0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG THỊ LAN PHƢƠNG
SỰ BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG CỦA NGƢỜI DÂN
Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ HÓA HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI XÃ LỘC HOÀ, THÀNH PHỐ NAM
ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH)
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC Hà Nội- 2014
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
3.1.Ý nghĩa khoa học 14
3.2.Ý nghĩa thực tiễn 14
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14
4.1. Mục đích nghiên cứu 14
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 15
5. Đối tượng, khách thể nghiên cứu, phạm vi 15
5.1. Đối tượng nghiên cứu 15
5.2. Khách thể nghiên cứu 15
5.3.Phạm vi nghiên cứu 15
6. Câu hỏi nghiên cứu 16
7. Giả thuyết nghiên cứu 16
8. Phương pháp nghiên cứu 17
8.1.Phương pháp phân tích tài liệu 17
8.2.Phương pháp quan sát 17
8.3.Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi tự ghi 17
8.4.Phương pháp phỏng vấn sâu 18
9.Khung phân tích 19
Phần 2: NỘI DUNG CHÍNH 21
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 21
1.1. Cơ sở lý luận 21
1.1.1. Các khái niệm công cụ 21
1.1.2. Các lý thuyết 29
3
* Thuyết chức năng cấu trúc của Talcott Parsons 29
* Thuyết hành động 31
* Lý thuyết biến đổi xã hội 31
* Lý thuyết nhu cầu của Maslow 32
1.1.3. Quan điểm của Nhà nước về gia đình 33
1.2. Cơ sở thực tiễn: Một số đặc điểm về tình hình kinh tế, chính trị, văn
Bảng 2.8: Mức độ tham gia một số loại hình giải trí của người dân (%) 67
Bảng 2.9: Mức độ sử dụng các dịch vụ giải trí của người dân(%) 68
Bảng 2.10: Tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời (%) 72 DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu 2.1: Loại hình nhà ở của người dân xã Lộc Hòa trước và sau
năm 1998(%) 42
5
Biểu 2.2: Tỷ lệ mức thu nhập bình quân hàng tháng của gia đình(%) 47
Biểu 2.3: Tỷ lệ người dân tự đánh giá mức sống của gia đình (%) 48
Biểu 2.4: Các lĩnh vực thường xảy ra xung đột (%) 53
Biểu 2.5: Số con trong các gia đình (%) 59
Biểu 2.6: Lĩnh vực chủ yếu xảy ra mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái(%) 61
Biểu 2.7: Thăm hỏi họ hàng của người dân xã Lộc Hòa(%) 64
Biểu 2.8: Sang chơi nhà hàng xóm của người dân xã Lộc Hòa (%) 65
Biểu 2.9: Lý do nhất thiết phải có con trai (%) 76
lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây (Guinness, 2003).
Ở Việt Nam, quá trình đô thị hóa găn liền với các cuộc khai thác thuộc
địa của thực dân Pháp ( lần 1: 1897- 1914, lần 2: 1919- 1930). Đặc biệt, từ
cuối những năm 1980 của thế kỷ 20, cùng với chính sách đổi mới đất nước,
Đảng ta đã xác định quá trình đô thị hóa gắn liền với công nghiệp hóa và phát
triển kinh tế. Quá trình đô thị hóa đã dẫn đến sự hình thành các khu công
nghiệp và đô thị, đồng thời làm thay đổi đáng kể cuộc sống của người nông
dân ngay tại các vùng nông thôn. Đây chính là nguyên nhân làm xuất hiện
những vấn đề xã hội, trong đó có vần đề những cư dân “bị đô thị hóa” thích
ứng như thế nào với cộng đồng và lối sống đô thị.
Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992,
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm
1991, cũng như trong các văn kiện của Đảng về chính sách xã hội đã nhấn
mạnh đến vai trò của gia đình như là tế bào của xã hội và là nhân tố quan
trọng quyết định sự phát triển bền vững của xã hội Việt Nam.
