Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Lao động, việc làm luôn là vấn đề được quan tâm ở hầu hết các quốc
gia trên thế giới. Việt Nam là một quốc gia có truyền thống sản xuất nông
nghiệp, lực lượng lao động nông thôn chiếm 74,5% (2007) trong tổng số lao
động [11]. Giải quyết vấn đề dư thừa lao động và thiếu việc làm là một trong
những yếu tố góp phần cho công cuộc xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo
dục và nâng cao dân trí.
Hiện nay, quá trình đô thị hóa đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi
cả nước nói chung và ở Thừa Thiên Huế nói riêng. Thành phố Huế là đô thị
loại 1, hiện là thành phố trực thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế, xu thế đô thị hoá là
một tiến trình tất yếu. Đi cùng với tiến trình đó, hạ tầng kĩ thuật và hạ tầng
xã hội ở các khu vực dân cư xung quanh cũng được cải tạo và nâng cấp đồng
bộ. Đời sống của người dân có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực, hệ
thống y tế, giáo dục, giao thông ngày càng được cải thiện hơn. Tuy nhiên
bên cạnh những tác động tích cực, vẫn còn có không ít những bất cập, tồn tại
đặt ra cần phải giải quyết, đặc biệt là vấn đề lao động - việc làm. Cùng với
quá trình đô thị hoá là xu hướng diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu
hẹp và cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp đã
tất yếu dẫn đến việc chuyển đổi cơ cấu lao động và việc làm của người dân,
ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của họ. Đối với một bộ phận lớn dân cư
bị rơi vào tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm khi bị thu hồi đất đai phục
vụ mục tiêu đô thị hoá; tỷ lệ người lao động làm việc không ổn định ngày
càng cao; chuyển đổi ngành nghề, nơi làm việc diễn ra càng nhiều; sẽ tiếp
tục có sự phân hoá về học vấn, thu nhập, điều kiện hưởng thụ văn hoá và
mức sống.
Một vấn đề lớn cần quan tâm nữa là các dòng dân di cư tới các thành
phố lớn tìm việc làm ngày càng tăng nhưng với trình độ thấp và không có
tay nghề nên kiếm việc làm khó khăn; vấn đề thất nghiệp, sự nghèo túng có
tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của người lao động.
trong nền kinh tế quốc dân[2], [8]. Việc quy định độ tuổi lao động là khác
nhau giữa các nước, thậm chí khác nhau ở các giai đoạn của mỗi đất nước.
Điều đó tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế.
Theo thống kê của Việt Nam hiện hành bao gồm những người trong độ
tuổi lao động có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động
có tham gia lao động. Những người trong độ tuổi lao động là nam từ 15-60
tuổi, nữ từ 15- 55 tuổi.
-!"#&'(: Là những người đang có việc làm để tạo ra
thu nhập, thời gian làm việc chiếm nhiều thời gian nhất trong các công việc
mà người đó tham gia. Lao động đang làm việc không giới hạn trong độ tuổi
lao động mà bao gồm cả những người ngoài độ tuổi đang tham gia lao động
[2].
-!"#)"#*: Là những lao động trong độ tuổi theo quy
định của Nhà nước có nghĩa vụ và quyền lợi đem sức lao động của mình làm
việc cho xã hội [2]. Theo quy định của luật lao động hiện hành, độ tuổi lao
động tính từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ 15 đến hết 55 đối với nữ, tính
theo năm dương lịch.
-!"#"#*: Là những lao động chưa đến hoặc quá tuổi
lao động quy định của Nhà nước: bao gồm nam trên 60 tuổi; nữ trên 55 tuổi;
thanh niên dưới 15 tuổi [2].
3
!"#
+ ,-(&"#
Theo Trần Hồi Sinh, 2006, “Cơ cấu” hay “kết cấu” là một phạm trù
phản ánh cấu trúc bên trong của một hệ thống, là tập hợp những mối quan hệ
cơ bản tương đối giữa các yếu tố cấu thành nên đối tượng đó, trong một thời
gian nhất định.
Lao động bao giờ cũng là nguồn gốc của mọi của cải. Lao động là hoạt
động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra của cải để phục vụ
niên), nhóm từ 55 tuổi trở lên (lực lượng lao động cao tuổi trở lên).
