MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lối sống của các cộng đồng cư dân là đề tài được các tác giả trong và ngoài
nước quan tâm nghiên cứu từ lâu dưới các góc độ khác nhau. Các nhà nghiên cứu
Dân tộc học/ Nhân học và Văn hóa học đã chỉ ra rằng, lối sống tùy thuộc vào các
điều kiện sống (môi trường cư trú, phương thức mưu sinh), các yếu tố lịch sử - văn
hóa… của cộng đồng cư dân và lối sống cũng biểu hiện những dạng thức khác nhau
từ các yếu tố trên. Lối sống được thể hiện tập trung ở phương thức mưu sinh, các
thiết chế xã hội, các phong tục tập quán, tín ngưỡng…, hình thành từ phương thức
mưu sinh và trở lại phục vụ phương thức mưu sinh đó. Nghiên cứu lối sống là
nghiên cứu cốt lõi văn hóa của các tộc người.
Với hệ thống sông ngòi chằng chịt và vùng biển, hải đảo rộng lớn trải dài
trên 3200 km, chứa đựng nguồn lợi tự nhiên phong phú, dọc bờ biển Việt Nam từ
xưa đã hình thành nhiều cộng đồng ngư dân làm nghề đánh bắt thủy, hải sản, sống
trong các làng chài. Các cộng đồng cư dân có nhiều nét đặc thù. Họ có nguồn gốc
từ những cư dân nội đồng, mưu sinh bằng khai thác nguồn thủy, hải sản nơi sông
nước. Nhìn chung, trước năm 1954 và ở nhiều nhóm thuộc một số địa phương hiện
nay, ngư dân có cuộc sống rất nghèo khó, họ có xu thế tách khỏi các cộng đồng làng
xã chính thống, sống biệt lập trên những chiếc thuyền, không có đất làm nhà, tập
hợp lại thành các làng chài, vạn chài. Do vậy, lối sống của ngư dân có những nét
khác biệt so với cư dân nông nghiệp ở trên bờ.
Từ sau năm 1954, đặc biệt là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay,
Đảng và Chính phủ đã có nhiều chính sách đối với ngư dân và sự nỗ lực vươn lên
của các cộng đồng giúp cho cuộc sống của ngư dân từng bước được cải thiện; là cơ
sở để lối sống của họ có những chuyển biến trên nền của lối sống truyền thống. Sự
chuyển biến này được biểu hiện khác nhau ở từng cộng đồng ngư dân mỗi vùng,
1
miền, phụ thuộc vào đặc điểm của môi trường cư trú cùng một số yếu tố khác, cần
được đi sâu nghiên cứu.
Bên cạnh những chuyển biến tích cực, cuộc sống của ngư dân các vùng miền
ở nước ta đang gặp nhiều khó khăn, thách thức. Đó là, nguồn lợi tự nhiên đang bị
Về thời gian: luận án nghiên cứu lối sống hiện nay của hai cộng đồng ngư
dân là làng Nam Hải và làng Ngọc Sơn, có so sánh với một số yếu tố của lối sống
truyền thống (làng Nam Hải trước khi chuyển cư lên bờ, năm 1955; làng Ngọc Sơn
trước khi được mở rộng tiếp xúc với cư dân trên bờ, đặc biệt là khi trẻ em trong
làng được học chữ, năm 1998).
4. Nguồn tư liệu của luận án
Nguồn tư liệu chính của luận án là tư liệu điền dã, thu được qua việc phỏng
vấn và tham gia các hoạt động lao động sản xuất, các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng
của ngư dân. Bên cạnh đó luận án sử dụng những báo cáo, các số liệu thống kê về
các mặt kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của địa phương trong những năm gần đây.
Luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu về ngư dân, về lối sống và về làng
xã đã được công bố.
5. Đóng góp mới của luận án
Đây là luận án tiến sĩ Nhân học đầu tiên nghiên cứu về lối sống của ngư dân
Hải Phòng qua hai làng chài cụ thể; chỉ ra những đặc trưng trong lối sống; sự giống
nhau và khác biệt trong lối sống của hai cộng đồng ngư dân có nguồn gốc, môi
trường cư trú khác nhau.