Sau 20 năm tiến hành công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã có những thay
đổi toàn diện và sâu sắc trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong
7
đó có các mối quan hệ gia đình. Quá trình đổi mới đem đến cho gia đình Việt
Nam những cơ hội phát triển mới, mức sống của đại bộ phận các gia đình đã
được nâng cao. Trong vòng 15 năm, từ 1990 đến 2004, tổng sản phẩm trong
nước tăng gần gấp 3 lần, đạt mức bình quân 7,5 %/ năm. Tỷ lệ hộ nghèo giảm
từ 58% năm 1993 xuống còn 24% năm 2004 (Tổng cục thống kê, 2004). Các
chức năng cơ bản của gia đình có nhiều biến đổi theo chiều hướng tích cực.
Tuy nhiên, bên cạnh việc tiếp nhận những tác động tích cực về kinh tế-
xã hội do quá trình đổi mới đem lại, gia đình Việt Nam cũng đang phải đối
mặt với rất nhiều thách thức to lớn. Đô thị hóa và công nghiệp hóa đang có
những tác động ngược chiều đối với gia đình Việt Nam. Một mặt, nó mang
đến cho gia đình Việt Nam những giá trị nhân văn mới như quyền trẻ em,
trường hợp tại xã Lộc Hòa, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định)”
2. Tổng quan nghiên cứu
Nghiên cứu về sự biến đổi xã hội nói chung, biến đổi lối sống nói riêng,
dưới tác động của quá trình đô thị hóa đã được nhiều nhà khoa học trong
nước và trên thế giới thực hiện.
Trên thế giới, các nhà xã hội học thuộc trường Đại học tổng hợp
Chicago là những người đầu tiên thực hiện các nghiên cứu quy mô và chuyên
sâu về các vấn đề xã hội của cộng đồng cư dân đô thị, trong đó có vấn đề lối
sống. Có thể liệt kê một số tác phẩm tiêu biểu đã mô tả, phân tích về sự thích
ứng của người dân, nhất là dân nhập cư, với lối sống tại các đô thị như:
“Người nông dân ở Ba Lan ở châu Âu và Mỹ” của Thomas và Florian
Znaniecki (1918- 1920), “Thành phố” của Robert Park và Ernest Burgess
(1925), “Đặc trưng đô thị như là một lối sống” của Luis Wirth (1938), “Gia
9
đình Negro ở Chicago” của E.Franklin Frazier (1931), “Những cư dân thành
thị” của Herbert Gans (1962)….
Dân nhập cư có một vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành các
thành phố lớn ở Mỹ. Bởi vậy, quá trình thích ứng của dân nhập cư vào với đời
sống đô thị là chủ đề nổi bật trong các nghiên cứu của các nhà xã hội học
thuộc trường phái Chicago.
Trong tác phẩm điển hình “Người nông dân Ba Lan ở châu Âu và Mỹ”,
Thomas và Znanniecki đã mô tả những khó khăn, sự biến đổi của các cộng
đồng truyền thống khi hoà nhập vào xã hội đô thị. Theo đó, để trở thành một
bộ phận của cộng đồng xã hội tổng thể thì các cộng đồng truyền thống phải
thay đổi và thích ứng với bối cảnh chung- trong đó sự thay đổi về lối sống là
tất yếu.
Trong tác phẩm “Thành phố”, Park và Burgess (1925) cho rằng, đặc
trưng cơ bản của lối sống đô thị là sự cạnh tranh. Hành vi của cá nhân chịu
lưu văn hóa quốc tế. Những biến chuyển này đã làm thay đổi sâu sắc chế độ
sở hữu, các giá trị và chuẩn mực xã hội. Là một thiết chế cơ bản của xã hội,
gia đình Việt Nam cố nhiên chịu ảnh hưởng to lớn của những biến đổi này.
Cho đến nay, nguồn tài liệu về gia đình ở nước ta không chỉ nhiều về số
lượng, mà còn khá đa dạng về các góc độ tiếp cận khác nhau. Quan điểm của
các nhà nghiên cứu khác nhau về biến đổi gia đình, tựu trung lại đều đề cập
đến quá trình biến đổi gia đình từ xã hội nông nghiệp truyền thống sang xã
hội công nghiệp hóa. Do đó, cần phải nêu lên những đặc điểm nổi bật về cấu
trúc và chức năng của gia đình truyền thống và sự khác biệt của nó với gia
đình hiện đại.
