MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Lối sống của các cộng đồng cư dân là đề tài được các tác giả trong và ngoài nước
quan tâm nghiên cứu từ lâu dưới các góc độ khác nhau. Các nhà nghiên cứu Dân tộc học/
Nhân học và Văn hóa học đã chỉ ra rằng, lối sống tùy thuộc vào các điều kiện sống, các yếu
tố lịch sử - văn hóa… của cộng đồng cư dân và lối sống cũng biểu hiện các dạng thức khác
nhau từ các yếu tố trên. Hình thành từ phương thức mưu sinh và trở lại phục vụ phương
thức mưu sinh đó. Nghiên cứu lối sống là nghiên cứu cốt lõi văn hóa của các tộc người.
Với hệ thống sông ngòi chằng chịt và vùng biển, hải đảo rộng lớn trải dài trên 3200
km, chứa đựng nguồn lợi tự nhiên phong phú, dọc bờ biển Việt Nam từ xưa đã hình thành
nhiều cộng đồng ngư dân làm nghề đánh bắt thủy, hải sản, sống trong các làng chài. Nhìn
chung, trước năm 1954 và ở nhiều nhóm thuộc một số địa phương hiện nay, ngư dân có cuộc
sống rất nghèo khó, họ có xu thế tách khỏi các cộng đồng làng xã chính thống, sống biệt lập
trên những chiếc thuyền, không có đất làm nhà, tập hợp lại thành các làng chài, vạn chài.
Từ sau năm 1954, đặc biệt là từ khi thực hiện công cuộc Đổi mới đến nay, Đảng và
Chính phủ đã có nhiều chính sách đối với ngư dân và sự nỗ lực vươn lên của các cộng đồng
đã giúp cho cuộc sống của ngư dân từng bước được cải thiện; là cơ sở để lối sống của họ có
những chuyển biến trên nền của lối sống truyền thống. Sự chuyển biến này được biểu hiện
khác nhau ở từng cộng đồng ngư dân mỗi vùng, miền, phụ thuộc vào đặc điểm của môi
trường cư trú cùng một số yếu tố khác, cần được đi sâu nghiên cứu.
Bên cạnh những chuyển biến tích cực, cuộc sống của ngư dân các vùng miền ở nước
ta đang gặp nhiều khó khăn, thách thức. Đó là, nguồn lợi tự nhiên đang bị khai thác quá
mức, dẫn đến cạn kiệt, ảnh hưởng tới nguồn sống lâu dài; tình trạng thấp kém về giáo dục
và đời sống văn hóa - tinh thần…
Với những lí do trên, tôi chọn vấn đề “Lối sống người dân làng chài hiện nay”
(nghiên cứu trường hợp tại làng chài Nam Hải, huyện Kiến Thụy và làng chài Ngọc Sơn,
quận Kiến An, Hải Phòng) làm đề tài luận án tiến sĩ ngành Nhân học, với mong muốn
nghiên cứu lối sống của cộng đồng ngư dân nhằm chỉ ra những đặc điểm văn hóa của ngư
dân. Tạo cơ sở khoa học để đề ra các chính sách, các giải pháp giúp ngư dân phát triển theo
hướng bền vững, đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là bảo vệ vững
chắc vùng biển và hải đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
kiệt nguồn lợi, về các tác động đến môi trường sống và sự phai nhạt lối sống văn hóa.
2
- Luận án tạo cơ sở khoa học để cấp ủy, chính quyền địa phương tham khảo trong
việc đề ra các giải pháp giúp cộng đồng ngư dân hai làng chài khắc phục khó khăn, phát huy
thuận lợi, phát triển theo hướng bền vững.
5. Nguồn tài liệu của luận án
Tài liệu được sử dụng chính trong Luận án là các tài liệu điền dã, khảo sát gồm: tài
liệu phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, các ghi chép được từ quan sát; báo cáo tổng kết của các
ban ngành đoàn thể và số liệu thống kê của hai địa phương khảo sát; kế thừa nguồn tài liệu
đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước công bố.
6. Bố cục luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được chia thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tài liệu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Lối sống của ngư dân làng chài Nam Hải
Chương 3: Lối sống của ngư dân làng chài Ngọc Sơn
Chương 4: Kết quả và bàn luận
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu ngoài nước
1.1.1.1. Nghiên cứu về lối sống
Thuật ngữ “lối sống” lần đầu tiên được sử dụng bởi nhà tâm lý học người Áo Alfred
Adler (1870-1937). Lối sống hay phong cách sống, nếp sống là những nét điển hình, được
lặp đi lặp lại và định hình thành phong cách, thói quen trong đời sống cá nhân, nhóm xã hội,
dân tộc, hay cả một nền văn hóa.
Trên thực tế, từ khoảng giữa thế kỷ XIX, vấn đề lối sống đã được nhiều nhà khoa học
thuộc các ngành khác nhau nghiên cứu, phản ánh được hiện thực của đời sống văn hóa - xã
hội của mỗi nước, mỗi vùng, mỗi dân tộc hay mỗi nhóm, giai tầng xã hội.