Luận án tạo cơ sở khoa học để cấp ủy, chính quyền địa phương tham khảo
trong việc đề ra các giải pháp giúp cộng đồng ngư dân hai làng chài khắc phục khó
khăn, phát huy thuận lợi, phát triển theo hướng bền vững.
3
Luận án góp phần nghiên cứu những vấn đề lý luận về lối sống, về làng xã,
về ngư dân; là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh
viên nghiên cứu về ngư dân.
6. Bố cục của luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận án được chia
thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, phương pháp và
địa bàn nghiên cứu
Chương 2: Lối sống của ngư dân làng chài Nam Hải
liên quan tới nhau, nương tựa vào nhau tổ chức thành [85, tr. 26].
A.Kroeber và C.Kluckhohn, xuất phát từ quan điểm của trường phái Ký hiệu
- văn hóa học, đã định nghĩa, “Văn hóa bao quát các mô thức hành vi hiển hiện ra
bên ngoài hoặc tiềm ẩn bên trong, thông qua việc vận dụng ký hiệu, người ta học
tập và truyền thụ chúng. Hệ thống văn hóa tuy được coi là sản phẩm do hoạt động
của con người tạo ra, nhưng nó cũng có thể được coi là những nhân tố hiệu chỉnh,
hạn chế hoạt động của con người” [85, tr.29].
G. Condominas (1997) trong cuốn Không gian xã hội vùng Đông Nam Á
[15], sau khi điểm tình hình nghiên cứu Nhân học ở các nước thuộc thế giới thứ ba
có đề cập đến vấn đề không gian xã hội, ông đã chỉ ra các quan điểm, các trường
phái nghiên cứu về vấn đề này, giới hạn các khái niệm, các khía cạnh nghiên cứu
của “Không gian xã hội”. Trên cơ sở đó, ông đưa ra các khảo sát về không gian xã
hội của một số tộc người như Thái, Lào, Ra đê, Việt, đặc biệt các tư liệu rất sâu về
người Mnông Ga trên các phương diện: dân cư, họ hàng, trao đổi, kiêng kỵ, nghi lễ.
Qua đó, có thể hiểu được văn hóa đặc trưng của từng tộc người, sự khác biệt của tộc
người này với tộc người khác.
Có thể nói, trong quan niệm về văn hóa của các nhà Nhân học trên đây tuy
không đề cập đến một cách trực tiếp lối sống nhưng đều đã nhấn mạnh những dạng
thức của nó như tập quán, truyền thống, tâm lý tộc người, mô thức các hành vi biểu
hiện bên ngoài hoặc tiềm ẩn bên trong…Tuy quan điểm có khác nhau, nhưng những
nghiên cứu của họ để đi đến khẳng định những biểu hiện phong phú của văn hóa
hay cũng chính là lối sống làm cơ sở lý thuyết trong nhân học, đặc biệt khi nghiên
cứu một cộng đồng, tộc người hay một nhóm nào đó.
Cùng quan điểm của các nhà Dân tộc học/ Nhân học, dưới góc độ của Xã hội học,
các nhà nghiên cứu đã xây dựng cơ sở lý thuyết của lối sống, phân biệt lối sống với điều
kiện sống, chỉ ra cơ cấu của lối sống và điều kiện sống. Các nhà khoa học xã hội khẳng
6
định lối sống không phải là sự tái tạo một cách thụ động, tự động và công thức những tác
động xuất phát từ hệ thống xã hội, và đặc biệt là từ phương thức sản xuất. Mọi người đều
thuộc vào những giai cấp, nhóm tộc người, dân tộc khác nhau, có quá khứ, truyền thống,
Dưới đây, chúng tôi nêu một số tác phẩm tiêu biểu nhất.
Cuốn Tìm hiểu cảnh quan đồng bằng (1983) do Trần Từ chủ biên nhìn
nhận lối sống từ góc độ ứng xử của con người trước môi trường cảnh quan. Các
tác giả lấy bốn làng tiêu biểu cho các dạng cảnh quan: trung du, đồng chiêm,
đồng mùa và ven biển để nhìn nhận lối sống của người nông dân, thể hiện qua
phương thức mưu sinh (bố trí mùa vụ, vật nuôi cây trồng, sử dụng các công cụ,
kỹ thuật, bố trí lịch làm ăn, giải trí…) [93]. Có thể coi đây là “mẫu” cho hướng
nghiên cứu Nhân học môi trường và Nhân học dưới góc nhìn Sinh thái học văn
hóa và Không gian văn hóa.
