LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành khóa luận này. Tôi đã nhận được sự giúp đỡ
tận tình về nhiêu mặt của các cá nhân và tổ chức. Cho phép tôi được bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc đến:
ThS. Nguyễn Trọng Đắc, người đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Ban giam hiệu trường đại học nông nghiệp Hà Nội, khoa Kin tế và phát
triển nông thôn, bộ môn phát triển nông thôn cùng toàn thể thầy cô giáo và cán
bộ công nhân viên nhà trường đã tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu
và hoàn thành khóa luận.
Ban địa chính, xây dựng, môi trường, nông nghiệp, khuyến nông, hợp tác
xã nông nghiệp và các hộ gia đình trong vùng sản xuất đa canh, những người đã
cung cấp số liệu, tạo mọi điều kiện thuận lợi giỳp tụi hoàn thanh khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn cha, mẹ, người thân và bạn bè tụi đó động viên
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này.
Xin chân thành cảm ơn
Hà Nôi, ngày tháng năm 2011
Tác giả
Ngô Văn Thọ
1
Đề tài: “Tỡm hiểu tình hình sản xuất nông nghiệp theo hướng đa canh trên
địa bàn xã Diễn Mỹ, Huyện Diễn Châu, Tỉnh Nghệ An”
Phần I : Mở đầu
1.1Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là ngành sản xuất truyền thống của nước ta từ ngàn đời nay và
là lĩnh vực luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt coi trọng, là nền tảng có tính
chiến lược trong thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh lương
thực. Trong những năm gần đây, nông nghiệp được coi là nền tảng bền vững, cơ
sở để phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng,
ngành nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu, tỷ trọng xuất khẩu từ sản phẩm
nông nghiệp tăng trưởng cao, một số sản phẩm đã đứng hàng đầu trong cung ứng
tổ hợp sản xuất lớn”. Trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020, Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng đã xác định rõ định hướng cụ thể: “Khuyến
khích tập trung ruộng đất; phát triển trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp phù
hợp về quy mô và điều kiện của từng vùng. Gắn kết chặt chẽ, hài hòa lợi ích giữa
người sản xuất, người chế biến và người tiêu thụ, giữa việc áp dụng kỹ thuật và
công nghệ với tổ chức sản xuất, giữa phát triển nông nghiệp với xây dựng nông
thôn mới.”
Xã Diễn Mỹ nằm ở phía đông bắc huyện Diễn chõu(Nghệ An), cách xa trung
tâm huyện nên gặp nhiều khó khăn trong việc giao thương hàng hóa và đi lại của
nhân dân trên địa bàn. Cơ cấu kinh tế chủ yếu sản xuất nông nghiệp phụ thuộc
vào thời tiết nên chậm phát triển. Những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo đúng
đắn của Đảng bộ, chính quyền địa phương, cùng sự năng động chịu khó của
3
người dân, bộ mặt kinh tế xã hội của địa phương có sự chuyển biến tích cực:
kinh tế không ngừng tăng trưởng phát triển, văn hóa, đời sống nhân dân tăng lên
đưa xã tiến lên thành một xã phát triển của vùng đông bắc huyện Diễn Châu.
Trong những năm qua sản xuất nông nghiệp theo hướng đa canh trên địa bàn
xã ngày càng phát triển mạnh và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dõn địa
phương. Tuy nhiên các mô hình sản xuất đa canh vẫn chưa phát huy hết tiềm
năng và thiếu tính bền vững trong sản xuất. Xuất phát từ thực tế nói trên tôi
quyết định lựa chọn đề tài: “Tỡm hiểu tình hình sản xuất nông nghiệp theo
hướng đa canh trên địa bàn xã Diễn Mỹ, Huyện Diễn Châu, Tỉnh Nghệ An”
1.2Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung:
Tìm hiểu tình hình sản xuất, những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất nông
nghiệp đa canh trên địa bàn huyện. từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển sản
xuất đa canh trên địa bàn xã một cách bền vững.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn trong phát triển sản xuất đa canh
- Phân tích, đánh giá tình hình phát triển sản xuất đa canh trên địa bàn xã Diễn
hợp của các nguồn lực trong điều kiện sản xuất cụ thể nhằm đạt được những mục
tiờu cụ thể (Theo Dương Văn Hiểu)
Nông nghiệp đa canh: Nông nghiệp trồng nhiều loại cõy, nuụi nhiều loại
gia súc và phát triển tổng hợp; đối lập với nông nghiệp độc canh. NNĐC là yêu
cầu phát triển kinh tế khách quan để sử dụng đầy đủ và hợp lí tài nguyên đất đai,
khí hậu, lao động và tư liệu sản xuất, trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả kinh tế.