Trong Nhân học, những nghiên cứu về văn hóa của L.H.Morgan; E.B.Tylor;
tác phẩm bàn về lối sống dưới các góc độ Chính trị học, Triết học, Đạo đức học bàn đến lý luận
về lối sống, đặc trưng lối sống Việt Nam, giải pháp giữ gìn và phát huy những nét đẹp, loại bỏ
những hủ tục trong lối sống giúp người dân thích nghi với sự phát triển trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, còn có một lượng lớn công trình khảo cứu về từng lĩnh vực cụ thể của
lối sống, như tín ngưỡng, tục lệ, nghi lễ trong tang ma, cưới xin, sinh đẻ, thiết chế xã hội.
4
1.1.2.2. Nghiên cứu về ngư dân
Từ năm 1985 trở về trước, nghiên cứu về ngư dân ở Việt Nam còn lẻ tẻ, được lồng
vào nghiên cứu chung, chưa được tách ra độc lập. Từ những năm 90 trở đi, nghiên cứu về
văn hóa biển, về cộng đồng ngư dân được đẩy mạnh, nhiều tác phẩm về biển được xuất bản,
như Biển trong văn hóa người Việt, các công trình nghiên cứu về các làng quê, các vùng
biển, chủ yếu dưới góc độ văn hóa dân gian và các công trình nghiên cứu về các khía cạnh
chuyên sâu của ngư dân ở các vùng ven biển.
Nhìn chung, các công trình đã công bố đã đề cập đến quá trình hình thành cộng đồng ngư
dân ở Việt Nam; các nhóm ngư dân ở môi trường cư trú và cảnh quan khác nhau đều có đời sống
khác nhau; ngư dân ở các làng chài ven biển có đời sống văn hóa hết sức đặc thù
Những vấn đề về ngư dân mà các công trình nghiên cứu nói trên chưa đề cập đến đó
là: Lối sống của ngư dân mới chỉ được đề cập đến trong các khảo cứu Dân tộc học, chưa
được tách ra là một nghiên cứu độc lập; Chú trọng nghiên cứu các vấn đề truyền thống của
ngư dân, chưa lưu tâm đến các vấn đề của xã hội hiện đại, nhất là những bức xúc của ngư
dân trong bối cảnh kinh tế - xã hội, biến đổi khí hậu…hiện nay; Chưa đi sâu nghiên cứu mối
quan hệ giữa thay đổi của môi trường cảnh quanh với sự biến đổi về văn hóa - xã hội của
ngư dân; Các nhóm ngư dân theo Công giáo chưa được chú ý nghiên cứu nhiều.
Như vậy, có thể nói, các nghiên cứu về lối sống, đặc biệt là lối sống của cư dân làng
chài ở Hải Phòng còn thiếu vắng, còn nhiều điểm bỏ ngỏ… song vẫn là tư liệu quý để chúng
tôi tham khảo cho luận án này.
1.2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Một số khái niệm đã được làm rõ trong luận án như: Lối sống; Biến đổi lối sống;
Thích nghi; Ngư dân; Làng chài; Lối sống người dân làng chài.
Hướng tiếp cận nghiên cứu chính của luận án là Nhân học; hướng tiếp cận này cho
Từ năm 1955, được phân đất trên bờ, vạn Nam Hải chuyển lên bờ sinh sống hình thành làng Nam Hải
của xã Đoàn Xá, huyện Kiến Thụy ngày nay.
1.3.2. Làng chài Ngọc Sơn (quận Kiến An)
1.3.2.1.Đặc điểm địa lý - tự nhiên
Làng chài Ngọc Sơn nằm trên một đoạn của bãi bồi sông Lạch Tray chảy qua địa
phận phường Ngọc Sơn. Từ con đường chính Hoàng Quốc Việt của quận Kiến An đi xuống
làng chài chưa đến 0,5km.
6
1.3.2.2. Đặc điểm dân cư
Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, một số gia đình ngư dân gốc từ các huyện Kim
Thành và Thanh Hà (tỉnh Hải Dương) đi chài lưới trên sông Lạch Tray, chọn khu vực bãi
bồi của sông này (dân gọi đây là bãi cói) thuộc địa phận phường Ngọc Sơn làm nơi tránh
mưa bão, ngư dân gọi là âu bè hay ủng bè. Sau đó, một số gia đình đậu thuyền hẳn ở đây để
sinh sống, họ vừa cắm đăng tre tại nơi đậu thuyền, vừa chèo thuyền đi chài lưới ở các khúc
sông. Ngư dân có đặc điểm của dân “thủy cư” là những người “vô hữu điền địa”, “tứ
không”, mọi sinh hoạt gần như bị tách rời với cuộc sống của cư dân trên bờ.