Cuốn Văn hóa lối sống và môi trường (1998) do Chu Khắc Thuật chủ biên
gồm các bài viết đề cập những vấn đề chung về các khía cạnh trong lối sống truyền
thống của con người Việt Nam. Đó là, đối lập với “Con người chinh phục thiên
nhiên” của phương Tây, con người phương Đông hài hòa với tự nhiên. Một số bài
viết bàn về môi trường tự nhiên và môi trường sản xuất; môi trường xã hội và tiêu
dùng trong đời sống hàng ngày; ảnh hưởng của môi trường đến con người và ngược
lại [121]. Tuy nhiên, sách chưa phân tích lối sống theo các trục cơ bản (đời sống vật
chất, đời sống tinh thần và đời sống xã hội) để thấy được một cách sâu sắc hơn lối
sống con người Việt Nam truyền thống và hiện đại.
Nguyễn Từ Chi trong cuốn Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người (1996),
khi viết về ảnh hưởng của cảnh quan đến văn hóa của tộc người đã khẳng định có hai yếu
tố quy định diện mạo nền văn hóa và lối sống của một tộc người, đó là môi trường tự
nhiên mà tộc người đó cư trú và nguồn gốc tộc người. Ông chỉ rõ: “Cư dân sống trên
đồng cỏ thảo nguyên, nơi có nhiều muông thú họ phát triển nghề đi săn. Một loạt lề thói
hay nói hoa mỹ hơn, một loạt ứng xử văn hóa được hình thành để phù hợp với cuộc sống
8
du mục…Các dân tộc sống trong môi trường khác nhau có nền văn hóa khác nhau. Sau
đó, vì một hoàn cảnh nào đấy họ đến cư trú ở môi trường khác, một loạt lề thói được hình
thành để thích nghi với môi trường mới nhưng văn hóa cũ vẫn để lại những dấu ấn hết
sức quan trọng trong nền văn hóa mới” [16, tr. 627]. Trên cơ sở chỉ ra trong những môi
trường khác nhau, con người có những ứng xử khác nhau và “Các môi trường thiên
kết quả nghiên cứu vào năm 1999 và năm 2005, các tác giả đã mô tả về công cụ và
các hoạt động đánh bắt cá của ngư dân trong các mùa, tổ chức lao động, những
kiêng kỵ, tình trạng giáo dục, cấu trúc, tổ chức xã hội và ảnh hưởng của đô thị hóa
đến cuộc sống, đặc biệt là sự thay đổi nghề nghiệp của thế hệ trẻ của ngư dân làm
nghề cá quy mô nhỏ ở làng Boripara thuộc ngoại ô thành phố Guwahati . Tuy nhiên,
các tác giả chưa chỉ ra nguyên nhân sâu xa của những thay đổi trong cuộc sống của
ngư dân ở Assam và những định hướng có tính chiến lược cho sự phát triển bền
vững nghề cá quy mô nhỏ ở đây.
Edward W.Glazier (2006) là người nghiên cứu ứng dụng nhân học ở Mỹ
trong nhiều năm về ngư dân ở Hawaii. Trong cuốn Hawaiian fishermen (casse
tudies in cultural anthropology) [141], ông mô tả về các hình thức đánh cá bằng
thuyền nhỏ và lối sống ngư dân Hawaii, ảnh hưởng đến tương lai của ngư dân.
Cuốn sách của ông là một điển hình trong nghiên cứu trường hợp về ngư dân với
nghề cá quy mô nhỏ. Tác giả đã đưa ra một cái nhìn sâu sắc dưới góc độ Nhân học
và Xã hội học về văn hóa địa phương với đặc trưng của những người đánh cá. Do
tập trung vào một cộng đồng ngư dân với nghề cá quy mô nhỏ mà tác giả chưa so
sánh với những cộng đồng ngư dân khác để thấy được điểm giống và khác nhau
trong lối sống của ngư dân Hawaii với cộng đồng ngư dân khác.
