Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân xã nam cát, huyện nam đàn, tỉnh nghệ an - Pdf 34

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
------------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI : “Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của
người dân xã Nam Cát, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An”

GVHD

: ĐOÀN BÍCH HẠNH

SV THỰC HIỆN

: NGUYỄN VĂN QUYẾT

LỚP

: PTNTC – K56

MSV

: 564544

Hà Nội 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong
chuyên đề là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực

giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày

tháng
Sinh viên

năm 2015

Nguyễn Văn Quyết

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

3


Việt Nam là nước đang phát triển, có số dân số hơn 90,5 triệu người,
đứng thứ 13 trên thế giới, hằng năm với mức tăng trung bình khoảng 1 triệu
người, là nước có lợi thế về sức lao động. Trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế và xu hướng toàn cầu hóa, Việt Nam đang có nhiều cơ hội phát huy lợi
thế nguồn nhân lực, trao đổi hàng hóa “ Sức lao động’’. Mặt khác, trong điều
kiện đất nước ta hiện nay, hơn 70% lao động sống ở nông thôn, trình độ
chuyên môn tay nghề thấp, tiền công sức lao động rẻ, sức ép việc làm lớn, mỗi
năm cần có khoảng 2,45% người dân cần việc làm. Chính vì vậy, xuất khẩu lao
động không những là chủ trương lớn của đảng và nhà nước, mà còn là một
chiến lược quan trọng lâu dài góp phần giải quyết việc làm cho số người đến
độ tuổi lao động giảm thiểu gánh nặng của quốc gia. Do đó, xuất khẩu lao
động trở thành vấn đề cấp thiết có nội dung kinh tế - xã hội sâu sắc và liên
quan chặt chẽ với các yếu tố kinh tế khác trong định hướng phát triển kinh tế
quốc gia.

giá tác động của xuất khẩu lao động, đề tài đã bước đầu khái quát hóa khái
niệm về đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân.
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp chọn
mẫu điều tra nghiên cứu dùng để điều tra thực trạng tác động của xuất khẩu lao
động trên địa bàn xã, mức độ tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống
người dân; phương pháp thu thập số liệu qua điều tra, tổng hợp (số liệu do
UBND xã Nam Cát cung cấp), phương pháp phân tích số liệu dùng trong
nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của xuất khẩu lao động. Phương pháp so
sánh dùng để so sánh giữa các nhóm hộ với nhau, giữa trước và sau khi có xuất
khẩu lao động, từ đó đánh giá mức độ tác động giữa các nhóm.
Qua nghiên cứu thực tế tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống
của người dân xã Nam Cát, nhìn chung xuất khẩu lao động đã có nhiều tác
động tích cực đến đời sống của người dân. Xuất khẩu lao động đã góp phần
vào công cuộc giải quyết việc làm, hạn chế tình trạng thất nghiệp ở một số bộ
phận lao động thất nghiệp. Xuất khẩu lao động tác động tích cực đến kinh tế hộ
gia đình nhờ nguồn thu nhập từ lao động xuất khẩu từ đó làm thay đổi đời sống

5


của hộ gia đình theo hướng tích cực hơn. Xuất khẩu lao động được xác định là
mục tiêu hàng đầu nhằm phát triển kinh tế trước mắt của địa phương, xóa
nhanh tình trạng đói nghèo trong xã làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế bền
vững. Tuy nhiên từ những tác động tích cực thì vẫn tồn tại những hạn chế từ
xuất khẩu lao động như: rủi ro trong xuất khẩu lao động, ảnh hưởng tới trật tự
xã hội, mối quan hệ gia đình…
Trước vấn đề đó, khi được điều tra, phỏng vấn thì đại đa số hộ điều tra
đều tham gia trả lời tích cực về thông tin hộ gia đình, người lao động và những
thay đổi kể từ khi có người xuất khẩu lao động. Tìm hiểu về tác động của xuất
khẩu lao động đến đời sống của người dân? Thì tất cả người được hỏi đều trả