"#0")2#3'45&678
Cơ cấu lao động theo trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật là quan hệ
tỷ lệ và xu hướng vận động giữa các loại lao động có trình độ học vấn,
chuyên môn kỹ thuật khác nhau [8] và được phân chia như sau:
"#0")2#3'
Trình độ học vấn thể hiện được sự hiểu biết của con người, nền văn hoá
văn minh của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Trình độ học vấn là tiền đề để con
người đi vào tìm hiểu và khám phá lĩnh vực khác như khoa học, văn hoá
nghệ thuật, Ở nước ta, trình độ học vấn được chia như sau: cấp I, cấp II,
cấp III. Ngày nay, khoa học luôn luôn thay đổi để có thể tìm được việc làm
dễ dàng thì người lao động cần phải có kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ,
nhưng nền tảng của nó lại là một trình độ học vấn nhất định. Cơ cấu lao
động theo trình độ học vấn: là tỷ lệ lao động mù chữ, lao động đã tốt nghiệp
tiểu học, lao động đã tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông.
"#0")2#5&678
Chuyên môn kỹ thuật thể hiện trình độ chuyên môn nghề nghiệp, tay
nghề của người lao động. Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn kỹ
thuật: lao động được chia thành lao động có chuyên môn kỹ thuật và lao
động phổ thông. Trong đó, lao động phổ thông là lao động chưa qua đào tạo
với công cụ sản xuất thủ công, lạc hậu, năng suất thấp. Lao động có chuyên
môn kỹ thuật lại được chia thành các loại: lao động có trình độ công nhân kỹ
thuật; có trình độ sơ cấp; có trình độ trung học chuyên nghiệp; lao động có
trình độ cao đẳng, đại học và trên đai học. Trong mỗi ngành kinh tế, ở mỗi
trình độ phát triển có cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật khác nhau.
5
"#0"7:
Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế thể hiện tỷ lệ lực lượng lao động
trong ba nhóm ngành lớn là nông – lâm – thuỷ sản, công nghiệp xây dựng,
thương mại và dịch vụ và theo các phân ngành trong từng nhóm ngành [4].
dần, tỷ trọng và số lượng tuyệt đối lao động trong công nghiệp ngày càng
tăng lên.
Tỷ trọng lao động trí tuệ ngày càng tăng và chiếm ưu thế so với lao
động giản đơn trong tổng lao động xã hội.
Tốc độ tăng lao động ngành dịch vụ nhanh hơn công nghiệp và
nông nghiệp.
$%&!'()'!"#
Chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp có năng suất lao động thấp
sang phát triển một số ngành nghề có năng suất lao động cao như công
nghiệp – xây dựng, thương mại – dịch vụ, chuyển lao động ở những vùng
đông lao động không cân đối với tài nguyên, sang vùng ít lao động, nhiều tài
nguyên, tăng lao động ở thành thị… sẽ làm thay đổi số lượng và cơ cấu lao
động. Đó là xu hướng tất yếu của phân công lại lao động xã hội. Thực hiện
phân công lại lao động xã hội, sẽ làm chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các
ngành, các khu vực, các vùng và trong nội bộ ngành, vùng thay đổi.
Lý thuyết và kinh nghiệm ở các nước công nghiệp tiên tiến đã cho biết,
tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ tăng lên nhanh chóng, tỷ trọng lao
động giảm đi rõ ràng, khiến sản xuất và đời sống của các nước này tăng
mạnh.
Chuyển dịch cơ cấu lao động nhằm nâng cao năng suất lao động, nâng
cao đời sống của người lao động thúc đẩy sản xuất phát triển. Chuyển dịch
cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là giảm tỷ trọng
lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp – xây dựng,
thương mại – dịch vụ sẽ tạo điều kiện tích lũy vốn để tiếp tục chuyển đổi cơ
cấu kinh tế và chuyển dịch lao động đúng hướng, hiệu quả.