Ricardo Perez (2006) trong cuốn The State and small - scale fisheries in
Puerto Rico, dựa trên nghiên cứu nhân học và lịch sử ở Puerto Rico từ năm 1996
đến năm 2002, dựa vào tư liệu phỏng vấn với ngư dân, đại lý thủy sản và các nhà
khoa học, các quan chức chính phủ, cùng với các cuộc điều tra hộ gia đình ngư dân
và các nghiên cứu lưu trữ, Perez phân tích sự phát triển kinh tế nông thôn ở bờ biển
10
phía nam của đảo; đề cập đến sự can thiệp của chính phủ trong chính sách thủy sản
tạo ra mâu thuẫn giữa phát triển, hiện đại hóa thủy sản và việc bảo tồn nguồn cá
[147]. Nghiên cứu về ngư dân trên đảo Puerto Rico của Perez chủ yếu tập trung vào
kinh tế hộ gia đình, chưa đi sâu phân tích về văn hóa của cộng đồng ngư dân.
Daryl Mc Phee (2008) là tiến sĩ Triết học làm việc tại Viện Phát triển bền
vững, Đại học Bond nghiên cứu quản lý nghề cá và thẩm định các dự án ven
nghiên cứu nói trên ở tầm quốc gia, quốc tế chưa thể phản ánh hết đặc trưng trong
lối sống của từng cộng đồng ngư dân, việc tiếp tục phản ánh về phương thức mưu
sinh, văn hóa, tín ngưỡng…của các nhóm ngư dân sẽ tiếp tục vẽ thêm bức tranh về
ngư dân, giúp xã hội hiểu thêm về lối sống của họ.
1.1.3.2. Nghiên cứu về ngư dân làng chài ở Việt Nam
Từ năm 1985 trở về trước, nghiên cứu về ngư dân ở Việt Nam còn lẻ tẻ, được
lồng vào nghiên cứu chung, chưa được tách ra độc lập. Nhà Dân tộc học Nguyễn Từ
Chi đã bàn đến ứng xử của người nông dân trước môi trường biển [16, tr. 622-665].
Ông nhấn mạnh “Mặc dù không có truyền thống về biển, nhưng do tiếp xúc với
biển đã khá lâu nên ở vùng biển người Việt đã hình thành một số tập quán sông
nước” [16, tr. 654]. Bên cạnh đó, một số bài đăng trên Tạp chí Dân tộc học của
Diệp Trung Bình [10], Nguyễn Dương Bình [11]; [12]; [13], Đoàn Đình Thi [108]
phản ánh về tình hình các làng xã làm nghề cá ở ven biển phía Bắc, những vấn đề
có liên quan đến đến cư dân ven biển như việc khai thác nguồn lợi từ thời xa xưa,
tình hình nghiên cứu về nguồn lợi, mức độ khai thác và bảo quản lâu bền nguồn lợi
cá biển Việt Nam. Ngoài ra, trong một số công trình về văn hóa Việt Nam nói
chung, Trần Quốc Vượng, Ngô Đức Thịnh đề cập đến yếu tố biển trong văn hóa
Việt ở Bắc Bộ với nhận định “Văn hóa Việt Nam xa rừng, nhạt biển” hay “Việt
Nam chúng ta xưa kia cũng như ngày nay không có một văn hóa biển điển hình, mà
12
chỉ là những yếu tố văn hóa biển đan xen với văn hóa nông nghiệp tạo nên một sắc
diện văn hóa đặc thù của cư dân ven biển” [117, tr. 732].
Từ những năm 90 trở đi, nghiên cứu về văn hóa biển, về cộng đồng ngư dân
được đẩy mạnh, nhiều tác phẩm về biển được xuất bản.
Trước hết là các công trình nghiên cứu chung, như Biển trong văn hóa
người Việt của Nguyễn Thị Hải Lê [70]; Biển với người Việt cổ của Trần Quốc
Vượng - Cao Xuân Phổ [132] nêu vị trí của biển trong đời sống kinh tế- xã hội và
văn hóa của người Việt từ trước đến nay.
