chú trọng vào luật pháp, cung cấp dịch vụ và phòng
ngừa. Tuy nhiên, thách thức đặt ra cho nhân loại không ít - thách thức do: những
nỗ lực khác nhau và những nguồn lực không tương xứng; thiếu hụt cách tiếp cận
toàn diện và có lồng ghép; thiếu ngân quỹ; thiếu sự xử phạt; những hình thức
phân biệt đối xử và thiếu việc đánh giá.[17]
Nãm 1992, tác giả Margaret Schuler (chủ biên) và các cộng sự có tác
phẩm “Freedom from Violence - Women’s Strategies from Around the World”
(Tự do từ bạo lực - Chiến lược toàn cầu của phụ nữ) đã phản ánh tình trạng BL
chống PN tồn tại từ các nước phát triển như Mỹ đến các nước đang phát triển ở
châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh. Tính đa dạng của hoàn cảnh, văn hóa, nguyên
nhân, các hình thức BL...mà tác giả đề cập đã nói lên tính phổ biến của các dạng
BL chống PN trong đó có BLGĐ. Tác phẩm đã cung cấp một cái nhìn toàn cảnh
về vấn đề và chiến lược liên quan đặc biệt đến BL giới - đó là mở rộng chương
trình tuyên truyền vận động, giáo dục, cải cách luật pháp và hành động chống BL
đối với PN.[49]
7


Nãm 1994, với tác phẩm “Loving to Survive - Sexual Terror Men’s


women first: Ethical and Safety Recommendations for Research on Domestic
Violence Against Women” (Đặt PN lên hàng đầu: Các khuyến nghị về an toàn
và đạo đức cho nghiên cứu về BLGĐ đối với PN) trong đó nêu rõ các khuyến
nghị cần thiết khi nghiên cứu về BLGĐ đối với PN, đó là:
- Sự an toàn của người trả lời và của nhóm nghiên cứu là sự quan trọng tối
cao và sẽ định hướng cho toàn bộ các quyết định trong dự án.
- Các cuộc điều tra rộng rãi cần phải có một phương pháp luận đúng đắn
và phải được xây dựng trên những kinh nghiệm nghiên cứu hiện hành về vấn đề
này.
- Tính bảo mật là điều cần thiết để đảm bảo cho cả sự an toàn của các PN
tham gia điều tra và cả chất lượng của số liệu
- Tất cả các thành viên của nhóm nghiên cứu cần được lựa chọn cẩn thận
và được tập huấn chuyên môn cũng như được hỗ trợ thường xuyên
- Thiết kế nghiên cứu phải bao gồm cả các hành động nhằm mục đích
giảm tất cả những nỗi đau khổ mà nghiên cứu có thể gây ra cho người tham gia
điều tra
- Điều tra viên cần được tập huấn để chỉ dẫn cho những người PN yêu cầu
được trợ giúp đến các dịch vụ hỗ trợ hoặc các nguồn hỗ trợ của địa phương - nơi
mà có ít nguồn lực, dự án nghiên cứu có thể cần tạo ra những cơ chế hỗ trợ ngắn
hạn
- Các cán bộ nghiên cứu và nhà tài trợ có quy định về đạo đức để giúp
đảm bảo rằng những kết quả nghiên cứu của họ có thể được hiểu và được dùng
một cách đúng đắn nhằm nâng cao sự phát triển của chính sách và các biện pháp
can thiệp
- Chỉ nên đưa các câu hỏi về BL vào các cuộc điều tra được thiết kế cho
mục đích khác khi đạt được các yêu cầu về phương pháp luận và về đạo đức.[50]
Nãm 2008, tác giả Trần Đình Tuấn có bản dịch “Code of Ethics of the
National Association of Social Worker - approved by the 1996 NASW Delegate
Assembly and revised by the 2008 NASW Delegate Assembly” (Quy tắc đạo đức