Theo tác giả Vũ Tuấn Huy trong cuốn “Tác động của biến đổi nền kinh
tế xã hội đến một số khía cạnh của gia đình Việt Nam: Nghiên cứu trường
hợp tỉnh Thái Bình” thì xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập khu vực và quốc tế
11
về kinh tế, văn hóa, xã hội chính là những tác nhân quan trọng thúc đẩy sự
biến đổi của gia đình. Đồng thời tác giả lấy năm 1945 với những đặc điểm
chuyển đổi của nền kinh tế chính là cơ sở cho sự phân định ranh giới biến đổi
của gia đình Việt Nam. Theo tác giả, sự biến đổi này không tách rời hoàn toàn
với những đặc trưng của gia đình truyền thống mà là một sự điều chỉnh thích
nghi với những hoàn cảnh và điều kiện xã hội mới.
Trong khi đó tác giả Mai Huy Bích trong cuốn “Xã hội học gia đình” lại
không đi từ yếu tố kinh tế để giải thích sự biến đổi gia đình mà cho rằng nhân
tố gây biến đổi gia đình chính là những chủ trương của Nhà nước nhằm thay
đổi gia đình cũ, xây dựng gia đình mới.
Trong đề tài cấp bộ tìm hiểu về “Những biến đổi về giá trị văn hóa của
các làng ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới” năm 2006 của tác giả Ngô Văn
Giá lại xem xét ở khía cạnh cụ thể hơn về mối liên hệ giữa biến đổi lối sống
với bối cảnh kinh tế- xã hội. Tác giả nhấn mạnh, trong bối cảnh xã hội có
những biến đổi to lớn về cơ cấu kinh tế và thành phần dân cư, tiền đề tạo nên
Cùng quan tâm đến sự biến đổi lối sống đô thị trong bối cảnh từ xã lên
phường, Nguyễn Đình Tuấn (2007) đã quan tâm nhiều hơn đến khía cạnh
thực nghiệm. Thông qua công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã mô tả
thực trạng biến đổi lối sống của người dân, mà khởi điểm chính là từ quyết
định hành chính từ xã thành phường của nhà nước. Tác giả đã mô tả khá đầy
đủ các biểu hiện cụ thể của biến đổi lối sống như: phương thức sinh hoạt;
quan niệm về đời sống hôn nhân và con cái; quan hệ gia đình, họ hàng, làng
xóm; cưới xin tang ma và sử dụng thời gian nhàn rỗi.
Chi tiết hơn nữa là từ hướng tiếp cận tâm lý học xã hội, Phan Thị Mai
Hương và cộng sự trong đề tài khoa học cấp bộ nghiên cứu về “Những biến
đổi cơ bản về mặt tâm lý của cư dân vùng ven đô đã được đô thị hóa”(2006)
đã khảo sát sự biến đổi trong hệ thống nhu cầu của cư dân ven đô để từ đó
đưa ra những phân tích về sự thích nghi với lối sống đô thị của các cộng đồng
13
ven đô trong quá trình đô thị hóa. Theo đó, tác giả đã chỉ ra một số chiều cạnh
về sự biến đổi lối sống của người dân, đó là: sự thích nghi trên phương diện
kinh tế, sự thích nghi trên phương diện văn hóa, ứng xử, sự dụng dịch vụ xã
hội, kết cấu nhà cửa…. Nhìn chung, nhóm tác giả đã thu thập được những
bằng chứng cho thấy người dân đã phải vận động và thay đổi lối sống cho phù
hợp với bối cảnh xã hội mới. Tuy nhiên, sự thay đổi đó vẫn đang diễn ra và
đến hiện tại người dân vẫn giữ được những nét cơ bản thuộc về lối sống
truyền thống của cư dân nông nghiệp Việt Nam. Những biểu hiện tiêu cực về
lối sống cũng đã xuất hiện nhưng chưa phổ biến và chưa đến mức quá nghiêm
trọng.