Phát triển NNĐC gắn liền với việc đưa sản xuất đi vào chuyên môn hoá, hiện đại
hoá. Do điều kiện đặc thù về tự nhiên, cũng như về kinh tế - xã hội của nông
nghiệp, nhất là ở vùng nhiệt đới, việc đưa sản xuất nông nghiệp đi vào chuyên
môn hoỏ khụng xoỏ bỏ khả năng khai thác kinh tế tổng hợp, tồn tại một cách
khách quan và có lợi trong mức độ nhất định. Tuy nhiên, đưa nông nghiệp từ độc
canh, tự cấp tự túc sang phát triển NNĐC, sản xuất chuyên môn hoá, công
nghiệp hoá không hoàn toàn tuỳ thuộc vào ý muốn chủ quan mà có quan hệ mật
thiết với phương thức sản xuất của xã hội, trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, quan hệ sản xuất, khả năng tổ chức sản xuất, quản lí kinh tế, chưa kể yếu tố
khách quan là điều kiện chính trị, xã hội như đất nước có chiến tranh hay hoà
bình.
Khái niệm mô hình sản xuất nông nghiệp đa canh: Đa dạng hóa sản xuất
nông nghiệp trên diện tích canh tác để tạo ra nhiều loại sản phẩm hàng hóa nhằm
nâng cao thu nhập cho người dân
Mô hình VAC: VAC là một hệ thống canh tác mà trong đó có sự kết hợp
chặt chẽ giữa hoạt động làm vườn, nuôi cá và chăn nuôi gia súc, gia cầm
6
2.1.2 Đặc điểm sản xuất nông nghiệp đa canh
- Đặc điểm của sản xuất đa canh là chuyển đổi hệ thống canh tác từ độc canh
sang sang hệ thống canh tác nhiều hệ thống như: trồng trọt, chăn nuụi….
- Sản xuất đa canh là hình thức kết hợp nhiều hệ thống: Ao nuôi, ruộng lúa
kết hợp với chăn nuôi gia súc gia cầm và bờ trồng cõy…
- Tạo nên một hệ thống quản lý đất đai bền vững.
- Gia tăng năng suất và dịch vụ trên một đơn vị diện tích sản xuất.
Yếu tố áp dụng công nghệ kĩ thuật tiên tiến: Bao gồm cỏc khõu từ khâu
chuẩn bị sản xuất, sản xuất, đến bảo quản chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản
phẩm. Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả sản xuất, nó có ảnh
hưởng trực tiếp đến số lượng, chất lượng, giá thành cũng như giá bán sản phẩm.
Yếu tố tổ chức sản xuất và quản lý: Là yếu tố quan trọng, mặc dù chỉ có
ảnh hưởng gián tiếp đến kết quả hiệu quả sản xuất đa canh nhưng nó có ảnh
hưởng lớn đến việc huy động, phân bổ, thực hiện, giám sát và quản lý một cách
có hiệu quả trong điều kiện nguồn lực có hạn, trong một vùng cụ thể.
2.1.3.3 Các yếu tố về kinh tế - xã hội
Yếu tố về chính sách: Là yếu tố cực kì quan trọng, mặc dù yếu tố này chỉ
ảnh hưởng gián tiếp đến kết quả sản xuất nhưng các chính sách sẽ tạo ra môi
trường kinh tế, kinh tế - xã hội thuận lợi, tạo đà cho sự phát triển sản xuất đa
canh.
Yếu tố về nhu cầu thị trường: Là yếu tố hết sức quan trọng, việc điều tra
nắm bắt được nhu cầu thị trường là việc làm hết sức cần thiết khi muốn phát
triển một ngành sản xuất hàng hóa lớn.
8
Yếu tố về trình độ nguồn nhân lực: Ảnh hưởng nhiều đến việc tiếp thu các
thong tin kinh tế, thị trường và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ
tiên tiến…trong quá trình sản xuất đa canh.