LĐ – TB và XH

: Lao động – Thương binh và Xã hội

HĐH

: Hiện đại hóa

CNH

: Công nghiệp hóa

ILO(International Labour

: Tổ chức Lao động Quốc tế

Organization)
IOM(International Organization for

: Tổ chức di dân quốc tế

Migration)
WB (World Bank)

: Ngân hàng thế giới

ĐH – CĐ

: Đại học – Cao đẳng


: Triệu đồng

CN - XD

: Công nghiệp - xây dựng

TNBQ

: Thu nhập bình quân

8


DANH MỤC BẢNG

9


PHẦN I
PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết
Việt Nam là nước đang phát triển, có số dân số hơn 90,5 triệu người,
đứng thứ 13 trên thế giới, hằng năm với mức tăng trung bình khoảng 1 triệu
ngýời, là nước có lợi thế về sức lao động. Trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế và xu hướng toàn cầu hóa, Việt Nam đang có nhiều cơ hội phát huy lợi
thế nguồn nhân lực, trao đổi hàng hóa “ Sức lao động’’. Mặt khác, trong điều
kiện đất nước ta hiện nay, hơn 70% lao động sống ở nông thôn, trình độ
chuyên môn tay nghề thấp, tiền công sức lao động rẻ, sức ép việc làm lớn, mỗi

nghèo nhưng từ khi có lao động đi xuất khẩu đã trở nên khá giả hơn, xây dựng
nhà cửa khang trang, mua sắm được các tiện nghi sinh hoạt đắt tiền và có vốn
ổn định tăng gia sản xuất, kinh doanh nâng cao thu nhập. Toàn xã hiện có 700
lao động đang làm việc ở nước và ngoài tập trung chủ yếu ở các thị trường
như: Angola, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Malaisia… xuất khẩu lao động
đem lại nguồn thu nhập cho xã Nam Cát mỗi năm hơn 100 tỷ đồng, đời sống
người dân được cải thiện đáng kể.
Nhìn chung, hoạt động xuất khẩu lao động trên địa bàn xã Nam Cát đã
mang lại nhiều lợi ích, đời sống của người dân được cải thiện một cách rõ rệt,
nhất là mặt kinh tế của hộ gia đình. Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích của
XKLĐ mang lại, thì XKLĐ cũng gây ra một số hệ lụy đến đời sống của người
dân. Để đánh giá đúng và hiểu rõ hơn mức độ tác động của xuất khẩu lao động
cụ thể đến đời sống người dân trong xã nên tôi quyết định chọn đề tài: “Đánh
giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân xã Nam
Cát, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống về các mặt kinh tế văn hóa - xã hội của người dân tại xã Nam Cát, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
1.2.2

Mục tiêu cụ thể

11


- Góp phần hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề cơ sở lý luận và thực
tiễn về xuất khẩu lao động.
- Đánh giá thực trạng xuất khẩu lao động trên địa bàn xã Nam Cát,
huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động
2.1.1 Một số khái niệm

2.1.1.1 Lao động


Lao động
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, nó tạo ra của cải
vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng
và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước, xã hội, gia
đình và bản thân mỗi người lao động. Bất cứ một chế độ xã hội nào, lao động
của con người cũng là một trong những yếu tố quyết định nhất, năng động nhất
trong sản xuất.Lao động là điều kiện chủ yếu cho sự tồn tại của loài người, là
cơ sở của sự tiến bộ kinh tế, vă hóa và xã hội. Nó là nhân tố quyết định bất kì
quá trình sản xuất nào. Như vậy động lực của quá trình phát triển kinh tế, xã
hội quy tụ lại là ở con người, con người với lao động sáng tạo của họ đang là
vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Nguyễn Ngọc Quân (2004), lao
động chính là hoạt động có mục đích có ý thức của con người nhằm biến đổi
những vật thể tự nhiên, biến đổi tự nhiên để phù hợp với với mục đích nhất
định của mình. Lao động là sự vận động của sức lao động, là quá trình kết hợp
giữa sức lao động và tư liệu sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao
động là yếu tố chủ yếu của hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo hình thức đào
tạo thì lao động được chia thành lao động đã qua đào tạo nghề và lao đông
không qua đào tạo nghề.
Lao động đã qua đào tạo nghề

13

chủ yếu của xã hội.