Nhiều điển hình, nhiều gương sáng trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế và
cơ cấu lao động đã chỉ rõ: Chỉ cần chuyển đổi một cây (cây lúa sang trồng
hoa), một con (từ nuôi lợn sang thủy sản), chuyển một bộ phận lao động
nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ… đã làm cho năng suất lao động
tăng lên nhanh chóng, đời sống nhân dân được cải thiện, có điều kiện tích
thập kỷ 60. Từ năm 2000 đến nay, tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm đều
và tỷ trọng lao động phi nông nghiệp tăng. Năm 2002, tỷ trọng lao dộng
trong nông nghiệp của Thái Lan còn khoảng 33%, tỷ lệ thất nghiệp còn
1,5%, năng suất lao động theo giá trị tuyệt đối giai đoạn 2002-2005 đạt
8
4514,1 USD. Đây là những bước ngoặt trong chuyển dịch cơ cấu lao động
của nước này. Hai chính sách hợp lý được thực hiện ở Thái Lan đó là:
- Đa dạng hóa hoạt động nông nghiệp gia tăng việc làm thông qua các
hoạt động thương mại. Mặc dù nhận được sự đầu tư của cả nhà nước và tư
nhân, nhưng do lợi nhuận thấp, rủi ro cao, nông nghiệp và nông thôn Thái
Lan đang phát triển theo hướng đa dạng hóa. Trong chính sách sản xuất
nông nghiệp, việc đa dạng hóa được thực hiện bắt đầu bằng việc trồng nhiều
loại cây thay vì chỉ trồng lúa và cao su như trước đây; bước tiếp theo là đa
dạng hóa nội bộ nghành chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản sang hệ thống
canh tác đa dạng, nhờ đó hàng nông nghiệp sản xuất của Thái Lan được mở
rộng từ hai hàng hóa truyền thống là lúa, cao su sang bột sắn, gà, tôm tươi
đông lạnh.v.v
- Gia tăng các nhân tố ảnh hưởng tích cực tới việc làm gồm: Nhu cầu
về hàng hóa và dịch vụ phi nông nghiệp tăng; chỉ tiêu của chính phủ cho
phát triển nông thôn và cơ sở hạ tầng trên toàn đất nước; các chuwong trình
xúc tiến phát triển doanh nghiệp phi nông nghiệp, đặc biệt đối với hoạt động
sản xuất dệt lụa và vải bông, hàng hóa thủ công mĩ nghệ; có nhiều điểm thu
hút khách du lịch vào Thái Lan, công tác xúc tiến du lịch khá hiệu quả nhờ
đó giúp tăng việc làm phi nông nghiệp.
0!"#123.45)
6!
Những năm qua, cơ cấu ngành đã đạt được những bước tiến nhất định.
Trong ba khu vực kinh tế lớn (nông nghiệp, công nghiệp – xây dựng, dịch
vụ) thì khu vực công nghiệp xây dựng có tốc độ tăng trưởng cao hơn hai khu
vực còn lại và cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế nên tỷ trọng
Về cấu lao động theo trình độ chuyên môn: Tỷ trọng lao động chưa qua
đào tạo chiếm khoảng 70%, tỷ trọng lao động qua đào tạo chiếm 30%, trong
đó tỷ trọng đã qua đào tạo chính thức chỉ chiếm 15%. Cho thấy rõ một điều,
nền kinh tế đang thiếu thốn trầm trọng lao động chuyên môn, mất cân đối
trong cơ cấu đào tạo nghề, có tới 85% số học sinh học nghề ngắn hạn, chỉ có
15 % học nghề dài hạn. Do vậy, chất lượng lao động qua đào tạo nghề còn
thấp. Cơ cấu đào tạo chuyển biến tích cực nhưng chậm, tỷ lệ giữa những
người tốt nghiệp cao đẳng, đại học/ trung học chuyên nghiệp/ công nhân kỹ
thuật là 1/1, 16/0.95. Theo kinh nghiệm các nước tiên tiến, sản xuất sẽ phát
10
triển khi có một cơ cấu đội ngũ nhân lực hợp lý và có có cơ cấu trình độ
chuyên môn kỹ thuật tương ứng là 1/4/10. Với cơ cấu đào tạo như hiện nay
ở nước ta, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và kinh doanh còn rất
nhiều khó khăn.