Từ năm 1998, trẻ em được đưa lên bờ học chữ trong lớp học tình thương đã thay đổi
nhận thức của ngư dân về việc cho con đi học và trẻ em trong làng đã biết chữ. Cũng từ đây,
ngư dân nhận được sự hỗ trợ từ các tổ chức, cá nhân về vật chất và tinh thần để cải thiện
cuộc sống. Hiện nay, ngư dân làng chài Ngọc Sơn phải sống trong những căn nhà tạm ngay
mép sông Lạch Tray. Làng có 23 hộ với gần 100 khẩu, trẻ em sinh ra đã có giấy khai sinh,
đến tuổi đi học được đưa vào trường học hòa nhập với trẻ em trên bờ. Các gia đình vẫn sống
chủ yếu bằng nghề chài lưới. Ngư dân đã có điện, nước sạch để sinh hoạt.
Tiểu kết chương 1
Lối sống là lĩnh vực được nghiên cứu từ giữa thế kỷ XIX. Ban đầu những nghiên cứu về
lối sống được lồng vào nghiên cứu về chính trị hay là những ghi chép về phong tục, tập quán…
Từ cuối thế kỷ XX, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lối sống theo các cách tiếp cận, các
quan điểm và phương pháp khác nhau.
Nghiên cứu về ngư dân ở thế kỷ XX được các nhà nhân học trên thế giới tập trung vào
nghề cá quy mô nhỏ và lớn. Ở Việt Nam, ban đầu chủ yếu là những khảo cứu Dân tộc học, phản
biệt là cá sủ (sủ đất, sủ vàng) - loại cá chuyên sống ở biển, nặng vài kg, có con hàng chục kg.
Phân công lao động, các công việc trong nghề làm đáy, xăm được phân chia một cách tương
đối cho các thành viên trong gia đình. Chồng và các con trai lớn thường đảm nhận những việc nặng
nhọc như đóng đáy, kéo lưới… Vợ, con gái và con trai nhỏ làm những việc nhẹ nhàng hơn như gỡ
tôm cá, đan lưới, vá lưới.
Tiêu thụ sản phẩm, đánh bắt được tôm cá, ngư dân bán cho các chân buôn. Họ cấp
tiền cho ngư dân vay sắm sửa đồ nghề, kiêm bán các nhu yếu phẩm cần thiết cho ngư dân
(trả tiền ngay hoặc bán chịu bù vào tiền bán cá). Khi đánh được cá, ngư dân phải bán cho
họ. Mỗi gia đình thường có hai đến ba chân buôn.
8
Ngoài ra, ngư dân Nam Hải còn di chuyển đến Cát Hải để đánh bắt tép. Hình thức
đánh bắt này thường tiến hành từ khi có lũ tiểu mãn (khoảng cuối tháng 5), lũ về, ngư dân
không thể khai thác ở cửa sông Văn Úc, để đi đến Cát Hải.
2.1.1.2. Phương thức mưu sinh của ngư dân từ năm 1955 đến nay
*Từ năm 1955 đến năm 1986
Thực hiện Chỉ thị số 12 CT/TW về hợp tác hóa nghề cá của Đảng và Nhà nước, từ cuối
năm 1958, ngư dân được đưa vào làm ăn tập thể trong HTX đánh cá Đoàn Long. HTX chia
thành các tổ sản xuất (tổ đi khơi, tổ xăm đáy, tổ vá lưới). Ngư dân từ chỗ tự mình khai thác
nguồn lợi thủy sản ở khu vực cửa sông, đến đây được Sở Thủy sản cử cán bộ về trang bị thêm
những kiến thức và kỹ thuật đánh bắt cá ở khu vực ven bờ và ngoài khơi. Ngư dân được tính
ngày công lao động theo công điểm. Dựa vào số ngày công trong một tháng được Nhà nước trả
tem phiếu để đong gạo và mua các thực phẩm đồ dùng thiết yếu theo giá bao cấp.
Với việc thành lập HTX, các hoạt động đánh bắt cá của ngư dân đã có những thay
đổi căn bản. Trước hết, ngư trường khai thác thủy, hải sản không còn ở phạm vi cửa sông
Văn Úc mà ở cả những ngư trường ngoài khơi, như Nam Bạch Long Vĩ, Hòn Gai, Cẩm Phả,
Cát Bà, Đông Dáu, Nam Dáu.Thuyền để đánh bắt thủy, hải sản thay đổi từ thuyền gỗ nhỏ,
chèo tay, sang thuyền buồm, chạy bằng sức gió. Từ hình thức đánh bắt bằng đáy và xăm, từ
năm 1958 trở đi, ngư dân thay bằng các loại lưới: Lưới Rê, Lưới Rê bay hay là lưới Ba màn
và mở rộng một số hình thức đánh bắt sử dụng thuyền và lưới như Đi phàng.
Qua kết quả phản ánh về phương thức mưu sinh của ngư dân từ năm 1955 đến năm 1986
hẳn hoặc kết hợp đánh bắt cá với nghề dịch vụ, buôn bán nhỏ, chế biến thủy, hải sản. Ngư dân
đã có một số thay đổi quan niệm về giá trị sống từ thay đổi phương thức mưu sinh.