Yếu tố về mức sống và tích lũy: Ảnh hưởng đến nhu cầu về sản phẩm nuôi
trồng thủy sản và mức độ đầu tư cho sản xuất đa canh, lựa chọn mô hình sản
xuất hợp lý là yếu tố cần được nghiên cứu khi xây dựng các kế hoạch phát triển.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Nước ngoài
2.2.1.1 Một số mô hình đa canh của các nước trên thế giới
• Mô hình canh tác cỏ lỳa trong sản xuất đa canh ở các nước Châu Á
Nuụi cá kết hợp trồng lúa là một hệ thống canh tác khá phổ biến trong các
nước đang phát triển ở châu Á. Cá có thể được nuụi trờn cánh đồng lúa nếu có
nguồn cung cấp nước thuận tiện. Hiệu quả nuôi cá – lúa ngoài việc tăng thêm
Tứ Xuyên sản lượng cá ruộng chiếm ẳ tổng sản lượng toàn tỉnh. Hiện nay, để tạo
môi trường sinh thái tốt nhất cho nuôi cá đã xuất hiện mô hình hoàn toàn mới.
Đó là sự kết hợp luân phiên giữa trọt và nuôi cá trên cùng một diện tích. Các ao
do nuôi cá lâu ngày, lớp bùn đầy đọng lại dưới đáy ao, cần tát cạn nước ao sau
đó cấy lúa hoặc để khô rồi trồng các cây nông nghiệp khác như chuối, dưa hấu…
Cỏc cõy đú sẽ hút đi các chất dinh dưỡng dư thừa có trong bựn, nờn đỏy ao được
cải tạo trong một vài vụ trồng sau đó lại tiếp tục nuôi cá, cứ luân phiên như thế
làm cho năng suất cây trồng và nuôi cá đều ổn định.
10
Các loài cá dữ thường chiếm ưu thế mạnh trong hệ thống khai thác cá tự
nhiên trong ruộng ở các nước Đông Nam Á, bao gồm các loại cá thuộc họ cá
quả, cá rô, cá trê. Khai thác cá tự nhiên trong ruộng lúa thường cho năng suất
thấp và không ổn định.
Năng suất cá trong ruộng biến động phụ thuộc vào loại hình nuôi, điều
kiện nuôi và mức độ đầu tư vào ruộng cá – lúa. Bố trí hợp lý có thể làm tăng
năng suất lúa và cá trong ruộng lúa.
• Mô hình sản VAC ở Jamaica
Bằng cách sử dụng phân gà làm nguồn thức ăn cho cá và nước từ những
ao cá này sau đó dùng để tưới cho những vườn rau nhỏ đó giỳp cho nông dân ở
Jamaicacú những nguồn thu nhập khá tốt. Đây là mô hình được Trường đại học
Jamaica nghiên cứu và thử nghiệm thành công trên thực tế. Tỷ lệ tăng trưởng cỏ
nuụi ở những ao được cung cấp thức ăn dinh dưỡng từ phân gà là cao hơn việc
nuôi cá ở những ao bình thường. Cá được nuôi thử nghiệm bằng mô hình này
tăng 35kg/ha với cùng thời gian nuôi. Tiến sĩ Wright - người chủ trì của công
trình nghiên cứu này cho biết, nhu cầu sử dụng phân gà ngày càng cao nên phải
cho gà ăn nhiều dẫn đến tỷ lệ tăng trưởng gà giò cũng tăng lên một cách nhanh
chóng. Hơn nữa, những chất mùn đọng lại dưới đáy ao cũng lại là một loại phân
hỗn hợp rất tốt để chăm bón cho những cánh đồng khô hạn. Theo ông Wright,
nếu nông dân sử dụng mô hình này sẽ thu được nhiều lợi nhuận trong việc canh
tác và chuyển đổi cơ cấu làm ăn, vỡ nú quay vòng vốn rất nhanh.Họ sẽ không
chế sâu hại và duy trì độ màu mỡ của đất. Những năm gần đây, tỉnh Ðồng Thỏp
đó xây dựng nhiều mô hình sản xuất hiệu quả kinh tế cao như lúa - sen, lúa - bắp,
12
bắp lai 2-3 vụ, lúa củ ấu thu lãi hàng chục triệu đồng; cây cảnh, nuôi cá tra thu
lãi hàng trăm triệu đồng.