/7*!"#123
Ở Việt Nam vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động cũng được sự quan
tâm nhiều của các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách. Lê Hồng Thái,
2002, nghiên cứu về “thực trạng lao động việc làm nông thôn” chỉ ra những
nguyên nhân dẫn đến dịch chuyển chậm lao động ở nông thôn là: việc phân
bố dân cư không đồng đều giữa các vùng, đất nông nghiệp/người quá thấp
lại có xu hướng ngày càng thấp hơn khiến nông dân có ít tích lũy cho phát
triển sản xuất phi nông nghiệp, chất lượng lao động ở nông thôn quá thấp
dẫn đến khả năng chuyển đổi nghề thấp.
Thân Văn Liên và cộng sự, 1997, “phân tích thực trạng chuyển dịch cơ
cấu lao động thông qua di cư nông thôn - thành thị ở Hà Nội và Huế” cho
rằng các yếu tố kinh tế – xã hội yếu kém ở nông thôn là những lực đẩy và sự
hấp dẫn ở cuộc sống đông thị là những lực hút làm tăng sự di cư nông thôn
thành thị hiện nay. [1]
Nguyễn Văn Tài, 1998,và Đỗ Văn Hòa, 1999, đưa ra các kết luận quan
trọng là di dân là kết quả tất yếu của quá trình phát triển kinh tế xã hội. Di
)6!
Thừa Thiên Huế (TTH) là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ, có 70,3%
dân số sống ở nông thôn. Cũng như thực trạng chung của cả nước, tỷ lệ sử
dụng thời gian lao động của lao động nông thôn TTH còn thấp; chất lượng
và cơ cấu lao động chuyển dịch còn chậm; năng suất lao động thấp, thu nhập
chưa cao; đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn; tình trạng di dân
tự do vào đô thị đã diễn ra khá phổ biến ở các vùng đông dân cư. Thực trạng
trên là áp lực rất lớn đối với lao động nông thôn TTH. Vì vậy, tìm ra những
giải pháp để tạo việc làm, tăng thu nhập tại chỗ cho lao động nông thôn TTH
là yêu cầu bức thiết hiện nay.
Năm 2009, dân số của TTH là 1.087.579 người (608.914 lao động).
Trong đó 70,3% là sống ở nông thôn. Hiện ở khu vực nông thôn, số người
không biết đọc biết viết chiếm 80,8% toàn tỉnh, 99,06% số người làm việc
12
mà không có trình độ chuyên môn. Số người có trình độ đại học và trên đại
học chỉ chiếm 0,16% [13].
Cơ cấu việc làm của lao động nông thôn Thừa Thiên Huế:Ở vùng núi
TTH, tỷ trọng lao động thuần túy làm nghề nông chiếm đến 77,6%. Trong
khi đó, ở vùng đồng bằng chỉ có 51%. Chứng tỏ sự phân công lao động ở
vùng đồng bằng diễn ra theo chiều hướng tích cực hơn. Riêng ở vùng biển
và phá Tam Giang, số lao động chuyên đánh bắt và nuôi trồng chiếm đến
94% trong khi đó các ngành nghề khác chiếm tỷ lệ rất nhỏ nông nghiệp,
chuyên dịch vụ 5,8%.
13
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
GHIJK'A&'
$:,;/7
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lao động trong các hộ nông nghiệp
Thôn Đức Bưu, đây là thôn nông nghiệp trọng điểm của phường. Đặc
biệt nơi đây đang thừa lao động và hiện tại đang cung cấp lao động cho các
ngành nghề khác nhau.
- Chọn 60 hộ gia đình ở cả hai thôn Dương Xuân và Đức Bưu của
phường Hương Sơ, thành phố Huế bao gồm 40 hộ nông nghiệp và 20 hộ phi
nông nghiệp.
$$<,>>A>7>
- Dữ liệu thống kê về lực lượng lao động, báo cáo kinh tế xã hội của
phường Hương Sơ giai đoạn 2007-2009.
- Các thông tin bài viết từ tạp chí, báo, tài liệu và các trang web liên
quan đến vấn đề lao động và việc làm.
$$$<,>>A>>
- Phỏng vấn sâu đối với các ban ngành, người am hiểu tại địa phương
tiến hành nghiên cứu là phường Hương Sơ – thành phố Huế.
- Phỏng vấn 60 hộ gia đình bằng bảng hỏi bán cấu trúc.
