BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
----------
----------
PHẠM THỊ THƯƠNG HUYỀN
QUẢN LÝ RỦI RO TRONG SẢN XUẤT DỨA NGUYÊN LIỆU
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM XUẤT KHẨU
ĐỒNG GIAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
----------
----------
PHẠM THỊ THƯƠNG HUYỀN
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của các thầy giáo, cô giáo Khoa
Kinh tế & Phát triển nông thôn – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản
thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của TS. Bùi Thị Gia là
người hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài và viết luận
văn. Ngoài ra tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong
Bộ môn Kinh tế Tài nguyên và Môi trường – Khoa Kinh tế & Phát triển nông
thôn – Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã cùng tham gia góp ý giúp tôi
hoàn thiện luận văn trong quá trình viết bài.
Trong thời gian nghiên cứu đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của cán
bộ xã Quang Sơn, TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ,
tạo điều kiện của Công ty Cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao, cũng như
sự giúp đỡ tạo điều kiện của các phòng ban công ty và các hộ nhận khoán sản
xuất dứa nguyên liệu cho công ty trên địa bàn xã Quang Sơn, các anh chị em và
bạn bè đồng nghiệp, sự động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia
đình và người thân.
Với tấm lòng biết ơn, tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Hà Nội, ngày.....tháng……năm…...
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thương Huyền
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
1
1.2
Mục tiêu nghiên cứu
2
1.2.1 Mục tiêu chung
2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
2
1.3
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
3
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý rủi ro hàng nông sản ở một số nước trên thế giới
10
2.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra
17
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
19
3.1
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
19
3.1.1 Giới thiệu về Công ty cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao
19
3.1.2 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Thực phẩm xuất
khẩu Đồng Giao
25
iv
36
3.2.6 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
37
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
39
4.1
Tình hình sản xuất dứa nguyên liệu của Công ty Cổ phần Thực phẩm xuất
khẩu Đồng Giao
4.2
39
Thực trạng rủi ro trong sản xuất dứa nguyên liệu của công ty Cổ phần
Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao
41
4.2.1 Thực trạng rủi ro trong sản xuất
44
4.2.2 Thực trạng rủi ro giá cả (thị trường)
4.3.3 Thực trạng quản lý rủi ro thể chế, chính sách
75
4.3.4 Thực trạng quản lý rủi ro con người
77
4.3.5 Thực trạng quản lý rủi ro kỹ thuật
78
4.3.6 Thực trạng quản lý rủi ro tài chính, tín dụng
79
4.4
Đánh giá quản lý rủi ro trong sản xuất dứa nguyên liệu của Công ty Cổ
phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao
v
80
4.4.1 Đánh giá của hộ sản xuất
80
99
4.5.6 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro
100
4.5.7 Nâng cao các giải pháp hành chính về quản lý rủi ro
100
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
102
5.1
Kết luận
102
5.2
Kiến nghị
103
5.2.1 Đối với công ty
103
:
Cơ sở hạ tầng
ĐHĐCĐ
:
Đại hội đồng cổ đông
HCTC
:
Hành chính tổ chức
HĐQT
:
Hội đồng quản trị
KHKT
:
Khoa học kỹ thuật
KN
Trang
3.1
Thông tin cơ bản của Công ty năm 2014
20
3.2
Giá trị tài sản thuộc sở hữu công ty năm 2014
22
3.3
Tình hình quản lý, sử dụng đất đai công ty năm 2014
23
3.4
Đất đai và lao động vùng nguyên liệu của Công ty năm 2014