Cuốn Phát triển kinh tế - xã hội và môi trường các tỉnh ven biển Việt Nam
(2003) do Đỗ Hoài Nam chủ biên đã phác họa thực trạng kinh tế, tác động của yếu
trình khai hoang vùng ven biển đầu thế kỷ XIX để lập thành các làng xã thuộc
huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình ngày nay, chỉ ra được cung cách ứng xử của
người Việt với biển là “đẩy đồng bằng ra biển”, lập các làng xã theo “nguyên
bản” trong nội đồng, từ cấu trúc làng xóm về mặt vật chất, đến các thiết chế tổ
chức, các quan hệ xã hội, các thiết chế văn hóa… Qua nghiên cứu, Đoàn Đình
Thi cung cấp một trong những cơ sở nhìn nhận về nguồn gốc cư dân ven biển,
điểm giống và khác giữa làng ven biển và làng trong nội đồng. Nhưng tác giả
chưa bàn sâu đến những khó khăn và thách thức của cư dân làng ven biển trước
những biến đổi của điều kiện tự nhiên và xã hội.
Cuốn Địa chí Quảng Ninh tập 2 có phần viết mô tả khá chi tiết về cuộc sống
của hai làng chài Giang Võng và Trúc Võng trong vịnh Hạ Long, từ các hình thức
đánh bắt, đến chiếc thuyền - phương tiện để kiếm sống của dân vạn chài, cũng là
mái nhà của một gia đình; phân công lao động trong một gia đình, các mối quan hệ
gia đình, dòng họ, cơ cấu tổ chức làng xã truyền thống [96, tr. 56 - 72]. Song tác giả
chưa so sánh sự giống và khác nhau về đời sống của cư dân hai làng khi cùng có
cảnh quan và môi trường cư trú giống nhau.
14
Nguyễn Đăng Vũ (2003) với luận án tiến sĩ lịch sử “Văn hóa dân gian của
cư dân ven biển Quảng Ngãi” phản ánh khá toàn diện bức tranh văn hóa dân gian
của cộng đồng cư dân nơi đây: từ tín ngưỡng, lễ hội cho đến nghệ thuật diễn xướng
dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian, ngữ văn dân gian [131]. Với trọng tâm
nghiên cứu về văn hóa dân gian làng biển ở Quảng Ngãi nên tác giả chưa nghiên
cứu sâu về phương thức mưu sinh của ngư dân và ảnh hưởng của nó đến văn hóa
dân gian của bộ phận cư dân này.
Trần Hồng Liên (2004) trong cuốn Cộng đồng ngư dân Việt ở Nam Bộ phản
ánh những nét truyền thống đậm đặc của ngư dân Nam Bộ trên các mặt: kinh tế, văn
hóa, xã hội qua hai cộng đồng ở xã Phước Tỉnh, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa -
Vũng Tàu và xã Vàm Láng, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang, nêu ý kiến về
kế thừa và phát huy trong giai đoạn hiện nay; những biện pháp giúp ngư dân có thể
vươn lên nắm lấy những tiến bộ khoa học kỹ thuật, làm chủ đời sống đánh bắt. Tác
thạc sĩ Văn hóa học Văn hóa ứng xử với biển của người Việt miền Tây Nam Bộ
của Nguyễn Hữu Nghị [78].
Dưới góc độ tín ngưỡng và phong tục, có thể nêu một số công trình như Lễ
hội dân gian của ngư dân Bà Rịa - Vũng Tàu của Phan An, Đinh Văn Hạnh [1], Tín
ngưỡng cư dân ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng (hình thái, đặc trưng và giá trị) của
Nguyễn Xuân Hương [61], Văn hóa tín ngưỡng cộng đồng ngư dân ven biển Bến
Tre của Dương Hoàng Lộc [71].
Nhìn chung, các công trình công bố đã đề cập những vấn đề sau đây:
- Quá trình hình thành của cộng đồng ngư dân hay quá trình chiếm lĩnh vùng
ven biển và hải đảo ở Việt Nam.