Thông tin được thu thập trong ba năm từ 2007 – 2009, số lượng mẫu cụ
thể như sau:
Tổng mẫu điều tra là 60 mẫu.
Tổng số nhân khẩu trong 60 mẫu điều tra là: 238 nhân khẩu với 166
lao động đang làm việc.
Số người được phỏng vấn trực tiếp là 60 người.
Số người được phỏng vấn gián tiếp thông qua 60 người trên là: 178
người.
$$B<,>>>6&
MJ-I7&6>
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng trong nghiên cứu nhằm mô
tả thực trạng lao động việc làm tại vùng nghiên cứu.
Thống kê mô tả là tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả và trình
bày số liệu thô và lập bảng phân phối tần số. Tần số là số lần thực hiện của
15
phố Huế. Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đang xảy ra và tiếp tục
phát triển mạnh trong thời gian tới ở thành phố Huế. Do đó, diện tích đất
nông nghiệp ngày càng thu hẹp để nhường chỗ cho các khu vực đô thị. Do
đó, có sự biến động về diện tích đất nông nghiệp và phi nông nghiệp qua
từng năm. Diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm dần qua từng năm từ
2007 đến 2009, trong khi đó thì diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên.
Cụ thể, ở biểu đồ 1 cho thấy, vào năm 2007 diện tích đất nông nghiệp
chiếm 52,21% tổng diện tích đất đai của toàn phường. Qua năm 2008, tỷ
trọng tương ứng là 47,14% và năm 2009 là 45,57%. Như vậy, trong vòng ba
năm từ 2007 đến 2009, diện tích đất nông nghiệp đã giảm đi 6,64%. Toàn bộ
diện tích nông nghiệp này được đưa vào phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng và
quy hoạch lại đô thị như xây dựng trụ sở uỷ ban nhân dân phường, trụ sở
công an phường, các khu chung cư, khu tái định cư Do đó, diện tích đất
phi nông nghiệp tăng lên rõ rệt qua từng năm từ 2007 đến 2009.
17
=9%?=#/(JTUJO
"ABBVCBBW
(Nguồn: Số liệu thứ cấp của UBND phường Hương Sơ trong ba năm từ
2007 – 2009)
Diện tích đất đai có sự biến động giữa diện tích đất nông nghiệp và diện
tích đất phi nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp giảm xuống và diện tích
đất phi nông nghiệp tăng lên. Vậy, điều đó có ảnh hưởng như thế nào tới cơ
cấu dân số và lao động? Chúng tôi tiến hành phân tích cơ cấu dân số và lao
động của phường qua ba năm từ 2007 đến 2009.
Phường Hương Sơ có nguồn lực con người rất dồi dào: có 1.868 hộ với
8.981 nhân khẩu (vào năm 2009) và được chia thành 8 tổ dân phố. Đây là
yếu tố tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất của phường ngày càng phát triển.
18
=>?/NIJTUJO"ABBVLBBW
X H@ BBV BBD BBW
)/người so với
năm 2007. Quá trình đô thị hoá đã ảnh hưởng sâu sắc đến những người nông
dân. Xu hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công
nghiệp và dịch vụ đã kéo theo sự thay đổi về cơ cấu lao động.
Đô thị hoá tạo điều kiện cho việc quy hoạch lại tổng thể mặt bằng của
phường, việc xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị như giao thông, điện, nước, và
các cơ sở hành chính, giáo dục, y tế, văn hoá được thay đổi nhanh chóng làm
thay đổi bộ mặt Hương Sơ trước đây. Trong vòng ba năm trở lại đây, kể từ
khi lên phường vào đầu năm 2007, phường đã chăm lo đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng: như làm mới nâng cấp sửa chữa đường giao thông: đường
19
Nguyễn văn Linh, Tản Đà Hệ thống cấp thoát nước được chú ý nạo vét:
nạo vét, xây kè kênh Nhiêu Lộc, kênh Tham Lương Ngoài ra phường còn
chú ý lắp đặt thêm đường ống nước sạch, cải tạo lưới điện trung thế, hạ thế
cho các khu dân cư… Đặc biệt là phường quan tâm xây dựng mở mang
trường học, trạm xã, nhà ở nhằm cải thiện đời sống cho nhân dân. Hơn nữa,
phường đã thực hiện chương trình nhà ở cho người nghèo, xây dựng hoàn
chỉnh khoảng 50 căn hộ tại các khu chung cư để phục vụ cho việc giải toả
nhà ở cho người có thu nhập thấp…
Với những chuyển biến về kinh tế xã hội như trên, phường Hương Sơ
đã và đang dần chuyển hoá, phát triển để phù hợp với định hướng phát triển
của thành phố trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá.