Ở những vùng ven biển, nơi phân bố diện tích lớn rừng ngập mặn giàu
tiềm năng và có ý nghĩa nhiều mặt đối với cuộc sống con người thì nhiều năm
nay đã xảy ra sự tranh chấp quyết liệt giữa con tôm và cây rừng. Nhiều cánh
rừng ngập mặn đã bị tàn phá để thay thế bằng những đầm nuôi hải sản. Tuy
nhiên, những rủi ro trong nuôi trồng hải sản, sự xâm nhập mặn, sự xói lở bờ biển
đã thức tỉnh nhiều hộ nông dân, buộc họ phải thay đổi phương pháp nuôi trồng.
Những mô hình nuôi tôm bán thâm canh, nuôi tôm sinh thái với tỷ lệ 65-75%
diện tích RNM và 20-25% diện tích nuôi trồng hải sản đang được nhiều nơi áp
dụng. Tuy năng suất hải sản không cao, nhưng ít rủi ro và bền vững đem lại thu
nhập và duy trì được hệ sinh thái RNM vốn rất nhạy cảm.
Canh tác cá – lúa trong sản xuất đa canh ở nước ta
Việc đánh bắt cá trong ruộng lúa sau vụ thu hoạch có lẽ đã gắn liền với
nông nghiệp nước ta ngay từ những buổi đầu. Diện tích tiềm năng canh tác cá –
lúa của cả nước là 548.050ha. Diện tích đang nuôi cá - lúa ước tính khoảng hơn
27.000 ha. Nuôi cá lúa tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng và ven sông
MờKụng. Ngoài ra, ở các vùng núi phía Bắc, duyên hải miền Trung cũng có nuôi
cá – lúa ở quy mô nhỏ và vừa.
Nhìn chung, các mô hình đã tập trung vào việc sử dụng và bảo vệ các
nguồn tài nguyên tái tạo gắn liền cuộc sống đem lại sự tăng trưởng về kinh tế, cải
thiện đáng kể đời sống của người dân và tạo dựng những cảnh quan sinh thái đẹp
và hấp dẫn.
Phát trển mụ hình VAC trong sản xuất đa canh tỉnh Vĩnh Long
Để góp phần thực hiện chủ trương phát triển Nông nghiệp của tỉnh Vĩnh
Long theo hướng nâng cao chất lượng hàng hóa, thời gian qua, Hội làm vườn
13
2.2.3 Các chính sách của nhà nước
- Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
- Nghị quyết 28/2011/NQ-HĐND tỉnh Nghệ An. Nghị quyết về, một số
chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh
Nghệ An giai đoạn 2012 – 2015
- Quyết định 09/2012/QĐ-UBND tỉnh Nghệ An. Quyết Định về việc ban
hành quy định một số chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn
trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2012 – 2015.
2.2.4 Hệ thống các công trình nghiên cứu có liên quan
Theo Đặng Kiều Ngân, Nguyễn Duy Cần và Nguyễn Văn Sách (1992) hệ
thống canh tác lúa - thủy sản càng trở nên quan trọng hơn và được nông dân chú
ý ở một số vùng trồng lúa tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, hệ thống này góp
phần vào việc quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên nông nghiệp có hiệu quả, gia
tăng hiệu quả đầu tư và lợi tức sản xuất. Hình thức canh tác này là cách tận dụng
lao động nhàn rỗi của hộ gia đình, tối ưu hóa sử dụng đất đai và góp phần gia
tăng nguồn thu nhập cho gia đình.
Theo Cao Liêm, Vũ Thị Bình và Quyền Đình Hà (1993), hệ thống cây
trồng phổ biến nhất ở vùng trũng, sản xuất ở vùng này có giá trị và lãi thấp nhất,
hiệu quả kinh tế thấp cần phải cải tạo đất để đưa lên hai vụ lúa thay bằng hệ
thống lỳa - cỏ hoặc một vụ lúa xuân - một vụ lỳa chột
Vùng đất trũng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và đưa ra mô hình
lúa – cá, mô hình này đã được áp dụng và triển khai ở nhiều nơi cho hiệu quả
kinh tế cao.
15
Nghiên cứu một số mô hình các – lúa ở tỉnh Nghệ An, Sở Nông Nghiệp và
PTNT Nghệ An đã xây dựng mô hình và đẩy mạnh phát triển phong trào nuôi
cá - lúa vụ 3 nhằm khai thác hết tiềm năng diện tích mặt nước có thể canh
tác, đồng thời nâng cao năng suất, sản lượng trên đơn vị diện tích thả nuôi.