24
3.5
Sản lượng sản phẩm dứa tiêu thụ của Công ty giai đoạn 2011 - 2014
45
4.5
Thực trạng nguồn giống của các hộ sản xuất
46
4.6
Tần suất xuất hiện các rủi ro thiên tai
49
4.7
Mức độ thiệt hại do các hiện tượng thời tiết
50
4.8
Tần suất xuất hiện rủi ro do sâu, bệnh trong sản xuất dứa
51
4.9
Mức độ thiệt hại do sâu, bệnh hại dứa
56
4.15
Nguồn thông tin về giá đầu ra của các hộ sản xuất
58
4.16
Các thể chế, chính sách đã ảnh hưởng tới sản xuất dứa nguyên liệu
trong 3 năm gần đây
4.17
60
Nguồn thông tin và ứng xử của hộ sản xuất khi có thay đổi về thể
chế, chính sách
62
4.18
Mức độ ảnh hưởng của rủi ro con người tới các hộ sản xuất
63
4.19
70
4.24
Phương thức quản lý rủi ro giống
71
4.25
Phương thức quản lý rủi ro sâu, bệnh của các hộ sản xuất
72
4.26
Phương thức quản lý rủi ro thời tiết của các hộ sản xuất
73
4.27
Phương thức quản lý rủi ro giá cả (thị trường) đầu vào của các hộ
sản xuất
74
4.28
Phương thức quản lý rủi ro con người của các hộ sản xuất
Đánh giá về thực hiện các hỗ trợ trong hợp đồng giao khoán của
công ty
83
4.34
Ý kiến đánh giá của hộ về các biện pháp hỗ trợ sản xuất của công ty
84
4.35
Đánh giá về thực hiện các trách nhiệm của hộ sản xuất trong hợp
đồng giao khoán
85
4.36
Đánh giá về việc thực hiện các yêu cầu của quản lý rủi ro của công ty
88
4.37
Đánh giá về việc thực hiện các nội dung quản lý rủi ro ở công ty
89
Các bước quản trị rủi ro
8
3.1
Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý công ty
26
3.2
Khung phân tích đề tài
31
3.3
Cây vấn đề Quản lý rủi ro trong sản xuất dứa nguyên liệu của
Công ty Đồng Giao
35
x
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Số đồ thị
48
4.4
Thiệt hại do rủi ro thị trường đầu ra
57
4.5
Đánh giá của hộ sản xuất về chính sách thu mua của công ty
60
4.6
Mức độ ảnh hưởng của các thay đổi thể chế, chính sách tới các hộ sản xuất 61
4.7
Thiệt hại do rủi ro con người gây ra cho sản xuất dứa
63
4.8
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro kỹ thuật của hộ sản xuất
66
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội ngày càng phát triển thì hoạt động của con người ngày càng phong
phú, đa dạng và rủi ro đối với con người cũng ngày một đa dạng hơn. Càng sản
xuất đa dạng bao nhiêu thì càng chứa nhiều rủi ro bấy nhiêu. Và nông nghiệp lại
là một ngành đặc thù, phụ thuộc rất nhiều thời tiết, vì vậy nó là một ngành ẩn
chứa nhiều rủi ro nhất. Hiện nay việc môi trường sản xuất, kinh doanh luôn luôn
thay đổi theo thời gian đã làm tăng thêm độ mất ổn định cho người sản xuất.
Trong nông nghiệp, biến động giá đầu vào, đầu ra, hạn hán, lụt, bão, mưa đá,
thay đổi kỹ thuật, thay đổi lãi suất tiền vay, thay đổi các quy định của chính phủ
đều có khả năng gây ra rủi ro cho người nông dân. Hơn nữa, môi trường rủi ro lại
ngày càng phức tạp hơn, rộng lớn hơn làm cho tính nhạy cảm của khu vực nông
nghiệp đối với lực lượng sản xuất, với thị trường quốc tế, chính sách của chính
phủ càng lộ rõ hơn, làm nổi bật vấn đề rủi ro và tính không ổn định trong nông
nghiệp. Môi trường rủi ro ngày càng rộng lớn hơn, toàn diện hơn vì vậy đòi hỏi
nhiều hơn ở kỹ năng quản lý. Môi trường hiện nay yêu cầu nhiều hơn về các vấn
đề như làm rõ các khái niệm và phương pháp nghiên cứu rủi ro, biểu hiện ứng xử
của nông dân đối với rủi ro và đánh giá những phương pháp phản ứng mới và
tiến bộ hơn đối với rủi ro. Trên thế giới nghiên cứu rủi ro trong nông nghiệp đã
được các nước phát triển quan tâm nhiều vào đầu thế kỷ XX, phát triển mạnh vào
những thập kỷ 70 và 80, đặc biệt là ở Mỹ, Australia, EU, Canada và một số nước
khác. Và nghiên cứu rủi ro trong nông nghiệp đang chuyển dần sang các nước đang
phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc,... vào những năm cuối của thế kỷ XX.