* Thay đổi quan niệm về giá trị sống từ thay đổi phương thức mưu sinh
Ngư dân thay đổi quan niệm trước đây về việc sinh con trai hơn là sinh con gái. Khi làm ra
đồng tiền nhanh chóng, cuộc sống giàu lên khiến ngư dân không giữ những quan niệm, giá trị cũ,
quan niệm mới được hình thành thể hiện mong muốn hưởng thụ những nhu cầu về vật chất.
2.1.2. Lối sống của ngư dân qua đời sống vật chất
2.1.2.1. Nhà cửa
Trước năm 1955, là dân “ngụ cư”, không có đất trên bờ làm nhà nên ngư dân ở trên thuyền.
Mỗi gia đình thường có hai chiếc thuyền: thuyền to dùng để ở, thuyền bé hơn để làm nghề.
10
Thuyền dùng làm nhà ở, được bố trí: Khoang mũi là nơi để đồ nghề, có một cửa thông với
khoang giữa. Khoang giữa rộng 2m, ban thờ được đặt phía mạn lái. Ngư dân cho đậu cố định trên
bãi sông, họ đào một cái giằm và đánh thuyền vào trong đó. Chiếc thuyền này cũng được dùng để
chở cả gia đình về quê vào những dịp lễ tết.
Sau năm 1955, khi chuyển cư lên bờ, mỗi gia đình được cấp một sào đất (360m
2
) tại
khu vực gần cửa sông Văn Úc, giáp triền đê biển II. Từ cuộc sống trên con thuyền lênh đênh
nơi mặt nước, chịu đựng sóng gió, ngư dân có nhà trong làng xóm trên bờ là một cuộc đổi
đời chưa từng có. Sự thay đổi về việc ở này cũng buộc ngư dân có những ứng xử để thích
nghi. Từ nhà trát dứng, đến nhà ngói, nhà mái bằng cao tầng thể hiện ứng xử của ngư dân
phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội trong từng giai đoạn cụ thể.
2.1.2.2. Ăn uống
Một trong những yếu tố cơ bản để phản ánh đời sống vật chất của ngư dân đó là
nguồn lương thực, thực phẩm xuất hiện trong các bữa ăn hàng ngày. Nó không chỉ thỏa mãn
nhu cầu ăn uống của ngư dân mà còn phản ánh về đời sống của cư dân giáp biển. Việc ngư
dân bố trí bữa ăn, cách chế biến, nguồn thức ăn chứa đựng yếu tố văn hóa và tập quán
sông nước góp phần tạo nên nét văn hóa ẩm thực đặc trưng.
Trước năm 1955, cách chế biến món ăn của ngư dân đơn giản, ít gia vị. Một số món ăn chính
2.2.1.1. Cưới xin
Trước năm 1955, cuộc sống của ngư dân hoàn toàn trên thuyền, việc cưới xin của ngư
dân cũng được diễn ra đơn giản phù hợp với điều kiện sống, không có tục hỏi trầu, đón dâu. Các
thuyền đến dự đám cưới cùng nhau ăn uống thể hiện cố kết của những người họ hàng với nhau;
Sau khi người con trai kết hôn, bố mẹ gây dựng cho vợ chồng người con nghề ban đầu.
Sau năm 1955, ngư dân chuyển lên bờ, tục cưới xin từng bước hòa nhập với
tục của cư dân trong đồng, được “cải biến” theo đời sống mới. Các thủ tục trong đám
cưới: hỏi trầu, đón dâu, dựng rạp trước một hôm tổ chức lễ cưới, làm cỗ mời các gia
đình trong làng đến ăn uống, người đến dự có tiền mừng cho gia đình nhà đám
Do đã có đất và nhà trên bờ nên sau khi lấy vợ, người con trai ở chung với bố mẹ nhưng
được bố mẹ sắm cho nghề để làm riêng. Sau một thời gian làm ăn, có được tiền, vợ chồng người
con được bố mẹ chia cho một phần đất xây nhà. Những gia đình có nhiều con trai, đến tuổi trưởng
thành thường được bố mẹ lo lấy vợ, dựng nghề và lần lượt cho các con ra ở riêng.
12
2.2.1.2. Tang ma
Trước năm 1955, theo luật bất thành văn, ngư dân sống dưới sông không được chôn người
chết ở trong đồng, chỉ được chôn ở sát mép sông. Khi có người thân qua đời nếu ở quê cũ còn họ
hàng, ngư dân thường đóng mảng chuối để đặt linh cữu dùng thuyền kéo về quê để chôn.
Sau năm 1955, việc chôn người chết không vất vả như trước, ngư dân không phải đưa người
quá cố về quê cũ để chôn mà chôn tại quê mới; song do có nhà cửa gắn với khuôn viên rộng, nên việc tổ
chức tang lễ đàng hoàng hơn. Các nghi thức của tang lễ được thực hiện theo “Thọ Mai gia lễ”.