Theo Vừ Tũng Xuõn, Vũ Văn Liết, Phạm Chí Thành, Nguyễn Xuân
Tiến(1995) vấn đề chính của sản xuất nông nghiệp ở vùng đất trũng Đồng Bằng
Phía Đông giỏp xó Diễn Hải, xã Diễn Hùng
Phía Nam giỏp xã Diễn Vạn
Phía Tây giáp xã Diễn Yên, xã Diễn Phong
3.1.1.2 Địa hình
Địa hình toàn xã tương đối bằng phẳng, cao độ của xã ở mức trung bình so
với cao độ của cỏc xó khỏc trong huyện.Đặc điểm này thuận tiện cho việc đi lại
và xây dựng các công trình của địa phương. Đất đai trên địa bàn xã chủ yếu là
đất phù sa trung tính ít chua, hàm lượng dinh dưỡng không cao, thành phần cơ
giới chủ yếu là thịt nhẹ và đất cát pha, thích hợp cho canh tác lúa nước và trồng
các loại rau màu như: Lạc, lỳa, ngụ, khoai, rau, đậu …
3.1.2 Điều kiện khí hậu, thời tiết và thủy văn
3.1.2.1 Khí hậu, thời tiết
• Cỏc mùa trong năm
Mùa nóng: Mùa này tiết trời nóng nực, nhiệt độ trung bình là 30
0
C có khi lên
tới 40
0
C. Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10 dương lịch. Gió Lào xuất hiện trong
mùa này. Gió Lào tức là gió mùa Tây Nam xuất phát từ vịnh Băng Gan vốn
mang nhiều độ ẩm nhưng phải qua một chặng đường dài trên các lục địa Miến
điện, Thái lan, Lào vào mùa hạ nên hơi ẩm mất dần, lại bị dãy Trường Sản chi
phối, nên khi tràn vào Nghệ an thỡ giú trở nên nóng và khô dưới ánh nắng gay
17
gắt của những ngày hố, cú dợt kéo dài hàng tháng làm cát bụi bay mù, đồng điền
nứt nẻ, cây cối hoa màu bị khô héo, Dù là vùng ven biển, nhưng Diễn Mỹ vẫn
không thoát khỏi ảnh hưởng của gió Lào. Mùa mưa bão thường bắt đầu từ tháng
5 đến tháng 9 dương lịch. Mỗi năm bão đổ bộ lên đất liền vào khu vực Diễn Mỹ
ít nhất cũng từ 1 đến 2 cơn, năm nhiều nhất là 4 đến 5, 6 cơn trong số hơn 10 cơn
bão xuất hiện tại biển đông. Sức gió của các cơn bão thường có cường độ lớn từ
hoạt. Trong những năm tới khi sản xuất và đời sống của người dân ngày càng
phát triển, nhu cầu nước càng lớn. Vì thế xã cần có biện pháp khai tốt nguồn
nước mặt và nước ngầm để xây dựng hệ thống nước nước ổn định cho người
dân.
19
3.1.3. Đặc điểm đất đai và tình hình sử dụng đất
Diễn giải
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Tốc độ phát triển
DT (ha) CC (%) DT (ha) CC (%) DT (ha) CC (%) 10/09 11/10 BQ
I. Tổng diện tích đất tự nhiên
484.45 100 484.45 100 484.45 100 100 100 100
1. Đất nông nghiệp
356.40 73.57 355.02 73.28 354.05 73.08 99.61 99.73 99.67
1.1. Đất sản xuất nông nghiệp
327.1 91.78 325.72 91.75 323.80 91.46 99.58 99.41 99.49
- Đất trồng cây hàng năm
327.1 100.00 325.72 100.00 323.80 100.00 99.58 99.41 99.49
+ Đất trồng lúa
238.28 72.85 234.11 71.87 233.05 71.97 98.25 99.55 98.90
+ Đất trồng cây hàng năm khác
88.82 27.15 91.61 28.13 90.75 28.03 103.14 99.06 101.10
- Đất trồng cây lâu năm
- - - - - - - - 0.00
1.2. Đất nuôi trồng thủy sản
29.30 8.22 29.30 8.25 30.25 8.54 100.00 103.24 101.62
2. Đất phi nông nghiệp
128.05 26.43 129.43 26.72 130.40 26.92 101.08 100.75 100.91
2.1. Đất ở
28.47 22.23 30.37 23.46 31.01 23.78 106.67 102.11 104.39
2.2. Đất chuyên dùng
tích đất nông nghiệp là 356,40 ha đến năm 2011 là 354,05ha.