Nguồn nhân lực

14


Theo David Begg (1995): “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên
môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại
thu nhập trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực
là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương
lai”.
Theo Phạm Minh Hạc (2007): “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm
năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được
chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động
nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung),
bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động,
cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH”.
Theo Nguyễn Hữu Dũng (2003):“Nguồn nhân lực được xem xét dưới
hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội. Ở góc độ thứ nhất, nguồn
nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng
nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội.
Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển
nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn
nhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên nếu chỉ
dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ. Muốn phát huy tiềm năng đó phải
chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng
cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và


Giá cả lao động
Theo giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin (Vũ Anh Tuấn và Phạm
Đức Hạnh, năm 2005): Giá cả lao động (gọi một cách chính xác là giá cả của
hàng hóa sức lao động) là toàn bộ số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động
trả cho người lao động phù hợp với lượng giá trị sức lao động mà người đó đã
cống hiến, phù hợp với cung cầu về lao động trên thị trường lao động. Toàn bộ
số lượng tiền tệ nói đến ở đây là sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và
người lao động. Đó là tiền lương (tiền công) danh nghĩa. Lượng tiền này chưa
phản ánh mức sống của người lao động vì còn phụ thuộc vào yếu tố giá cả tại
thời điểm và khu vực mà người đó tiêu dùng. Số lượng tư liệu sinh hoạt và
dịch vụ mà người lao động có thể trao đổi (mua) được từ số lượng tiền có thể

16


sử dụng (tiền lương danh nghĩa sau khi trừ đi các khoản thuế, bảo hiểm, chi phí
khác theo quy định) là tiền lương thực tế. Khi đó, mức sống của người lao
động được đánh giá thông qua tiền lương thực tế.

2.1.1.2 Xuất khẩu lao động
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về xuất khẩu lao động (XKLĐ). Nếu như
trước đây với thuật ngữ “hợp tác quốc tế lao động” (Nghị quyết số 362/CP 29/11/1980), XKLĐ được hiểu là sự trao đổi lao động giữa các quốc gia thông qua
các hiệp định được thoả thuận và ký kết giữa các quốc gia đó hay là sự di chuyển
lao động có thời hạn giữa các quốc gia một cách hợp pháp và có tổ chức. Trong
hành vi trao đổi này, nước đưa lao động đi được coi là nước XKLĐ, còn nước tiếp
nhận sử dụng lao động thì được coi là nước nhập khẩu lao động.
Theo ILO (1930) xuất khẩu lao động: Thực chất là xuất khẩu hàng hóa sức
lao động, được hiểu là sự di chuyển lao động có tổ chức đi làm việc trong thời hạn
nhất định ở nước ngoài thông qua các hiệp định về XKLĐ và các thỏa thuận giữa

Theo tổ chức xã hội dân sự thế giới (CIVICUS, 2007): Đánh giá là quá
trình đánh giá một cách có hệ thống và khách quan một dự án, chương trình
hoặc một chính sách đang được thực hiện hoặc đã hoàn thành từ giai đoạn thiết
kế đến triển khai và các kết quả đạt được. Mục đích của việc đánh giá là để xác
định tính phù hợp và mức độ hoàn thành các mục tiêu, tính hiệu quả, tác động
và tính bền vững. Quá trình đánh giá cần cung cấp thông tin đáng tin cậy và
hữu ích, cho phép lồng ghép những bài học kinh nghiệm vào quá trình ra quyết
định của các nhà tài trợ và của đối tượng tiếp nhận tài trợ.