Sự biến đổi của xã hội nông thôn trong quá trình đô thị hóa đang là chủ
đề được rất nhiều nhà khoa học quan tâm. Các vấn đề như sự biến đổi về mức
sống, đời sống văn hóa tinh thần, phân hóa giàu nghèo, môi trường xã hội và
các tệ nạn xã hội, văn hóa truyền thống….đều được phân tích khá chi tiết mặc
dù chưa đạt được kết quả cao. Điểm nổi bật và xuyên suốt công trình nghên
phương, xây dựng gia đình phát triển bền vững.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm tìm hiểu sự tác động của đô thị hóa đến đời sống của
người dân xã Lộc Hòa, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định hiện nay. Trên
cơ sở đó đề xuất về mặt chính sách nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản
và xây dựng gia đình trên địa bàn xã ngày càng phát triển bền vững trong điều
kiện mới.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
15
- Mô tả và phân tích thực trạng sự biến đổi về đời sống của người dân
trong quá trình đô thị hóa ở xã Lộc Hòa, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
ở ba khía cạnh:
+ Sự biến đổi về đời sống vật chất (nhà cửa, nguồn nước sinh hoạt, tiện
nghi sinh hoạt gia đình)
+ Sự biến đổi về quan hệ xã hội bao gồm: quan hệ gia đình, dòng họ và
cộng đồng.
+ Biến đổi về giá trị: (quan niệm về văn hóa giải trí, hưởng thụ; thói
quen sử dụng các dịch vụ; quan niệm về cách giáo dục con cái, chuẩn mực về
số con, về tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời….)
- Góp phần đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, chính
sách về xây dựng gia đình bền vững ở địa phương.
5. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1.Đối tượng nghiên cứu
Sự biến đổi về đời sống của người dân ở khu vực đô thị hóa (Nghiên cứu
trường hợp tại xã Lộc Hòa, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định hiện nay).
5.2.Khách thể nghiên cứu
- Các hộ gia đình đang sinh sống và định cư ở xã Lộc Hòa, thành phố Nam
Định, tỉnh Nam Định
xóm ít có sự biến đổi.
-Nhận thức của người dân về văn hóa sử dụng các dịch vụ giải trí, về
việc không sinh con thứ ba, về việc không nhất thiết phải có con trai và về
hôn nhân và gia đình đã được nâng cao.
-Các tệ nạn xã hội như: cờ bạc, đánh nhau…. trong giới thanh thiếu
niên gia tăng.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
17
Các phương pháp nghiên cứu xã hội học như phân tích tài liệu, phỏng
vấn bằng bảng hỏi, thảo luận nhóm….đem đến cho nhà nghiên cứu những
thông tin đáng tin cậy, dựa trên các bằng chứng thực nghiệm đảm bảo chất
lượng, phục vụ cho việc phân tích vấn đề nghiên cứu.
8.1.Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp bao gồm các
công trình nghiên cứu, bài tạp chí, sách, bài viết… về một số chủ đề như: biến
đổi gia đình, các mối quan hệ trong gia đình, về tác động của đô thị hóa
Phương pháp phân tích nghiên cứu tài liệu thứ cấp được tiến hành nhằm các
mục đích sau:
- Có những kiến thức cơ bản và khái quát về các chủ đề nghiên cứu
- Hình dung ban đầu về lịch sử nghiên cứu vấn đề
- Có cơ sở lý luận để so sánh, diễn giải và làm sâu sắc thêm kết quả
nghiên cứu
8.2. Phương pháp quan sát
Trong quá trình điều tra bằng bảng hỏi, điều tra viên kết hợp với quan
sát để thu được những thông tin đáng tin cậy và để kiểm chứng cho câu trả lời
của người được hỏi.
8.3. Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi.
Phiếu trưng cầu ý kiến sẽ được sử dụng nhằm mục đích thu thập những
thông tin định lượng cho đề tài nghiên cứu. Mẫu nghiên cứu được lựa chọn
48
32,0
Trung cấp,Cao đẳng
8
5,3
Đại học, trên đại học
8
5,3
Không biết chữ
2
1,3
Tổng
150
100,0
Nghề nghiệp
Nông dân
57
38,0
Công nhân
47
31,3
Cán bộ công chức
9
6,0
Kinh doanh tự do
13
8,7
Lao động tự do
15
10,0
(Xem trang bên)
20
Điều kiện kinh tế- văn hóa- xã hội
Quá trình đô thị hóa
Xây dựng cơ sở hạ
giữa vợ
và
chồng
Quan hệ
giữa cha
mẹ và
con cái
Quan hệ
họ hàng,
làng
xóm
Quan
niệm về
văn hóa
giải trí,
hưởng
thụ
Quan
niệm về
số con,
sinh con
trai, giáo
dục con
Quan
niệm về
tiêu
chuẩn
lựa chọn
bạn đời
Theo tác giả Trịnh Duy Luân trong cuốn “Xã hội học đô thị - NXB
KHXH năm 2004, tr 70”: Đô thị hóa là khái niệm để chỉ một sự thay đổi,
không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư trong xã hội mà còn chuyển thể nhiều
kiểu mẫu của đời sống xã hội.