- Các bộ phận ngư dân khác nhau sinh sống trong các làng chài thuộc các dạng môi
trường cảnh quan khác nhau, có các hoạt động mưu sinh khác nhau, cụ thể là các phương
16
thức khai thác thủy sản, dựa vào các loại hình công cụ đối với các loại hình thủy sản. Mưu
sinh là yếu tố có ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống ngư dân.
- Các đặc điểm về văn hóa của ngư dân được hình thành từ yếu tố biển, thể
hiện ở nhận biết về ngư trường, các hình thái tín ngưỡng, các sinh hoạt văn hóa dân
gian, lễ hội.
Tuy nhiên, các công trình trên bộc lộ nhiều mặt bất cập, tức nhiều vấn đề về
ngư dân mà các công trình nghiên cứu chưa đề cập đến đó là:
- Chú trọng phản ánh các khía cạnh của đời sống ngư dân, trong khi lối sống
chưa được đi sâu phân tích.
- Đời sống và lối sống ngư dân mới chỉ được đề cập đến trong các khảo cứu
Dân tộc học, chưa được tách ra là một nghiên cứu độc lập.
- Tập trung nghiên cứu các khía cạnh của đời sống và lối sống truyền thống
của ngư dân, chưa lưu tâm đến các vấn đề của xã hội hiện đại, hay biến đổi của lối
sống dưới tác động của các điều kiện hiện nay, nhất là những bức xúc của ngư dân
trong bối cảnh kinh tế - xã hội, biến đổi khí hậu đang diễn ra.
- Chưa đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa thay đổi của môi trường cảnh
quan với sự biến đổi về văn hóa - xã hội của ngư dân.
hội, là điều kiện biểu thị nội dung xã hội và là nền tảng phát triển toàn diện cá nhân
con người; tính tích cực chính trị - xã hội là thể hiện sự tham gia của các giai cấp và
các tầng lớp xã hội vào các tổ chức xã hội, vào việc quản lí, kiểm tra xã hội và nhà
nước trong các lĩnh vực khác nhau, ở các cấp độ khác nhau; sinh hoạt tinh thần là
các hoạt động liên quan đến nhu cầu phi sản xuất vật chất nhằm khôi phục và phát
triển sức lực con người, tổ chức đời sống văn hóa, tinh thần trong thời gian tự do
ngoài lao động sản xuất ở nơi công tác; văn hóa - giáo dục là những hoạt động nâng
cao trình độ hiểu biết, học vấn để hoàn thiện đạo đức và trí tuệ, tiếp thu những giá trị
18
tinh thần, biến những giá trị văn hóa thành bộ phận khăng khít trong sinh hoạt hàng
ngày trở thành cơ sở cho những chuẩn hành vi phù hợp với chuẩn mực xã hội.
Lối sống có liên quan, ảnh hưởng đến mức sống và chất lượng sống,
gắn liền với trình độ kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của con người và mối
quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, giữa nhà nước và
nhân dân, giữa thành thị và nông thôn, giữa người lao động trí óc và lao
động chân tay [52, tr. 742].
Qua các ý kiến trên, lối sống được định nghĩa là các hoạt động sống của
con người, là ứng xử của con người trước những điều kiện của môi trường
sống. Lối sống khác với đời sống hay hoạt động sống. Hai phạm trù này có
những điểm chung và có mối liên hệ với nhau, song không hẳn đồng nhất với
nhau. Lối sống của một cộng đồng hay một cá nhân không chỉ được bộc lộ ở
các hoạt động sống hay đời sống mà còn phản ánh vào các khuôn mẫu và hành
vi ứng xử, quan niệm về giá trị đạo đức. Lối sống là cái mà người ta thấy ở đó
ý nghĩa tồn tại của mình, vì mỗi cá nhân, cộng đồng sống không phải chỉ cho
mình, vì mình, mà còn vì người khác, cộng đồng khác.
Dưới góc độ Dân tộc học/ Nhân học các nhà nghiên cứu xem xét lối sống trong mối
quan hệ với văn hóa, môi trường. Do đó, lối sống là cách ứng xử của con người trước một
môi trường thiên nhiên và xã hội của họ. Trước một môi trường thiên nhiên, con người phải
tìm cách ứng xử để đảm bảo cuộc sống vật chất như ăn, mặc, ở, đi lại. Trên cơ sở đó, hình
thành môi trường xã hội, bao gồm các thiết chế tổ chức, các mối quan hệ xã hội và các quy
nhu cầu của mình như thế nào và đến mức nào [39, tr. 48].