Qua thực tế cho thấy quỹ đất sản xuất nông nghiệp của xã được sử dụng hợp lý.
Đất nông nghiệp ngoài trồng lỳa cũn trồng các loại cây hàng năm khác như
khoai, ngô, lạc…cho hiệu quả kinh tế cao. Với một số diện tích đất trồng lúa ở
vùng trũng cho hiệu quả thấp, năng suất bấp bênh xó đó vận động bà con dồn
điền đổi thửa chuyển sang nuôi trồng thủy sản kết hợp lúa và trồng cây ăn quả
ngắn ngày trên bờ cho hiệu quả kinh tế cao. Vì thế, diện tích đất nuôi trồng thủy
sản đang tăng dần qua 3 năm.
21
3.1.4. Dân số - Lao động
Trong sản xuất lao động là yếu tố tất yếu và quan trọng ảnh hưởng đến
quá trình phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đặc biệt ở những nước đang phát
triển như Việt Nam hiện nay. Sử dụng đầy đủ, hiệu quả và hợp lý nguồn lao
động của xã là điều kiện để phát huy lợi thế sẵn có của Diễn Mỹ.
Diễn Mỹ là xó cú dân số ở mức trung bình so với toàn huyện Diễn Châu,
tính đến tháng 12/2011 toàn xó cú 1626 hộ gia đình với 6290 nhân khẩu. Nhìn
chung tình hình dân số và lao động trên địa bàn xã không có biến động gì lớn
qua 2 năm 2009 và năm 2010, nhưng đến năm 2011 số hộ trên địa bàn xã tăng
nhanh chủ yếu là do các cặp vợ chồng trẻ tách ra sống độc lập. Xét về cơ cấu
ngành nghề thì hộ nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao với hơn 70% số hộ trên
địa bàn xó, cỏc hộ CN –XD, dịch vụ và hộ khác chiếm tỷ trọng còn thấp. Vì vậy
trong tổng số 3454 lao động trên địa bàn xã vào năm 2011 thì lao động nông
nghiệp là 2566 lao động chiếm hơn 74% và lao động phi nông nghiệp là 888 lao
động chiếm hơn 25%.
Qua một số chỉ tiêu bình quân ở bảng 3.2 ta thấy: bình quân nhân khẩu/hộ
của xã Diễn Mỹ tương đối thấp chỉ 3-4 người trong một hộ gia đình. Bình quân
lao động trong một hộ gia đình trên địa bàn xã là 2 lao động và có xu hướng
giảm dần.
22
Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của xã Diễn Mỹ qua 3 năm (2009 – 2011)
3.2.2. Điều tra thu thập số liệu
• Số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp là số liệu thu thập từ những nguồn có sẵn.
Thông tin Nguồn thu thập
Thông tin chung về tình hình sản xuất đa
canh
Các chính sách, quyết định, sách báo, tạp
chí, internet…
Các thông tin, số liệu về tình hình đất đai,
kinh tế xã hội, kết quả sản xuất đa canh
của xã
Ban thống xã, các phòng ban có liên quan
trong xã, các nghiên cứu khác.
Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài Các bài luận văn, luận án, tạp chí,… đã
được xuất bản hay công bố trên internet.
• Số liệu sơ cấp
Điều tra, phỏng vấn, thu thập số liệu tại điểm nghiên cứu sau:
+ Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA – Rapid Rural Appraisai):
Phương pháp nhằm giúp người dân địa phương chia sẻ và bày tỏ những mong
muốn, nguyện vọng trong quá trình thực hiện các hoạt động. Từ đó biết cách
phân tích các điều kiện và lập kế hoạch phù hợp.
+ Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn là kỹ thuật thu thập thông tin liên quan
đến việc hỏi đối tượng được phỏng vấn. Phỏng vấn sử dụng bộ câu hỏi là một kỹ
thuật thu thập thông tin thuộc nghiên cứu định lượng, thường được dùng trong
các nghiên cứu ở cộng đồng.
24
- Phỏng vấn hộ sản xuất đa canh: Sử dụng bộ câu hỏi trong phiếu điều tra để
phỏng vấn và ghi chép câu trả lời.
- Phỏng vấn cán bộ xã, đặc biệt là cán bộ khuyến nông
3.2.3. Tổng hợp và xử lý số liệu