Khi các điều kiện sống thay đổi, các mối quan hệ làng xóm, phong tục, sinh hoạt và
hỗ trợ trong dòng họ có những biến đổi. Điều đó nói lên sự thích ứng của ngư dân từ chỗ là
vạn chài đến làng ngư nghiệp để hòa nhập với cuộc sống trên bờ.
2.2.2. Lối sống ngư dân qua tín ngưỡng
Cuộc sống mưu sinh vất vả, phải ứng phó với những nguy hiểm có thể xảy ra bất kỳ nên
ngư dân tin tưởng vào sự che trở của thần linh. Điều đó tạo nên tín ngưỡng, một số phong tục và
kiêng kỵ của ngư dân. Ngư dân Nam Hải cũng như nhiều nhóm ngư dân khác, có những nét
chung của tín ngưỡng giống cư dân nội đồng, đó là thờ cúng tổ tiên và thành hoàng làng. Tuy
nhiên, thờ cúng tổ tiên và thành hoàng của ngư dân vẫn mang sắc thái riêng.
thường mang đồ lễ đến miếu cúng khấn cầu mong vị thần che trở cho họ.
2.2.2.4. Thờ Phật
Trước 1955, tín ngưỡng thờ Phật chưa có đối với ngư dân. Như đã nói, ngư dân tham dự
lễ hội tại đình làng, chưa đi lễ ở chùa. Chỉ có những người đàn ông tham gia lễ hội tại đình.
Sau 1955, cùng với việc thờ thành hoàng, trong những năm gần đây, một số cư dân
làng Nam Hải còn thờ Phật, xuất phát từ mong muốn những điều tốt lành, không gặp những
rủi ro bất trắc khi làm nghề. Đội Pháp hoa (Hội quy) của làng gồm những người phụ nữ độ
tuổi từ trung niên trở lên theo tín ngường thờ Phật. Những thành viên trong đội Pháp hoa
thường đi lễ tại chùa gần làng và một số chùa trên địa bàn huyện.
2.2.3. Những điều kiêng kỵ
Cùng với các lễ thức thờ cúng các vị thần, ngư dân còn có những điều kiêng kỵ riêng,
với quan niệm tránh gặp những điều không may trong cuộc sống. Một số kiêng kỵ điển hình
là: Kiêng phụ nữ có mang xuống thuyền; Đi thăm bà đẻ về không xuống thuyền
2.3. Lối sống ngư dân qua đời sống xã hội
2.3.1. Lối sống ngư dân qua đời sống gia đình
2.3.1.1. Đời sống gia đình ngư dân trước năm 1955
14
Quan hệ bố mẹ - con cái trước kia tương đối đồng thuận. Bố mẹ có trách nhiệm nuôi
con, truyền đạt cho con kinh nghiệm lao động, lo dựng vợ gả chồng cho con cái.
Quan hệ vợ chồng được xây dựng trên cơ sở tôn trọng nhau và cùng lo toan gánh vác
công việc nên gia đình có cuộc sống khá êm ấm. Mặc dù có sự phân biệt về quyền lực giữa vợ và
chồng nhưng không tạo nên những áp lực trong đời sống gia đình. Tuy người đàn ông có vai trò
lớn nhất trong gia đình nhưng sự cần cù, chịu khó để mưu sinh đã hình thành sự cảm thông, chia
sẻ với người vợ một nắng hai sương cùng họ. Tất cả những điều này đã góp phần tạo nên phong
cách của những gia đình ngư dân nơi cửa sông Văn Úc: gia đình yên ấm, vợ chồng, con cái bảo
ban nhau chịu khó làm ăn, tích cóp để hy vọng có sự đổi đời đến với họ.
2.3.1.2. Đời sống gia đình của ngư dân từ năm 1955 đến 1986
Quan hệ giữa bố mẹ và con cái vẫn giữ được tính chất như giai đoạn trước. Con cái tôn
trọng bố mẹ, bố mẹ lo dựng vợ gả chồng cho con. Quan hệ vợ - chồng có một chút biến đổi so
với giai đoạn trước. Người đàn ông vẫn giữ vai trò chính trong gia đình nhưng người phụ nữ cũng
hộ khá; hộ trung bình; hộ nghèo.
Sự phân tầng xã hội và quan hệ cộng đồng của ngư dân trước đây và hiện nay có sự
khác biệt rất rõ ràng. Trước đây, các gia đình có mối quan hệ hòa đồng, thân thiện nên
không có sự phân hóa giàu nghèo rõ rệt. Hiện nay, mỗi gia đình có thế mạnh riêng với: tiềm
lực kinh tế; thu nhập; mức sống; khác nhau dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo trong làng thể
hiện rõ nét, cố kết cộng đồng giảm dần làm mờ đi mối quan hệ tình làng nghĩa xóm.