Việt Nam là một nước nông nghiệp, có nhiều điều kiện để phát triển nông
nghiệp. Sản phẩm của ngành nông nghiệp nước ta rất đa dạng cả về trồng trọt và
chăn nuôi. Nó không chỉ giúp phục vụ nhu cầu trong nước mà còn đem lại nguồn
lợi xuất khẩu rất lớn cho Việt Nam. Năm 2012, ngành nông nghiệp được ghi
nhận thành chỗ dựa của nền kinh tế với mức đóng góp 22% GDP, xuất khẩu đạt
27,5 tỷ USD (Tổng cục thống kê, 2012). Trong các cây trồng nông nghiệp ngắn
1
liệu của công ty Cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao.
- Đề xuất các giải pháp giúp hạn chế rủi ro cho sản xuất dứa nguyên liệu
của công ty trong thời gian tới.
2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các rủi ro trong sản xuất dứa nguyên liệu của công ty
- Quản lý rủi ro trong sản xuất dứa nguyên liệu của công ty
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung
Đề tài nghiên cứu chủ yếu các rủi ro và các biệp pháp quản lý rủi ro trong
sản xuất dứa nguyên liệu của công ty Cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao.
- Phạm vi không gian
Đề tài được thực hiện tại công ty Cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao.
- Phạm vi thời gian
+ Số liệu sơ cấp chủ yếu thu thập năm 2014 – 2015.
+ Số liệu thứ cấp chủ yếu thu thập từ năm 2012 – 2014.
+ Thời gian nghiên cứu đề tài từ 8/2014 – 8/2015.
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
- Thế nào là rủi ro? Quản lý rủi ro? Trong sản xuất kinh doanh nông
nghiệp thường gặp những rủi ro nào? Nguyên nhân do đâu? Quản lý rủi ro trong
doanh nghiệp gồm những nội dung gì?
- Sản xuất dứa nguyên liệu của công ty Cổ phần Thực phẩm xuất khẩu
Đồng Giao đã gặp phải những rủi ro nào? Mức độ thiệt hại ra sao?
- Những nguyên nhân nào gây nên rủi ro trong sản xuất dứa nguyên liệu
của công ty Cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao?
- Các hộ nhận khoán sản xuất dứa nguyên liệu cho công ty đã thực hiện
những gì để hạn chế rủi ro trong sản xuất dứa nguyên liệu?
khăn hoặc điều không chắc chắn”...
Trong lĩnh vực kinh doanh, tác giả Hồ Diệu định nghĩa “rủi ro là sự tổn
thất về tài sản hay là sự giảm sút về lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến”.
Hoặc “Rủi ro là sự bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp”.
b) Theo trường phái trung hòa
Theo trường phái này, có các quan điểm về rủi ro như:
- “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được” (Frank Knight,1921)
4
- “Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố
không mong đợi” (Allan Willett,1951)
- “Rủi ro là giá trị và kết quả hiện thời chưa biết đến” (trích theo Bùi Thị
Gia, 2005)
- “Rủi ro là những biến động tiềm ẩn ở những kết quả. Rủi ro có thể xuất
hiện trong hầu hết các hoạt động của con người. Khi có rủi ro người ta không thể
dự đoán được chính xác kết quả. Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất ổn định.
Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được
hoặc mất không thể đoán trước” (C. Arthur William, Jr. Smith, trích theo Bùi Thị
Gia, 2005).
Vậy theo trường phái trung hòa thì “rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường
được”. Rủi ro vừa mang tính tiêu cực vừa mang tính tích cực. Rủi ro có thể mang
đến những tổn thất, mất mát, nguy hiểm,... cho con người, nhưng cũng có thể
mang đến những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhận dạng, đo lường rủi
ro người ta có thể tìm ra biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực,
đón nhận những cơ hội mang lại những kết quả tốt đẹp cho tương lai (Đoàn Thị
Hồng Vân, 2013).
Rủi ro xảy ra do nhiều nguyên nhân nhưng bất kể do nguyên nhân gì, khi
xuất, kinh doanh giảm đi đáng kể, gây thiệt hại lớn, thậm chí sử dụng đầu vào
như nhau mà năng suất vẫn khác nhau.
+ Rủi ro về giá cả (thị trường): Xuất hiện những thay đổi không báo trước
của thị trường đầu vào cũng như đầu ra trong nông nghiệp. Giá đầu vào và đầu ra
trong nông nghiệp thay đổi hàng năm, hàng quý hay hàng tháng mà chu kỳ sản
xuất lại kéo dài, với thời gian đó đủ để giá các đầu vào và nông sản thay đổi.