Tác động
Theo tổ chức xã hội dân sự thế giới (CIVICUS, 2007): Tác động là những
hệ quả lâu dài của dự án, chương trình hay hoạt động có thể là ảnh hưởng tích

18


cực hay là tiêu cực.Tác động đến đời sống người dân là những ảnh hưởng tới
cuộc sống của người dân có thể là cải thiện đời sống hay có khi là hạn chế mức
sống của người dân sau khi có chương trình hay một dự án nào đó.
2.1.2 Các hình thức xuất khẩu lao động
Hình thức xuất khẩu lao động là cách thức thực hiện việc đưa người lao
động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài do Nhà
nước qui định.
Các hình thức đưa lao động Việt Nam ở nước ngoài gồm có: (1) Cung
ứng lao động theo các hợp đồng ký với bên nước ngoài; (2) Đưa lao động đi
làm việc theo hợp đồng nhận thầu, khoán công trình ở nước ngoài, đầu tư ra
nước ngoài; (3) Theo hợp đồng lao động giữa các cá nhân người lao động với
người sử dụng lao động nước ngoài.
Cung ứng lao động theo các hợp đồng ký với bên nước ngoài. Đây là

ngoài đảm bảo các quyền lợi cho người lao động làm việc ở nước ngoài. Do đặc
điểm và hình thức sử dụng lao động này nên quan hệ lao động tương đối ổn
định. Việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động của người lao
động khi làm việc ở nước ngoài có nhiều thuận lợi. Tuy nhiên, do hợp đồng
được thực hiện ở nước ngoài nên ít nhiều có sự ảnh hưởng của pháp luật, phong
tục tập quán của nước ngoài. Ngoài việc tuân thủ pháp luật Việt Nam, cả doanh
nghiệp Việt Nam quản lý sử dụng lao động và người lao động Việt Nam còn
phải tuân thủ các quy định của pháp luật nước ngoài.
Theo hợp đồng lao động giữa các cá nhân người lao động với người sử
dụng lao động nước ngoài. Hình thức XKLĐ này ở nước ta chưa phổ biến vì
muốn ký được hợp đồng với phía nước ngoài, người lao động phải có những
hiểu biết cần thiết về nhiều mặt như các thông tin về đối tác nước ngoài, về
ngôn ngữ, khả năng giao tiếp với người nước ngoài... Trong khi đó, trình độ

20


hiểu biết các vấn đề kinh tế, văn hoá, xã hội và pháp luật của người lao động
Việt Nam còn những hạn chế nhất định.
2.1.3 Đặc điểm của xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế. Bởi vì, nó nhằm thực hiện
chức năng kinh doanh, thực hiện mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp, đồng
thời để thỏa mãn lợi ích kinh tế của người lao động đi làm việc ở nước ngoài,
góp phần tăng thêm nguồn ngân sách của Nhà nước.
Xuất khẩu lao động là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội. Nói
xuất khẩu lao động thực chất là xuất khẩu sức lao động không tách khỏi người
lao động. Do vậy, mọi chính sách, pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động
phải kết hợp với các chính sách xã hội. Phải đảm bảo làm sao để người lao
động ở nước ngoài được lao động như đã cam kết trong hợp đồng lao động,
cần phải có những chế độ tiếp nhận và sử dụng người lao động sau khi họ hoàn