Tiểu kết Chương 2
Ngư dân Nam Hải có gốc từ làng Thượng Triệt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, vì
nhiều lý do đã “trôi giạt” xuống khu vực cửa sông - cửa biển Văn Úc để mưu sinh bằng
nghề đáy, xăm, bắt cá ăn vụng và đánh tép. Phương thức mưu sinh này gắn chặt ngư dân với
con thuyền lênh đênh tháng ngày ở cửa sông, cửa biển, quy định diện mạo về nếp ăn, nếp ở,
các phong tục, tín ngưỡng của ngư dân.
Từ những người ngụ cư, thân phận thấp kém, ngư dân được chuyển lên bờ, xây dựng
thành xóm làng đông đúc, hình thành hệ thống chính trị của một thôn làng độc lập, ngang
bằng với các làng trên bờ. Các sinh hoạt tín ngưỡng truyền thống được duy trì với các di
tích riêng, kết hợp với các yếu tố của quê gốc với các yếu tố văn hóa của vùng ven biển.
16
CHƯƠNG 3
LỐI SỐNG NGƯ DÂN LÀNG CHÀI NGỌC SƠN
3.1. Lối sống của ngư dân qua phương thức mưu sinh và đời sống vật chất
Mang đặc điểm của dân “thủy cư” nhưng đời sống vật chất của ngư dân Ngọc Sơn trước
và sau năm 1998 có một số điểm biến đổi. Bắt đầu từ năm 1998, lần đầu tiên, ngư dân được đưa
lên bờ học chữ và nhận được sự hỗ trợ từ dự án của tổ chức Tầm nhìn thế giới. Qua phản ánh và
phân tích về đời sống vật chất cho thấy phần nào lối sống ngư dân và sự biến đổi của nó.
3.1.1. Lối sống của ngư dân qua phương thức mưu sinh
3.1.1.1. Phương thức mưu sinh của ngư dân trước năm 1998
Trước năm 1998, với điều kiện của dân “thủy cư”, ngư dân sống hoàn toàn dưới
sông, sử dụng các công cụ đánh bắt khá đơn giản: Đăng tre; Đăng lưới, Xiếc; Quăng chài;
Đăng đọn;Xăm rươi. Trước năm 1998, công cụ mưu sinh của ngư dân chủ yếu làm từ tre và
lưới cước, hình thức đánh bắt thủ công, manh mún. Điều kiện sống eo hẹp, cùng với hạn chế
Từ năm 1998 đến đầu những năm 2000, ngư dân vẫn ở trên những con thuyền xi
măng đậu trên bãi lầy của sông Lạch Tray, mọi sinh hoạt chủ yếu vẫn diễn ra trên thuyền.
Để đi được lên bờ, ngư dân phải bắc cầu kiểu độc mộc nối từ thuyền lên bờ đê sát bãi sông.
Từ năm 2011, tùy từng điều kiện của gia đình, mỗi hộ trong làng chài dựng một căn
lều nhỏ khoảng trên dưới 10m
2
trên bãi bồi của sông Lạch Tray, đưa con cái lên đó ăn ngủ,
đi học. Sự dịch chuyển từ con thuyền dưới sông đến những căn lều tạm ngay sát mép sông
chưa thể thay đổi cuộc sống ngư dân.
3.1.2.2. Lối sống của ngư dân qua việc ăn
Trước năm 1998, nguồn thức ăn chủ yếu của ngư dân từ sản phẩm đánh bắt được. Hàng
ngày, ngư dân chài lưới được con gì thường mang lên bờ đổi lấy gạo, họ chỉ để lại một ít tôm, cá
nhỏ để làm thực phẩm trong bữa ăn. Cuộc sống lênh đênh sông nước để chài lưới, kiếm ăn nhưng
ngư dân không được thưởng thức món ăn ngon từ những con cá to do chính họ đánh bắt được.
Nhu cầu được ăn no của các thành viên trong gia đình còn chưa được đảm bảo nên việc được ăn
ngon cũng chỉ xuất hiện trong suy nghĩ của họ chứ khó trở thành hiện thực.
Sau năm 1998, nhờ có sự hỗ trợ bằng vật chất của các tổ chức, cá nhân trên bờ nên thỉnh
thoảng ngư dân được hỗ trợ gạo, mì tôm, dầu ăn, nước mắm,… Vì vậy, bữa ăn của ngư dân có
nhiều điểm khác so với trước. Một số loại thực phẩm như đậu, thịt thỉnh thoảng cũng xuất hiện
trong bữa ăn của ngư dân. Cuộc sống của ngư dân đã khá hơn trước một chút nên những khi có
18
công to việc lớn ngư dân thường làm vài món mời anh em, họ hàng. Việc ăn của ngư dân phần
nào thể hiện đời sống vật chất nghèo nàn, nhu cầu ăn ngon chưa được thỏa mãn.
