Download Tiểu luận Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong giao kết hợp đồng dân sự miễn phí
Việc giao kết HĐDS là việc xác lập quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể. Và khi hợp đồng được giao kết hợp pháp thì pháp thì phát sinh hiệu lực của hợp đồng. Nhưng trên thực tế việc giao kết đã không bảo đảm được các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng đã được pháp luật quy định( điều 131 BLDS). Việc vi phạm một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, hay thiếu một trong những điều kiện đó dẫn đến hợp đồng vô hiệu. Dù hợp đồng vô hiệu tương đối hay tuyệt đối thì khi bị phát hiện tòa đều có thể tuyên bố vô hiệu.
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-38828/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
rung gian; Giao kết hợp đồng mua bán sau khi dùng thử so với việc giao kết hợp đồng dân sự thông thường.
Cuối cùng, bài nêu ra một số hạn chế, bất cập, chưa thống nhất trong quy định của pháp luật cũng như những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện giao kết hợp đồng dân sự trên thực tế; Đồng thời
NỘI DUNG
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. Khái niệm và bản chất pháp lý của hợp đồng dân sự
Trong đời sống xã hội, con người với tư cách là một thực thể xã hội của mình luôn luôn tham gia vào các mối quan hệ xã hội. Thông qua các mối quan hệ quan hệ xã hội con người tự khẳng định mình và khẳng định sự tồn tại của xã hội loài người. Con người muốn tồn tại và phát triển cần cần có những bảo đảm về vật chất phục vụ cho chính những yêu cầu của mình, Một cá nhân trong một cộng đồng xã hội không thẻ tự tạo ra được toàn bộ của cải vật chất để đáp ứng nhu cầu phong phú và đa dạng của bản thân. Nhu cầu của mỗi cá nhân chỉ được thỏa mãn đầy đủ thong qua một chuỗi những quan hệ xã hội có tính chất trao đổi.
Trong xã hội nói chung và trong giao lưu dân sự nói riêng việc chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản giữa chủ thể này và chủ thể khác nhằm đáp ừng nhu cầu của nhau có vai trò quan trong. Việc chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản không phải do tự nhiên được hình thành mà phải thong qua bàn bạc, thỏa thuận giữa các bên ( giữa người có tài sản và người được chuyển giao tài sản). Nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí của chính mình mà không được bên kia chấp nhận, nghĩa là không có sự thỏa thuận thống nhất ý chí, thì không thể tạo thành một quan hệ trao đổi. Nghĩa là việc chuyển giao tài sản hay phải làm một việc nào đó cũng sẽ không được thực hiện.
Điều 394 BLDS đã quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Như vậy Hợp đồng là một loại quan hệ pháp luật dân sự hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận thống nhất ý trí của các bên tham gia trong quan hệ đó nhằm thỏa mãn nhu cầu của nhau. Từ sự thỏa thuận thống nhất ý chí các bên đã thiết lập quyền và nghĩa vụ tương ứng để đạt được mục đích mà các bên mong muốn đạt tới. Đây cũng chính là một trong những đặc điểm đó phân biệt với quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định không phải hình thành do ý chí của các bên tham gia quan hệ. So với quy định tại điều 394 BLDS, pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 đã liệt kê những quan hệ cụ thể như: mua bán, tặng cho, thuê, vay. Điều 1 pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991 quy định: Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay mượn, tặng cho tài sản, làm hay không làm một việc, dịch vụ hay thỏa thuận khác mà trong đó một hay bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tiêu dung.”
Như vậy bản chất pháp lý của hợp đồng dân sự là việc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận của các bên, mọi cam kết thỏa thuận hợp pháp đó có hiệu lực bắt buộc với các bên. Nếu các bên không tự mình thực hiện đúng các điều khoản về nội dung mà mình đã cam kết thỏa thuận thì sẽ cưỡng chế thực hiện theo quy định của pháp luật.
II. Giao kết hợp đồng dân sự
1. Nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự
Giao kết hợp đồng dân sự là việc các bên bày tỏ ý chí của mình theo những nguyên tắc nhất định để qua đó xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự. Xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của bộ luật dân sự, quyền tự do thỏa thuận, cam kết của các chủ thể phù hợp với các quy định của pháp luật trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm. trong giao lưu dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện. không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa , ngăn cản bên nào và phải luôn tôn trọng đạo đức. truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo nguyên tắc sau đây:
1.1 Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng, nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Tự do giao kết hợp đồng thể hiện ở sự tự do ý chí của các chủ thể khi đàm phán, ký kết hợp đồng . Theo đó, việc giao kết hợp đồng giữa các chủ thể đó với nhau phải do chính các chủ thể đó quyết định, bất kì cá nhân hay tổ chức nào hay nhà nước cũng không được can thiệp một cách trái pháp luật vào quá trình đó. Các bên có quyền quyết định tham gia hay không tham gia, có quyền thay đổi, tạm hoãn, chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng xuất phát từ lợi ích của bất kì ai dù đó là nhà nước, của người thứ ba, của xã hội hay chính của chính mình. Bởi việc kí kết và thực hiện hợp đồng khong phải không chỉ là quan hệ đến lợi ích của những chủ thể tham gia kí kết hợp đồng, mà nó còn ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hợi, của cộng đồng thuần phong mỹ tục của xã hội. Vì vậy mặc dù các chủ thể được tự do giao kết hợp đồng nhưng pháp luật cũng yêu cầu những hành vi của họ không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Nghĩa là các bên không được giao kết hợp đồng mà đối tượng của nó là tài sản bị pháp luật cấm giao dịch. Đối với tài sản pháp luật cho phép giao dịch nhưng phải có điều kiện nhất định thì phải tuân thủ những điều kiện đó. Hợp đồng giao kết phải có mục đích, nội dung không trái với đạo đức xã hội. Đối với những hợp đồng trái với những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng, đi ngược lại lợi ích chung của xã hội, gây thiệt hại cho lợi ích hợp pháp của người khác ,v.v… đều bị coi là trái đạo đức xã hội. Những hợp đồng có nội dung như vậy, theo quy định tại điều 127 Bộ Luật Dân sự đều vô hiệu.
1.2. Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng
Tự nguyện là sự thể hiện thống nhất giữa ý chí và hành động của các chủ thể khi giao kết hợp đồng. Điều này có nghĩa là ý chí được biểu lộ ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ, hành động cụ thể, là ý chí thực sự của bên giao kết hợp đồng. Điều này có nghĩa là ý chí được biểu lộ ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ, hành động cụ thể, là ý chí thực sự của bên giao kết hợp đồng. Tự nguyện ở đây còn biểu hiện ở chỗ các chủ thể hoàn toàn tự quyết định tham gia hay không tham gia vào giao dịch dân sự. Họ có quyền lựa chọn nội dung, hình thức của hợp đồng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, trừ trường hợp nội dung và hình thức do pháp luật quy định bắt buộc phải tuân theo khi giao kết hợp đồng. Mọi lý do dẫn đến biể lộ ý trí ra bên ngoài cho người khác nhận biết không đúng với ý trí thực của họ đều coi là không hoàn toàn tự nguyện.
Bình đẳng nghĩa là các chủ thể khi tham gia vào quan hệ hợp đồng đều có nghĩa vụ pháp lý như nhau mà không bên nào được lấy lí do khác biệt về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế , tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp để đối xử k...