Đô thị hoá là một quá trình tập trung dân cư đô thị. Đồng thời đó là quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm, sản
xuất phi nông nghiệp tăng. Bộ mặt đô thị ngày càng hiện đại, không gian đô
thị mở rộng. Đi liền với đó là sự biến đổi về đời sống xã hội của dân cư trong
vùng đô thị hóa. Đời sống của người dân (đời sống vật chất và đời sống tinh
thần) không ngừng được cải thiện và nâng cao, cơ cấu ngành nghề có sự
chuyển dịch mạnh mẽ từ sản xuất thuần nông sang sản xuất phi nông nghiệp.
Và hệ luỵ của quá trình đô thị hóa cũng nảy sinh từ đây
*Khái niệm về gia đình
Trong xã hội, từ xưa đến nay, gia đình vẫn luôn là thiết chế cơ bản nhất
và gắn liền với đời sống của mỗi con nguời. Mỗi cá nhân không thể tồn tại
đơn lẻ mà phải gắn liền với gia đình. Tùy theo cách nhìn nhận từ các ngành
khoa học mà có những định nghĩa về gia đình khác nhau, nhưng nhìn chung,
nói đến gia đình là nói đến một xã hội thu nhỏ với nhiều mối quan hệ tồn tại
bên trong nó.
Theo Từ điển xã hội học của Nguyễn Khắc Viện- NXB thế giới, Hà
Nội, 1994: Gia đình được xem như một nhóm người gắn bó với nhau bằng sợi
dây liên hệ hôn nhân, huyết thống hay nhận con nuôi. Ở đây có sự tác động
qua lại giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái, giữa anh chị em với họ hàng xa
hơn.
Có thể thấy, “gia đình” là một trong những phạm trù xuất hiện sớm
nhất trong lịch sử nhân loại. Từ “gia đình” có lẽ được sử dụng nhiều nhất
trong ngôn ngữ hàng ngày và trong nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội cũng như
23
trong nhiều nghiên cứu về gia đình, song hiếm khi nó có một định nghĩa rõ
ra định nghĩa: “Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng sống
chung và có ngân sách chung” (dẫn theo Nguyễn Linh Khiếu, 2003:33). Cục
Điều tra dân số Mỹ cung cấp khái niệm gia đình là “hai hoặc hơn hai người,
bao gồm chủ hộ, có quan hệ với nhau bởi huyết thống, hôn nhân hoặc quan
hệ với nhau bởi huyết thống, hôn nhân hoặc quan hệ con nuôi (nghĩa dưỡng)
và những người sống cùng với nhau như một hộ gia đình”
(http://www.midtermpapers.com/1833.htm). Theo Luật Hôn nhân và Gia đình
năm 2000, gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân,
quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ
và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này. Như vậy, có thể rút ra
một số tiêu chí xác định gia đình: là một nhóm người (có từ hai người trở
lên), có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nuôi
dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống và có
ngân sách chung. Luận văn này sử dụng định nghĩa gia đình: “Gia đình là
một nhóm người, có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc quan
hệ nghĩa dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung
sống, có ngân sách chung”(Nguồn: Lê Ngọc Văn (2011), Gia đình và biến
đổi gia đình ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội). Trong đó,
luận văn chú ý đến các khía cạnh của gia đình như: mối quan hệ huyết thống
hoặc nghĩa dưỡng, cùng chung sống.
Gia đình đang thực hiện các chức năng cơ bản sau:
Chức năng sinh đẻ, tái sản xuất ra con người
Chức năng kinh tế.
Chức năng xã hội hóa
Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý, tình cảm.
*Thiết chế gia đình truyền thống