3.1.2.3. Lối sống của ngư dân qua phương tiện sinh hoạt và đi lại
Trước 1998, ngoài con thuyền dùng để ở và làm nghề, ngư dân không có phương tiện
sinh hoạt nào có giá. Thuyền để làm nghề và cũng là phương tiện đi lại chính của ngư dân.
Họ không có xe đạp, xe máy đi lại khi có công việc cần thiết trên bờ.
Từ năm 1998, nhờ chính quyền phường Ngọc Sơn tạo điều kiện và sự giúp đỡ ban
đầu của các tình nguyện viên trong một số chương trình, dự án của các tổ chức trong và
ngoài nước, cùng sự tích lũy của ngư dân, nhiều gia đình bắt đầu có một số phương tiện sinh
báo cho Hội đồng giáo xứ, để trình cha xứ định ngày rửa tội. Đích thân cha mẹ, đặc biệt là người
mẹ, phải đưa con đến nơi rửa tội. Khi rửa tội cần có người đỡ đầu, thường là một người giáo
dân tốt, được lựa chọn trước. Cha cố lấy nước lã tinh khiết dội lên da đầu và trán đứa trẻ,
vừa đổ vừa đọc“Rửa con, nhân danh cha, con và thánh thần”, như là bước đầu tiên để
người chịu lễ vào Hội thánh và chịu các bí tích khác.
3.3.3. Lối sống của ngư dân qua mối quan hệ trong cưới xin
Những người theo Công giáo khi xây dựng gia đình phải thực hành nghi thức cưới tại
nhà thờ. Trong sách Công giáo có quy định cụ thể về “Các thủ tục và nghi lễ hôn phối”. Đó là
phải tiến hành các thủ tục theo “giáo luật”. Trước đây, lễ cưới của ngư dân chỉ có những người
cùng chài lưới tham dự. Hiện nay, lễ cưới của ngư dân tại nhà thờ không chỉ có cư dân trong
làng chài mà còn có cả giáo dân trên bờ và người quen, bạn bè là những bên Lương đến dự.
3.3.4. Lối sống của ngư dân qua mối quan hệ trong tang ma
Khi một gia đình trong làng có tang, bên cạnh người thân, con cháu tiến hành các
công việc cần thiết, những thành viên trong Ban hành giáo họ như ông trùm, bà trương là
những người có vai trò đảm nhận những công việc với cha và nhà thờ để tiến hành nghi lễ
với người chết. Do phải mang đi nơi khác chôn nên chỉ có người thân và một số người trong
làng đi cùng linh cữu người chết. Sau khi chôn người chết, gia đình tang chủ không tổ chức
cúng 3 ngày hay 49 ngày, không tổ chức ăn uống như ngư dân không theo đạo.
3.3 5. Những biến đổi về xã hội và văn hóa của ngư dân
Trước năm 1998, ngư dân sống như một “thế giới riêng”, biệt lập với cư dân trên bờ. Trẻ
đẻ ra không có giấy khai sinh, vợ chồng lấy nhau không đăng ký kết hôn. Người lớn và trẻ con
đều không biết chữ. Từ năm 1998, với sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân ở trên bờ, lối sống của
ngư dân Ngọc Sơn có những thay đổi rõ rệt: Ngư dân biết nhận mặt chữ, trẻ em được học hết
20
chương trình tiểu học. Nhờ tham gia vào lớp học tình thương, ngư dân được giao lưu, tiếp xúc
với các tình nguyện viên, với một số cư dân trên bờ. Trẻ em trong làng đến tuổi đi học được đưa
lên bờ học hòa nhập, được làm giấy khai sinh, hưởng dịch vụ chăm sóc y tế, được tham gia vào
câu lac bộ “Ước mơ”, có sân chơi tại làng ; người dân được tham gia hoạt động như Tết cho
dân chài, khi xây dựng gia đình được đăng ký kết hôn
Nhìn chung, đời sống văn hóa, xã hội của ngư dân bước đầu đã có những thay đổi nhưng
4.2.1. Những điểm tương đồng
Có thể nói, dù có xu hướng biến đổi lối sống khác nhau, xét về nguồn gốc và một số
điều kiện mưu sinh, hai nhóm ngư dân vẫn có những điểm tương đồng. Luận án đã chỉ ra
điêm giống nhau về nguồn gốc xuất thân, sự phụ thuộc vào nguồn lợi trong tự nhiên, sự đúc
kết kinh nghiệm qua quá trình mưu sinh, sự may rủi của mỗi mẻ lưới, sự tin tường vào đáng
tối cao và những khó khăn, thách thức đặt ra với hai nhóm ngư dân
4.2.2. Những điểm khác biệt
Trên cơ sở những nội dung phản ánh khá chi tiết, đầy đủ về lối sống của mỗi nhóm
ngư dân, luận án đã chỉ ra sự khác biệt giữa họ. Đó là sự khác nhau về: thân phận, ứng xử,
đời sống văn hóa, xã hội, về ảnh hưởng của chính sách.