+ Rủi ro thể chế, chính sách: Gây ra do những thay đổi do luật quy định từ
phía Nhà nước hoặc các cấp chính quyền địa phương. Ví dụ như: Chính sách
quản lý chất thải chăn nuôi, chính sách cho vay vốn,... cũng ảnh hưởng rất lớn tới
sản xuất nông nghiệp.
+ Rủi ro về con người: Đến từ rủi ro mang tính cá nhân hoặc do sức khỏe
bị ảnh hưởng bởi ốm đau, bệnh tật, tình trạng này kéo dài có thể ảnh hưởng đến
sản xuất và tăng chi phí một cách đáng kể.
+ Rủi ro về kỹ thuật: Là việc rủi ro phát sinh từ áp dụng kỹ thuật mới
trong sản xuất nông nghiệp nhưng không phù hợp dẫn đến bị thua thiệt.
6
+ Rủi ro tài chính (tín dụng): Rủi ro về mặt tài chính liên quan đến sự an
toàn hoặc mất an toàn về mặt tài chính của doanh nghiệp. An toàn tài chính thể
hiện ở khả năng trả nợ và khả năng thanh toán. Tăng lãi suất vốn vay cũng dẫn
đến khả năng tăng rủi ro về mặt tài chính.
2.1.2 Về quản lý rủi ro
2.1.2.1 Khái niệm
Quản lý nói chung là những phương pháp khoa học nhằm tác động vào
thực tại để nó phát triển đúng định hướng. Quản lý có 2 đặc điểm nổi trội là tính
định hướng và sự điều chỉnh giám sát trước khi xảy ra kết quả.
Đoàn Thị Hồng Vân (2013) cho rằng “quản lý rủi ro (QLRR) chính là quá
trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận
dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất”. Quản lý rủi ro cũng
Theo dõi, giám sát
Phân tích rủi ro
Đánh giá rủi ro
Quản trị rủi ro
Sơ đồ 2.1: Các bước quản trị rủi ro
Thứ nhất, xác định bối cảnh và phạm vi: Bước này liên quan tới việc
đưa ra bối cảnh và xác định tham số của rủi ro hoặc miền rủi ro. Phạm vi quản trị
rủi ro có thể là thuộc phạm vi quản trị chiến lược, phạm vi tổ chức hoặc khía
cạnh khác. Nói về phạm vi chiến lược là liên quan tới quan hệ tổ chức và môi
trường của nó, xác định những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của tổ
8
chức. Ở phạm vi tổ chức thì quản trị rủi ro có liên quan đến quá trình đưa ra và
thảo luận các mục đích và mục tiêu, phân công trách nhiệm đối với từng loại
quyết định cho từng người. Phạm vi quản trị rủi ro liên quan đến vấn đề xác định
tầm mức của quá trình quản trị rủi ro. Tuy nhiên đề cập đến mọi rủi ro cùng một
lúc là điều không thể làm được vì vậy nên tiến hành một cuộc điều tra phù hợp
với thời gian và các nguồn lực sẵn có, ví dụ nên bắt đầu với những rủi ro mà con
người có thể điều chỉnh được để phục vụ công tác quản trị có hiệu quả hơn.