Quảng Ngãi, Đồng Tháp, Trà Vinh trong năm 2006 cho thấy: Phần lớn nhận thức
của người dân về BLGĐ còn hạn chế. Có những hành vi BL nhưng người dân
10


không quan niệm đó là hành vi BL như ép buộc làm chuyện gì đó, ép buộc quan
hệ tình dục, ép buộc không cho ra khỏi nhà…Bên cạnh đó, người dân cũng cho
rằng BLGĐ là chuyện riêng của mỗi nhà. Điều đáng quan tâm là không chỉ
người dân mà cán bộ xã/phường đều quan niệm BLGĐ là chuyện nội bộ, tự gia
đình giải quyết. Về hậu quả của BLGĐ đối với PN nghiên cứu trích ra một số
hậu quả: Gây thương tích thân thể, tổn thương tinh thần, ly hôn… Đáng chú ý là
hậu quả của BLGĐ có thể dẫn đến cái chết trực tiếp hoặc gián tiếp của PN. Phần
lớn những trường hợp chết gián tiếp là do nạn nhân tự tử bằng việc dùng thuốc
bảo vệ thực vật.[37]
Cùng năm này, nghiên cứu “BL của chồng đối với vợ ở Việt Nam trong
những năm gần đây” của nhóm tác giả: Nguyễn Hữu Minh, Lê Ngọc Lân,
Nguyễn Thị Mai Hoa, Trần Thị Cẩm Nhung - Viện Gia đình và Giới có nhận
định: Chủ thể gây ra BLGĐ là người chồng, người bạn đời hoặc chồng cũ. Tác
giả cũng nhấn mạnh sự khác nhau về hình thức BL giữa nông thôn và thành thị.
Ở nông thôn thường diễn ra các hình thức BL về thể chất, ở thành thị thường xảy
ra BL về tinh thần và tình dục. Thông qua nghiên cứu, nhóm tác giả đưa ra một
số khuyến nghị như: Cần nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo về BLGĐ đối
với PN. Đồng thời, cần tiến hành nghiên cứu toàn diện về BL trong gia đình
nhằm tìm hiểu sâu về nguyên nhân, hậu quả của vấn đề để có những biện pháp
can thiệp kịp thời, hợp lý.
Năm 2000, trong tác phẩm “Domestic Violence in Vietnam” do tổ chức
Asia Pacific forum on Women, Law and Development (APWLD) xuất bản, tác
giả Lê Thị Qúy dựa trên những số liệu, dẫn chứng cụ thể đã khẳng định hậu quả
của BLGĐ là: “Để lại những di chứng nặng nề trên đời sống tình cảm, tinh thần,
nhận thức của nạn nhân, là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tan vỡ gia đình...”[33]

vi BL; nếu tác động vào mặt nhận thức và hành vi của họ sẽ giúp họ phòng tránh
kịp thời và có cuộc sống tốt đẹp hơn.[4]
Trong nãm 2007, hai tác giả Lê Thị Qúy và Đặng Vũ Cảnh Linh có tác
phẩm “BLGĐ - một sự sai lệch giá trị”. Bên cạnh những vấn đề lý luận về
BLGĐ, hai nhà nghiên cứu đã có những mô tả, phân tích, nhận xét rất chi tiết
một số nghiên cứu can thiệp trong thực tiễn về BLGĐ và BL chống PN trong gia
12


đình, một số dự án PCBLGĐ ở Việt Nam tại các địa bàn: Hà Nội, Phú Thọ, Thái
Bình, Thừa Thiên Huế. Nhiều mô hình PCBLGĐ được đưa ra phân tích: Mô
hình truyền thông; mô hình can thiệp, cứu giúp nạn nhân; mô hình tư vấn, hỗ trợ
về tâm lý và giáo dục; mô hình can thiệp tại cộng đồng. Trên cơ sở đánh giá hiệu
quả, hạn chế của một số mô hình đã thực hiện tại địa phương các tác giả đã rút ra
nhiều bài học kinh nghiệm qúy báu cho công tác PCBLGĐ ở nước ta.[34]
Theo các tác giả Nguyễn Hữu Minh và Lê Ngọc Lân - Viện nghiên cứu Gia
đình và Giới với nghiên cứu “BLGĐ đối với PN Việt Nam và những yếu tố tác
động” năm 2007 đã phân BLGĐ thành 3 loại:
 BL thân thể: Đánh đập, làm tổn thương thể xác.
 BL tinh thần: Bao gồm cả lời nói và tình cảm như lăng mạ, chửi rủa,
mắng mỏ, đe dọa, chiến tranh lạnh, ngoại tình,…
 BL tình dục: Cưỡng ép vợ trong quan hệ tình dục trái với ý muốn của
người vợ.[20]
Đề tài luận văn thạc sĩ "Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân - nghiên
cứu trường hợp tại xã Gia Vượng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình và
phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Kim Dung do
PGS.TS Hoàng Bá Thịnh hướng dẫn đã phản ánh kết quả: Cưỡng bức tình dục
trong hôn nhân xảy ra phổ biến tại địa bàn nghiên cứu và để lại nhiều hậu quả
nghiêm trọng về thân thể, tâm lí và xã hội cho người PN. Tình trạng này xảy ra
không phụ thuộc vào vị trí địa lí, tầng lớp xã hội, độ tuổi hay trình độ văn hoá và