Xuất khẩu lao động phải đảm bảo lợi ích của ba bên trong quan hệ xuất
khẩu lao động. Trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, lợi ích kinh tế của Nhà nước
là khoản ngoại tệ mà người lao động gửi về, các khoản thuế, lợi ích của các tổ
chức xuất khẩu lao động là các khoản thu được chủ yếu là các loại phí giải quyết
việc làm ngoài nước, còn lợi ích của người lao động là khoản thu nhập thường là
cao hơn nhiều so với lao động ở trong nước. Do vậy, các chế độ chính sách của
Nhà nước phải tính toán sao cho đảm bảo được sự hài hoà lợi ích của các bên,
trong đó phải chú ý đến lợi ích trực tiếp cuả người lao động.
Xuất khẩu lao động là hoạt động đầy biến đổi. Bởi vì, hoạt động xuất
khẩu phụ thuộc rất nhiều vào các nước có nhu cầu nhập khẩu lao động, do
vậycần phải có sự phân tích toàn diện các dự án ở nước ngoài đang và sẽ được

22


thực hiện để xây dựng chính sách đào tạo và chương trình đào tạo giáo dục,
định hướng phù hợp và linh hoạt. Chỉ có những nước nào chuẩn bị đội ngũ
công nhân với tay nghề thích hợp mới có điều kiện thuận lợi hơn trong việc
chiếm lĩnh thị phần lao động ở ngoài nước và cũng chỉ có nước nào nhìn xa,
trông rộng, phân tích đánh giá và dự đoán đúng tình hình mới không bị động
trước sự biến đổi của tình hình đưa ra chính sách đón đầu trong hoạt động xuất
khẩu lao động.
Không có sự giới hạn theo không gian đối với hoạt động xuất khẩu lao
động. Thị trường xuất khẩu lao động với một quốc gia xuất khẩu lao động càng
phong phú và đa dạng bao nhiêu thì càng tốt. Nó làm tăng các loại ngoại tệ,
giảm rủi ro trong xuất khẩu lao động và nó cũng thể hiện khả năng cạnh tranh
mạnh mẽ của quốc gia đó.
2.1.4 Vai trò của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân
Xuất khẩu lao động đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình
phát triển của mỗi quốc gia đặc biệt là những nước có nền kinh tế chậm và


2014
106 840

Biểu đồ 2.1 Số lượng lao động sang nước ngoài làm việc giai đoạn (2011 –
2014)
Với những con số ấn tượng trên chúng ta có thể nhận thấy rằng XKLĐ đã giải
quyết được việc làm cho một khối lượng lớn lao động, tỷ lệ lao động trong
tổng số lao động được giải quyết việc làm ngày một tăng. Còn đối với các
quốc gia nhập khẩu lao động thì việc nhận thêm lao động sẽ giúp họ giải quyết
được tình trạng thiếu hụt lao động trong những ngành nghề mà lao động trong
nước không muốn làm như lương thấp, vất vả nặng nhọc hoặc những công việc
cần lao động thủ công hay thiếu hụt lao động do nguồn lao động trong nước ít.
Xuất khẩu lao động làm tăng thu nhập và góp phần vào công cuộc xóa
đói giảm nghèo ở địa phương. Không chỉ đơn thuần mang tính chất giải quyết
việc làm cho số lao động dư thừa mà xuất khẩu lao động còn góp phần rất lớn
và công cuộc xóa đói giảm nghèo của đất nước nhờ có khoản thu nhập cao hơn
rất nhiều so với mức lương ở trong nước điển hình như thu nhập tại các quốc
gia: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan. Australia…Với con số ngoại tệ gửi về
nước trong những năm gần đây trung bình mỗi năm gửi về từ 1,6 tỷ đến 2
tỷ USD. Trong đó từ Hàn Quốc trên 700 triệu USD, Nhật Bản hơn 300 triệu
USD Năm 2010, Việt Nam đứng thứ 16 trong 30 quốc gia có lượng kiều hối
chuyển về nhiều nhất, là một trong 10 quốc gia có thu nhập lớn từ xuất khẩu
lao động. Không dừng lại ở đó, xuất khẩu lao động còn góp phần tăng ngân
sách nhà nước nhờ có những khoản thuế thu từ hoạt động của các doanh
nghiệp XKLĐ và từ khoản ngoại tệ lao động gửi về nước. Như vậy XKLĐ vừa

24




25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status