Thứ hai, xác định rủi ro: Xác định rủi ro cần quản trị ở đây quan trọng là
phải tiếp cận một cách hệ thống để đảm bảo không sót một loại rủi ro nào, vì vậy
cần liệt kê các sự kiện có thể ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động của một tổ
chức. Cụ thể là cần cân nhắc cái gì có thể xảy ra, tại sao, như thế nào và nó ảnh
Thứ sáu, theo dõi, giám sát: Mặc dù kế hoạch quản trị rủi ro đã được xây
dựng, duy trì và thực hiện nhưng những phương án lựa chọn đều được dựa trên
những thông tin không hoàn hảo, vì vậy có những phương án có thể tỏ ra không
thỏa mãn, vì vậy việc theo dõi, giám sát là cần thiết để đảm bảo cho kế hoạch
chắc chắn đang được thực hiện và nhằm phát hiện những vấn đề cần phải giải
quyết và điều chỉnh trong tương lai. Nếu có điều chỉnh ở một hoặc nhiều bước thì
cần phải làm lại các bước khác cho phù hợp.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý rủi ro hàng nông sản ở một số nước trên thế giới
2.2.1.1 Trung Quốc
Trung Quốc là nước đông dân nhất (1,337 tỷ người) và cũng là một trong
số các nước sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp nhiều nhất trên thế
giới. Mặc dù dân số Trung Quốc gấp hơn 4 lần so với Mỹ nhưng diện tích đất
trồng trọt của Trung Quốc chỉ bằng 75% diện tích đất trồng trọt của Mỹ. Chính vì
vậy, nông dân Trung Quốc phải áp dụng nhiều biện pháp thâm canh tăng vụ để
có thể sản xuất ra lượng lương thực thực phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng khổng
lồ trong nước cũng như để xuất khẩu trong điều kiện hạn chế về đất trồng, nguồn
nước cũng như các nguồn lực khác. Nhờ đó, Trung Quốc đã đạt được những
thành tựu đáng kể trong sản xuất nông nghiệp của mình, tổng giá trị sản phẩm
nông nghiệp của Trung Quốc cao gấp 2 lần của Mỹ. Các sản phẩm nông nghiệp
10
chủ yếu của Trung Quốc bao gồm lúa gạo (25% diện tích đất trồng trọt), lúa mỳ,
ngô, kê, mạch, khoai tây, cây ăn quả, bông, gia cầm, lợn, bò sữa, thủy sản... Tổng
giá trị sản phẩm ngành của Trung Quốc trong năm 2008 đạt 643 tỷ USD, chiếm
khoảng 11% tổng GDP của đất nước (Ye H. And O. Vergara, 2009).
Sản xuất nông nghiệp của Trung Quốc được phân bố trên phạm vi không
gian địa lý rộng lớn và khá nhạy cảm với điều kiện thời tiết khí hậu. Tần suất xảy
ra thiên tai ở Trung Quốc là tương đối cao. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới
cả trước. Như vậy, rủi ro về giá của cả hai bên đã được giải quyết.
Năm 1848, trung tâm giao dịch The Chicago Board of Trade (CBOT) đã
được thành lập. Ở đó, người nông dân và các doanh nghiệp có thể mua bán trao
ngay tiền mặt và lúa mì theo tiêu chuẩn về số lượng và chất lượng do CBOT qui
định. Nhưng các giao dịch ở CBOT bấy giờ chỉ dừng lại ở hình thức của một chợ
nông sản vì hình thức mua bán chỉ là nhận hàng – trao tiền đủ, sau đó thì quan hệ
các bên chấm dứt. Trong vòng vài năm, một kiểu hợp đồng mới là các bên cùng
thỏa thuận mua bán với nhau một số lượng lúa mì đã được tiêu chuẩn hóa vào
một thời điểm trong tương lai. Nhờ đó, người nông dân biết mình sẽ nhận được
bao nhiêu cho vụ mùa của mình, còn thương nhân thì biết được khoản lợi nhuận
dự kiến. Hai bên ký kết với nhau một hợp đồng và trao một số tiền đặt cọc trước
gọi là “tiền bảo đảm”. Quan hệ mua bán này là hình thức của hợp đồng kỳ hạn
12
(forward contract). Nhưng không dừng lại ở đó, quan hệ mua bán ngày càng phát
triển và trở nên phổ biến đến nỗi ngân hàng cho phép sử dụng loại hợp đồng này
làm vật cầm cố trong các khoản vay. Và rồi, người ta bắt đầu mua đi bán lại trao
tay chính loại hợp đồng này trước ngày nó được thanh lý. Giá cả hợp đồng lên
xuống dựa vào diễn biến của thị trường lúa mì. Các quy định cho loại hợp đồng
này ngày càng chặt chẽ và người ta quên dần việc mua bán hợp đồng kỳ hạn lúa
mì mà chuyển sang lập các hợp đồng giao sau lúa mì. Vì chi phí cho việc giao
dịch loại hợp đồng mới này thấp hơn rất nhiều và người ta có thể dùng nó để bảo
hộ giá cả cho chính hàng hóa của họ. Từ đó trở đi, những người nông dân có thể
bán lúa mì của mình bằng cả 3 cách: trên thị trường giao ngay, trên thị trường kỳ
hạn (forward) hoặc tham gia vào thị trường giao sau (futures).
Năm 1874, The Chicago Produce Exchange được thành lập và đổi tên
thành Chicago Mercantile Exchange (CME), giao dịch thêm một số loại nông sản
khác và trở thành thị trường giao sau lớn nhất Hoa Kỳ.