thương tâm lý rất nặng nề nhưng lại khó nhận biết; đặc điểm tâm lý của người
PN khi bị chồng BL về tinh thần diễn biến theo một vòng tròn: Khi bị chồng BL
thì đau đớn, mệt mỏi, giận dữ; sau những ăn năn, hứa hẹn của người chồng thì
họ lại tha thứ, thương hại; sau đó, người chồng vì mọi lý do lại hành hạ vợ về
tinh thần, có khi cả thể xác, tình dục. Cứ như vậy, vòng tròn BL tiếp tục quay và
người PN khó có thể dứt ra được.[7]
Nãm 2010, Tổng cục thống kê phối hợp với tổ chức LHQ tại VN thực hiện
“Nghiên cứu quốc gia về BLGĐ đối với phụ nữ ở Việt Nam”. Kết quả nghiên
cứu đã đưa ra những con số đáng báo động về tình hình BLGĐ ở nước ta: Nếu
xem xét đến cả ba hình thức bạo hành chính trong đời sống vợ chồng - thể xác,
14


tình dục và tinh thần, thì có hơn một nửa (58%) PN Việt Nam cho biết đã từng là
nạn nhân của ít nhất một hình thức BLGĐ kể trên. Mặc dù BLGĐ là một hiện
tượng rất phổ biến nhưng vấn đề này vẫn bị giấu diếm nhiều. Báo cáo này cũng
nêu bật tính cấp thiết của việc phá bỏ sự im lặng để giải quyết BLGĐ.[36]
Liên quan đến khách thể nghiên cứu trong đề tài này, nãm 2011, Liên đoàn
lao động tỉnh Vĩnh Phúc có công trình nghiên cứu “Thực trạng và các giải pháp
nhằm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho công nhân lao động trong các
khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” đã chỉ rõ: hầu hết các
doanh nghiệp chưa chú trọng nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho công
nhân lao động; rất nghèo nàn; đời sống vãn hóa tinh thần của công nhân lao động
trong các KCN hết sức khô khan; các hoạt động chủ yếu: phổ biến, tuyên truyền
chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước, tổ chức giao lưu văn hóa... ít được
quan tâm. Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà
nước mới chỉ được một số luật như: Luật lao động, Luật công đoàn, Luật bảo
hiểm xã hội...mà chưa có Luật PCBLGĐ; các tổ chức công đoàn cơ sở được
thành lập nhưng chưa được quan tâm đúng mức, chưa phát huy được vai trò chủ yếu quan tâm việc thăm hỏi khi ốm đau, hiếu, hỉ...[18]
Cũng trong năm 2011, Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc có đề tài

pháp như cảnh sát, tòa hình sự, tòa dân sự và tăng cường mối liên kết giữa hệ
thống luật pháp và các nguồn khác như nhà tạm lánh dành cho những PN bị đánh
đập và các chương trình vận động. Cách tiếp cận này đã được nhân rộng ở rất
nhiều quốc gia trên khắp thế giới, bao gồm một số quốc gia tại Trung và Đông
Âu. Tuy nhiên, việc duy trì nhà tạm lánh đòi hỏi nhiều nguồn lực. Thay vì nhà
tạm lánh, nhiều nước trong khu vực thành lập các địa chỉ an toàn nơi mà PN có
thể lánh nạn như đền thờ, nhà thờ.
• Ở Australia, Canada, châu Âu
Các nước này áp dụng mô hình là tập hợp những người gây BL theo từng
nhóm và thảo luận về vai trò giới, hướng dẫn họ phương pháp kiềm chế nóng
giận, căng thẳng và cách thể hiện cảm giác đối với người khác, giúp họ ư thức
được trách nhiệm đối với hành động của mình. Mô hình này bước đầu có hiệu
quả vì nhiều PN cho biết chồng họ có cách xử tốt hơn sau khi tham gia khoá học.
16