4.3.Khuyến nghị
Với những vấn đề đã được nghiên cứu, phân tích, làm rõ, so sánh về lối sống của hai nhóm
ngư dân, luận án đã đưa ra những khuyến nghị góp phần giúp có những chính sách phù hợp với từng
nhóm ngư dân, là cơ sở đảm bảo mỗi nhóm ngư dân có lối sống phù hợp, phát triển được bền vững.
Cụ thể: Hỗ trợ từ chính sách của Nhà nước; Tìm kiếm việc làm trên bờ; Mở rộng đối tượng kết hôn;
Hộ khẩu cho ngư dân trong sông; Cải thiện mối quan hệ của ngư dân trong sông.
4.4. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Với hai nhóm ngư dân, một ở cửa sông giáp biển, một ở trong sông mà luận án chọn
làm điểm nghiên cứu là một bộ phận trong cộng đồng ngư dân Việt Nam. Để tiếp tục phản
ánh về lối sống ngư dân, quá trình biến đổi lối sống, những điểm tương đồng và khác biệt
trong lối sống của các nhóm ngư dân, luận án đã đưa ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên
cứu, đó là: so sánh làng thủy cư ở sông và làng thủy cư ở biển, khảo sát thêm một số làng
đánh cá chuyển lên bờ, nghiên cứu những làng không thoát ly khỏi nghề đánh cá.
22
KẾT LUẬN
1. Những nghiên cứu về lối sống có cả ở phương Đông và phương Tây. Ở Việt Nam,
lối sống đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Tiếp thu các kết quả của các
công trình đã công bố, luận án giới hạn một số trục cơ bản của lối sống là đời sống vật chất,
đời sống tinh thần, đời sống xã hội để nghiên cứu.
2. Cư dân làng chài Nam Hải có nguồn gốc từ nhóm “thủy cư” ở làng Thượng Triệt, tổng
vững, giữ gìn hệ sinh thái biển, giúp bảo vệ nguồn lợi ven bờ, đồng thời bảo tồn được những kinh
nghiệm về biển, về nghề cá thì vấn đề phát triển nghề nghiệp của ngư dân một cách quy mô, có tính
chiến lược là vô cùng cần thiết.
5. Hiện nay, biến đổi các điều kiện tự nhiên và xã hội đang đặt cả hai nhóm ngư dân
trước những khó khăn về vật chất và tinh thần, đặt ra những vấn đề trước mắt và lâu dài cần
được Nhà nước, cụ thể là cấp ủy và chính quyền địa phương quan tâm, giải quyết. Với
nhóm ngư dân ở cửa sông, việc bị mai một nghề đánh cá là rất rõ ràng. Ngư dân trẻ bỏ nghề
vì công việc vất vả, không đảm bảo được cuộc sống. Giúp ngư dân cửa sông có điều kiện
đánh bắt xa bờ là vấn đề vừa để giải quyết phương thức mưu sinh vừa bảo tồn nghề biển,
đặc biệt gắn với việc góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia và chủ quyền biển đảo.
6. Mỗi nhóm ngư dân biến đổi lối sống theo xu hướng riêng. Nhóm ngư dân cửa sông có xu
hướng bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống mà cụ thể là những yếu tố văn hóa làng ven biển.
Nhóm ngư dân trong sông có xu hướng chuyển lên bờ sinh sống nhưng hạn chế về nhiều mặt.
7. Ảnh hưởng từ chính sách của Nhà nước đến việc nâng cao đời sống của các nhóm ngư dân
là rất rõ ràng. Đây là yếu tố quan trọng giúp mỗi nhóm ngư dân phát huy nội lực, biến đổi lối sống
phù hợp với các điều kiện sống, góp phần xây dựng đất nước bình đẳng, văn minh, tiến bộ. Do vậy,
Nhà nước cần kịp thời có chính sách hợp lý đối với cả nhóm ngư dân ở cửa sông và trong sông nhằm
ổn định các mặt của đời sống, đặc biệt là giữ vững chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
8. Việc vận dụng các thuyết sinh thái học văn hóa, không gian xã hội và biến đổi văn hóa
trong luận án giúp phân tích và phác họa một cách chi tiết lối sống của hai nhóm ngư dân, trong đó đã
chỉ ra lối sống của ngư dân chịu ảnh hưởng của các yếu tố cơ bản: điều kiện tự nhiên, xã hội; chính
sách của Nhà nước; nhận thức, năng lực, trình độ, vốn xã hội và hoạt động sống của ngư dân… Phát
triển nghề cá ở Việt Nam nói chung và từng địa vực nói riêng cần thiết phải gắn với ổn định đời sống
ngư dân, định hướng lối sống ngư dân gắn với ngư nghiệp và các giá trị văn hóa của làng chài.
24
PREAMBLE
1. The urgency of the theme of the thesis
The lifestyle of the communities is the theme for which the authors both at home and
abroad have long been interested in researching under different angles. Researchers of
Ethnology/Anthropology and Cultural study have pointed out that the lifestyle depends on the