EHY9&'N7Z'"#A-#)
Số lượng nguồn nhân lực là một chỉ tiêu phản ánh nguồn lao động,
được xác định trong một giới hạn không gian và thời gian nhất định. Để tìm
hiểu về số lượng nguồn nhân lực cần xem xét các chỉ tiêu phản ánh đặc
trưng của nguồn lao động như lao động bình quân/hộ, tổng số lao động/số
nhân khẩu…
Đặc điểm của nguồn nhân lực ở các hộ điều tra được thể hiện qua bảng
3.
phường, đi sâu tìm hiểu tình hình biến động cơ cấu dân số theo độ tuổi và
nhóm tuổi. Ở bảng 4 chỉ ra rằng, có sự chuyển dịch cơ cấu dân số theo
hướng giảm tỷ trọng ở nhóm tuổi 0 – 14 và tăng tỷ trọng dân số ở các nhóm
tuổi còn lại trong vòng ba năm từ 2007 đến 2009.
=>E?/NI0"1&*"ABBVCBBW
$1&* BBV BBD BBW (
\]+
\BBW^BBV+
_
I
M_
)`&
\]+
_
I
M_
)`&
\]+
_
I
M_
)`&
\]+
0 – 14 58 W4aW 55 25,82 54 4FW LF4W
15 – 29 45 4WF 52 24,41 62 F4Ba G4BW
30 – 44 42 21,43 49 23 56 23,53 2,1
45 – 59 45 22,96 50 23,47 56 23,53 0,84
21
>= 60 6 3,06 7 3,29 10 4,2 1,14
* WF BB G BB GD BB
giá là lực lượng nòng cốt và kế cận có khả năng phát huy sức mạnh sáng tạo,
làm tăng năng suất lao động xã hội.
Nếu xét riêng dân số trong độ tuổi lao động của giai đoạn 2007 - 2009,
ta thấy có sự thay đổi rõ về sự chuyển dịch cơ cấu lao động ở các nhóm tuổi
với nhau. Ở bảng 5 chỉ ra lao động trong độ tuổi giảm ở nhóm tuổi 45 – 59
có xu hướng giảm dần qua các năm. Tỷ trọng tương ứng của nhóm tuổi này
qua các năm 2007 – 2008 – 2009 là 34,09% - 33,11% - 32,18%, giảm 1,91%
năm 2009 so với năm 2007. Tăng tỷ trọng lao động ở hai nhóm còn lại. Ở
nhóm tuổi 15 – 29 tăng 1,54% và nhóm tuổi 30 – 44 tăng 0,36% năm 2009
so với năm 2007.
=>a?"#0"1&*)"#*"#
"ABBVLBBW
$1&* BBV BBD BBW (
\]+
\BBW^BBV+
_
I
M_
)`&
\]+
_
I
M_
)`&
\]+
_
I
M_
)`&
\]+
Trình độ học vấn của nguồn lao động ở phường Hương Sơ trong thời
gian qua có những chuyển biến tích cực theo hướng nâng cao trình độ học
vấn cho nguồn lao động.
24
=>F?)2#3'"#"ABBVCBBW
X BBV BBD BBW (
\BBW^BBV+
_
I
M_
)`&
\]+
_
I
M_
)`&
\]+
_
I
M_
)`&
\]+
Mù chữ 8 6,06 8 5,48 8 4,82 -1,24
Cấp I 38 28,79 GD 26,03 38 22,89 -5,9
Cấp II 40 30,3 47 32,19 58 34,94 4,64
Cấp III 46 34,85 aG 36,3 62 37,35 2,5
Tổng G BB EF BB FF BB
(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra 2010)
Tỷ lệ số lao động không biết chữ, cấp I có xu hướng giảm xuống; số lao
động có trình độ cấp II, cấp III tăng từ năm 2007 lên năm 2008 và 2009. Về