Ưu điểm của mô hình là nội dung thảo luận đơn giản vì vậy có thể tập hợp được
nhiều nam giới tham gia. Thông qua mô hình cũng làm tăng nhận thức của nam
giới về hành vi BL đối với PN để họ có cách xử sự phù hợp với PN. Tuy nhiên,
mô hình này chưa đề cập đến thời gian của khoá học và những chế tài đối với
những người không tham gia khoá học. Vì vậy, sau một thời gian thực hiện, mô
hình này chưa mang lại hiệu quả vì nam giới không tham gia khóa học.
• Ở Braxin
Tại đây, nhà nước xây dựng mô hình đồn cảnh sát toàn PN. Việc xây dựng
mô hình này giúp các nạn nhân dễ dàng chia sẻ hơn khi gặp nạn. Song, trong mô
hình lại thiếu các dịch vụ tư vấn pháp lý và hỗ trợ cho nạn nhân. Thêm vào đó,
việc có những đồn cảnh sát dành riêng cho PN khiến cho những đơn vị cảnh sát
khác từ chối đơn khiếu nại của PN trong những trường hợp khẩn cấp. Ngoài ra,
có nhiều đồn cảnh sát toàn PN ở quá xa vì vậy PN thường đến những đồn cảnh
sát gần hơn để được trợ giúp.

cùng xây dựng là mô hình “Ngôi nhà bình yên” (Nhà tạm lánh) dành cho những
nạn nhân của BLGĐ. Các nạn nhân khi đến “Ngôi nhà bình yên” đều được hỗ trợ
về nơi ăn ở an toàn, chăm sóc sức khỏe, giải quyết các vấn đề tâm lý, hỗ trợ dạy
nghề, tham gia các buổi nói chuyện chuyên đề về chăm sóc sức khỏe sinh sản, kỹ
năng giao tiếp. Những PN là nạn nhân của BLGĐ sẽ lưu trú tối đa là 4 tháng.
Đây là mô hình giúp cho những nạn nhân bị BLGĐ cách ly được với người gây
ra BL. Tuy nhiên, sau thời gian lưu trú vấn đề đặt ra là làm thế nào để các nạn
nhân tự tin tái hoà nhập cộng đồng. Vì vậy, việc đưa nạn nhân vào “Nhà tạm
lánh” chỉ là biện pháp tạm thời nhưng lâu dài cần phải phối hợp đồng bộ nhiều
biện pháp khác nhau.
* Mô hình CLB “Cùng chia sẻ” là mô hình do Trung tâm nghiên cứu và
ứng dụng khoa học về Giới - Gia đình - Phụ nữ và Vị thành niên (CSAGA) kết
hợp với Hội Phụ nữ quận Cầu Giấy thành lập dưới sự tài trợ của CLB Phụ nữ
Quốc tế Hà Nội (HIWC). CLB “Cùng chia sẻ” dành cho các nạn nhân của
BLGĐ được thành lập từ năm 2005. Tại đây, CSAGA tham gia với vai trò điều
hành và tổ chức các hoạt động bằng phương pháp nghệ thuật và sáng tạo nhằm
giúp các thành viên CLB phá vỡ sự im lặng, chia sẻ các câu chuyện của mình và
18


học hỏi kinh nghiệm từ các thành viên khác và sự tư vấn của các chuyên gia của
CSAGA... CLB sinh hoạt định kì 1 tháng/1 lần. Đến với CLB, các chị em được
cung cấp những thông tin, kiến thức liên quan đến về BLGĐ, giới, BĐG, kỹ
năng sống để xây dựng gia đình hạnh phúc. Bên cạnh đó, chị em cũng được
hướng dẫn và cùng thảo luận những biện pháp phòng tránh và giải quyết vấn đề
BLGĐ.
* CLB Gia đình phát triển bền vững và Nhóm PCBLGĐ
Mô hình do Bộ văn hóa, thể thao và du lịch xây dựng và triển khai, nhận
được sự tham gia hưởng ứng của 63 tỉnh, thành phố trên cả nước. Các CLB tập
trung giáo dục ứng xử giữa các thành viên trong gia đình; kỹ năng giữ gìn hạnh