Theo quan điểm trên, mức sống đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động
sống của con người. Tuy nhiên, mức sống phản ánh các yếu tố vật chất và tinh thần mà
con người được hưởng. Con người có thỏa mãn được các nhu cầu và phát huy năng lực
bản thân hay không, cải tạo điều kiện sống như thế nào còn phụ thuộc vào mức sống
của họ. Nói như vậy không có nghĩa là tăng hay giảm mức sống thì lối sống tốt lên hay
20
xấu đi. Vì vậy, mức sống không phải là yếu tố duy nhất quyết định đến lối sống của
con người. Mức sống chỉ là mặt khách quan của lối sống. Mức sống và lối sống là hai
khái niệm có liên quan mật thiết với nhau nhưng không đồng nhất.
Chất lượng sống, khi bàn về sự phát triển của con người, các nhà nghiên cứu
cho rằng: chất lượng sống là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của sự
phát triển con người, bao gồm các yếu tố: Sung túc về kinh tế; Công bằng trên cơ sở
luật pháp; Bảo hiểm xã hội lúc già và ốm đau; Hạnh phúc cá nhân trong quan hệ gia
đình và bạn bè; Sự tham gia vào đời sống xã hội; Bình đẳng về giáo dục, nhà ở và
nghỉ ngơi; Chống ô nhiễm môi trường ” [121, tr. 34].
Đồng ý với quan điểm trên, nhiều nhà nghiên cứu khẳng định: chất lượng sống
thể hiện trình độ của lối sống. Chúng tôi cho rằng: chất lượng sống là sự tổng hợp cả mặt
chất và lượng của lối sống, nó liên quan đến việc không chỉ thỏa mãn những nhu cầu
trực tiếp của con người (ăn, ở, chữa bệnh, tránh thiên tai ) mà còn thỏa mãn những nhu
cầu cao hơn (hưởng các dịch vụ xã hội, chăm sóc về mặt tinh thần ).
Hoạt động sống, trước đây các nhà nghiên cứu khi nhìn nhận lối sống như là
phương thức hoạt động sống cho rằng hoạt động sống là bất kỳ hoạt động nào theo nghĩa
rộng nhất nhằm thỏa mãn những nhu cầu sống, đảm bảo sự vận hành của cơ thể (trong
trường hợp nào đó, hoặc là một người hoặc là một cơ thể xã hội, hay một bộ phận hợp
thành xã hội), tức là làm việc, nghỉ ngơi, ngủ còn điều kiện là những nhân tố bên ngoài
quy định đặc trưng của hoạt động [89, tr. 65]. Theo cách đánh giá này thì các hoạt động
sống như là những biểu hiện của lối sống. Do đó, dễ làm cho người ta hiểu rằng lối sống
là sự gộp lại các hoạt động sống của con người trong các lĩnh vực của đời sống. Theo
chúng tôi, hoạt động sống là những hoạt động diễn ra trong đời sống của con người
trường tự nhiên và môi trường xã hội). Biến đổi lối sống biểu hiện cụ thể ở biến đổi
đời sống vật chất; đời sống tinh thần và đời sống xã hội.
22
1.2.1.3. Thích nghi
Trong quá trình biến đổi lối sống bao gồm cả việc con người thích nghi với
môi trường tự nhiên và xã hội. Do vậy, thích nghi là khái niệm được chúng tôi đề
cập đến trong nghiên cứu của mình.
Theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam (2006), thích nghi theo nghĩa chung được
hiểu là hợp với hoàn cảnh, hợp với tình hình [67, tr. 1733].
Đào Thị Minh Hương (2009), khi bàn về thích nghi văn hóa xã hội trong di
cư mưu sinh cho rằng trước hoàn cảnh sống đa dạng, phong phú và phức tạp, con
người phải có những hành vi ứng xử để thích nghi. Đó là những biểu hiện cụ thể
như cải tạo hoàn cảnh sống hay lựa chọn những hành vi phù hợp với hoàn cảnh đó.