giá dựa trên sự thay đổi của nạn nhân và cuối cùng là phải làm sao nạn nhân thực
sự mạnh mẽ khi trở về với cộng đồng. Muốn vậy, can thiệp phải cụ thể với từng
người, trong từng hoàn cảnh khác nhau trong khi các mô hình được xây dựng lại
dựa trên kết quả khảo sát rất nhiều đối tượng khác nhau. Do vậy, vận dụng
CTXH để can thiệp với từng đối tượng cụ thể bị BLGĐ là rất cần thiết.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
. .Đề tài sử dụng các lý thuyết làm phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu
và can thiệp: Lý thuyết hệ thống - sinh thái; Lý thuyết can thiệp khủng hoảng;
Lý thuyết nhận thức hành vi và Lý thuyết gắn bó. Quá trình thực hiện cũng như
kết quả can thiệp làm sáng tỏ ý nghĩa, sự vận dụng của các lý thuyết vào một
lĩnh vực/ một đối tượng cụ thể trong CTXH.
Đề tài góp phần làm rõ mối liên hệ giữa kiến thức, kỹ năng và giá trị trong
ứng dụng CTXH vào thực tế.
Đề tài thể hiện quá trình nghiên cứu và can thiệp về một vấn đề cụ thể, với
một đối tượng cụ thể trong CTXH, qua đây nhằm góp phần hình thành một cách
nhìn mới về BLGĐ, về giới, về gia đình, về vai trò của NVCTXH đối với một
nhóm đối tượng đặc thù trong CTXH là những NCN bị BLGĐ.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn

20


Việc can thiệp giúp cho chính bản thân NCN là nạn nhân của BLGĐ nâng
cao nhận thức, nâng cao năng lực để có thể tự lực thoát khỏi tình trạng BLGĐ và
giúp đỡ những chị em cùng cảnh ngộ.
Quá trình can thiệp còn giúp cho gia đình của NCN bị BL nhận thức đúng
đắn hơn về vấn đề này để có thể trợ giúp cho chị em thoát khỏi và phòng tránh
BLGĐ. Đặc biệt là đối với người nam giới trong gia đình, người gây ra BL sẽ
thay đổi suy nghĩ, hành động để không gây ra BLGĐ với người phụ nữ.

- Người dân nơi NCN sinh sống
5.2. Vấn đề nghiên cứu và can thiệp
BLGĐ đối với NCN tại phường Khai Quang - thành phố Vĩnh Yên - tỉnh
Vĩnh Phúc.
6. Phạm vi nghiên cứu và can thiệp
- Thời gian: Năm 2012 - 2013.
- Không gian: Phường Khai Quang - thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh
Phúc.
- Giới hạn nội dung can thiệp: Đề tài tập trung can thiệp vấn đề BL tinh
thần của người chồng đối với người vợ là công nhân hiện đang sinh sống và làm
việc tại phường Khai Quang - thành phốVĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.
7. Câu hỏi nghiên cứu
Tình trạng BLGĐ đối với NCN tại địa bàn nghiên cứu diễn ra như thế
nào?
Địa phương đã làm gì trước thực trạng BLGĐ đối với PN, NCN và hiệu
quả của những biện pháp đó?
Sự cần thiết của CTXH trong việc can thiệp trợ giúp cho đối tượng NCN
bị BLGĐ tại địa bàn nghiên cứu như thế nào?
Vai trò của CTXH trong việc can thiệp trợ giúp cho đối tượng TC cụ thể
như thế nào?
8. Phương pháp nghiên cứu và can thiệp
22


8.1. Phương pháp luận
Đề tài dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận khoa học. Đó là các quan
điểm: toàn diện, lịch sử, cụ thể, phát triển và một số học thuyết, lý thuyết của Xã
hội học, Công tác xã hội, các quan điểm của Đảng và các quan điểm hệ thống...
Vận dụng những quan điểm, học thuyết, lý thuyết đó, trong quá trình nghiên cứu,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status