Sự thích nghi của con người chính là để đảm bảo con người tồn tại được trong môi
trường tự nhiên và xã hội. Hoàn cảnh sống đặt con người trước sự lựa chọn gay gắt:
hoặc phải thay đổi chính mình để thích nghi với môi trường sống đang biến đổi
nhanh chóng, hoặc sẽ bị gạt ra ngoài phát triển. Tác giả còn cho rằng con người phải
có những hành vi phù hợp với môi trường tự nhiên và xã hội trong đó có cả những
thay đổi của chính bản thân thì con người mới tồn tại và phát triển được [60].
Dù là cách hiểu chung hay đặt trong trường hợp cụ thể, thích nghi chính
là những hành vi ứng xử của con người cho phù hợp với hoàn cảnh sống.
Trong quá trình đó, con người phải vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã
được hình thành cũng như sự nhạy bén trong việc nhận biết về các yếu tố
thuộc môi trường tự nhiên, xã hội nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh
thần. Chúng tôi cho rằng thích nghi là quá trình con người tác động đến môi
trường qua hệ thống hành vi phù hợp, trên cơ sở hiểu biết về các quy luật tự
nhiên, xã hội nhằm đảm bảo cho con người có thể tồn tại và phát triển.
Trên cơ sở đưa ra khái niệm thích nghi, chúng tôi vận dụng vào quá trình nghiên
cứu nhằm tìm hiểu những hành vi ứng xử của ngư dân để thấy được sự tương đồng và khác
biệt của mỗi nhóm ngư dân trước cảnh quan và môi trường cư trú khác nhau.
Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam, Nguyễn Duy Thiệu phân tích về cơ cấu tổ chức cổ
truyền của các cộng đồng nghề cá ở Việt Nam và chia cộng đồng ngư dân ở Việt
Nam thành 3 nhóm: vạn chài, làng ngư dân, làng ngư dân công giáo [109, tr. 86].
Dù với tên gọi khác nhau, nhưng qua nghiên cứu của các tác giả nói trên có
một loại làng của những người đánh cá được gọi là làng chài hay vạn chài tồn tại
cùng với các làng khác trong xã hội người Việt xưa và nay. Qua tìm hiểu các công
trình nhiên cứu về làng của những cư dân đánh cá, có thể thấy một số điểm đặc thù
so với các làng khác trong xã hội người Việt:
- Tùy từng cảnh quan và môi trường cư trú mà hình thành nên làng của những
người đánh cá với các tên gọi khác nhau: làng thủy cư, làng chài, làng chài công giáo
- Đời sống của ngư dân phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, nhiều khi
đe dọa đến tính mạng của con người nên họ có những điều kiêng kỵ và tập tục riêng
khác với cư dân nông nghiệp [11].
- Tổ chức xã hội truyền thống của ngư dân về cơ bản không khác mấy tổ
chức xã hội của cư dân nông nghiệp nhưng do phải thích nghi với sông nước nên tổ
chức xã hội cổ truyền của ngư dân có những điểm đặc thù riêng [109].
Từ những cách giải thích trên, có thể hiểu làng chài là làng của những người
làm nghề đánh bắt thủy, hải sản, ở ven sông, cửa sông, ven biển, trong các vũng
vịnh, trong các hồ và đầm phá. Do đặc thù về mưu sinh tại các môi trường cảnh
quan khác nhau nên làng chài có các đặc điểm riêng về diện mạo làng xóm, cơ cấu
tổ chức, các quan hệ xã hội, các phong tục, tập quán, tín ngưỡng cùng các sinh
hoạt văn hóa, tâm lý, tính cách của cộng đồng cư dân.
1.2.1.6. Lối sống người dân làng chài
Trước đây, việc nghiên cứu về biển và cư dân ven biển của các bộ môn khoa
học xã hội và nhân văn còn khiêm tốn, dưới góc độ Dân tộc học, Nhân học, một số
công trình đề cập đến công cụ khai thác như các loại lưới đánh bắt cá, đăng đó, các
loại thuyền, bè, mảng, các sinh hoạt văn hóa, của ngư dân sống ven biển và hải đảo
25